jeudi 28 février 2013

Về bài viết « Những bài học về cuộc chiến Việt-Trung 1979 » của tác giả Nguyễn Hưng Quốc

http://www.voatiengviet.com/content/nhung-bai-hoc-ve-cuoc-chien-viet-trung/1611358.html

Bài viết này có một số điểm cần được thảo luận thêm như sau :

1/ Tác giả cho rằng cuộc xung đột vũ trang giữa hai nước Việt-Trung năm 1979 « là một trong hai cuộc chiến tranh đầu tiên giữa hai quốc gia xã hội chủ nghĩa (cuộc chiến kia là giữa Việt Nam và Campuchia năm 1978) » và « là một trong những cuộc chiến tranh ngắn ngủi nhất trên thế giới »...

Danh từ « cuộc chiến tranh » không nói rõ nghĩa. « Cuộc chiến tranh » có thể hiểu là « một cuộc chiến – une bataille » hoặc « sự chiến tranh – la guerre » mà hai sự việc này rất khác biệt. Xung đột vũ trang Việt-Trung đầu năm 1979 hai bên không có bên nào tuyên bố « chiến tranh », nhưng khó để mà nói đó không phải là một « cuộc chiến tranh – une guerre », vì mức độ rộng lớn của trận địa cũng như ảnh hưởng quốc tế về địa chiến lược của cuộc chiến.

Nói đây là cuộc chiến « đầu tiên » giữa hai nước XHCN là không đúng. Trước đó hai bên Liên Xô và Trung Quốc, năm 1969, hai nước XHCN, đã xảy ra xung đột vũ trang do tranh chấp biên giới. Xung đột kéo dài 5 tháng, suýt đưa tới chiến tranh nguyên tử.

Đây cũng không phải là cuộc chiến ngắn nhất, vì còn có những cuộc chiến ngắn hơn : Chiến tranh giữa Do Thái và các nước Ả Rập chung quanh, bắt đầu ngày 5 chấm dứt ngày 10-6-1967, vỏn vẹn có 6 ngày.

2/ Tác giả cho rằng trong cuộc chiến này « Việt Nam hoàn toàn bị bất ngờ »,  « không chuẩn bị trước ». Tác giả dẫn tài liệu từ cuốn « Bên thắng cuộc » của Huy Đức để viết : « những người được phỏng vấn về cuộc tấn công ấy cũng đều cho là Việt Nam hoàn toàn không chuẩn bị trước »... 

Vậy thì lý giải làm sao, chỉ ở mặt trận Lạng Sơn, phía VN đã đào sẵn hơn 60 cây số chiến hào phòng thủ cùng với khoảng 2.000 cứ điểm chiến đấu ? Nếu không « chuẩn bị trước », các cơ sở phòng thủ đó để làm gì ? chống ai, đề phòng ai ?

Diễn biến cuộc chiến, tài liệu từ hai phía, cho thấy khi quân TQ vượt qua biên giới là tức khắc bị sa lầy, mặc dầu với quân số đông hơn gấp 5 lần (với chín quân đoàn chủ lực cùng, cùng nhiều sư đoàn thiết giáp, tổng cộng khoảng 300.000 quân, chưa tính dân công), cùng trên 500 xe tăng và hàng ngàn khẩu pháo yểm trợ. Việc này chỉ có thể giải thích là phía VN đã được chuẩn bị chu đáo, gài quân sẵn để « tiếp đón » đoàn quân của TQ. Nói VN « gài bẫy » sẵn để TQ đút đầu vào thì cũng không quá đáng.

Câu hỏi đặt ra là các chiến hào phòng thủ cùng các cứ điểm chiến đấu này đã được VN xây từ lúc nào ? 
Theo tuyên bố của Đặng Tiểu Bình ngày 16-3-1979 :

« ngay lúc chúng ta tăng cưòng viện trợ cho chúng, có công sự đã xây bẩy năm, có cái đã được ba năm, chỗ nào cũng thấy công sự, tích trữ rất nhiều vật tư, rất nhiều vật tư là do chúng ta viện trợ, gạo, đạn, vũ khí, lần này lấy về một loạt, Việt Nam cậy có hiệp ước Xô Việt mới dám như thế. »

Điều này cho thấy phía VN đã chuẩn bị chiến tranh với TQ ngay từ lúc TQ còn viện trợ cho VN, trước cuộc chiến 1979 từ 3 đến 7 năm.

Về các chi tiết về lãnh đạo CSVN (Phạm Văn Đồng, Văn Tiến Dũng) lúc đó đều ở bên Kampuchia, theo các dữ kiện dẫn từ « Bên thắng cuộc » của Huy Đức. Các dữ kiện  này cũng không chứng minh được yếu tố « bất ngờ » của cuộc chiến. Vai trò của VTD và PVD trong bộ Chính trị lúc đó ra sao ? hai ông này theo « phe » nào ? Không thấy ai đặt ra. Các dữ liệu mới đây cho thấy VTD thuộc phe thân TQ. Dĩ nhiên, việc phòng vệ biên giới Việt-Trung sẽ không thể để VTD kiểm soát rồi ! Điều này lại cho thấy lãnh đạo CSVN lúc đó (thân LX) đã có những tính toán sâu xa về cuộc chiến. Do đó quyết định « đày » VTD sang Kampuchia.

Tác giả viết :

« Cuộc tấn công của Trung Quốc năm 1979 cho thấy một yếu kém nghiêm trọng khác của Việt Nam: tình báo... Từ giữa năm 1978, giới lãnh đạo Trung Quốc đã bắt đầu bàn luận về kế hoạch tấn công Việt Nam: Họ hoàn toàn không biết. Từ cuối năm 1978, Trung Quốc bắt đầu lên kế hoạch tấn công: Họ cũng không biết. Cũng từ cuối năm 1978 và đầu năm 1979, Trung Quốc liên tục đàm phán với Mỹ, Nhật và một số nước Đông Nam Á, như Thái Lan và Malaysia, về việc tấn công Việt Nam: Họ cũng không biết. Tệ nhất là sự kiện: để điều động trên 300.000 quân với vũ khí và lương thực đến biên giới, Trung Quốc cần ít nhất là ba tháng, với cả hàng trăm ngàn dân công: Họ cũng không biết. »

Điều này cũng không đúng.

Tháng 8 năm 1978 TQ bắt đầu tập trung quân tại biên giới, việc này các vệ tinh và máy nay dọ thám của HK chụp hình được. Nếu HK làm được không lẽ Liên Xô không làm được ? Vài tuần trước khi chiến sự xảy ra, phía VN đã tố cáo trước Hội đồng Bảo an LHQ phía Trung Quốc tập trung quân tại biên giới.

Nếu « tình báo » không « biết trước » thì làm sao có việc VN tố cáo TQ trước LHQ ?

Như thế VN (và LX) chuẩn bị chiến tranh với TQ là có thật (và từ khá lâu). Câu hỏi đặt ra (chưa có câu trả lời) là VN và LX chuẩn bị chiến tranh với TQ là nhằm vào mục đích gì ?

Tác giả viết :

« Việt Nam bị hớ trong việc phòng thủ biên giới. Họ lại hớ lần nữa trong việc phòng thủ Hà Nội, nơi Trung Quốc không hề có ý định tấn công. Cả hai lần hớ ấy đều xuất phát từ một nguyên nhân: Thiếu tin tức. »

Điều này lại càng không đúng. Bởi vì VN đã chuẩn bị cho tình trạng tệ nhứt, là mất Hà Nội. Bộ đầu não của VN đã bí mật chuyển về Nha Trang trước đó khá lâu. Tại sao Nha Trang ? vì Nha Trang ở kế Cam Ranh, quân cảng dành cho hải quân LX sử dụng. Nha Trang, lúc đó là nơi được phòng thủ chu đáo nhứt VN về cả ba mặt : trên không, trên bộ và mặt biển.

Nếu « tình báo » không tinh nhạy, VN không chuẩn bị, thì làm sao có quyết định « dời đô » vào Nha Trang ?
Sau khi mất Lạng Sơn, VN đã bày trận địa sông Thương (xưa gọi là sông Như Nguyệt) để cản bước tiến của quân TQ. Đó là vùng có địa danh Ải Chi Lăng (mà mỗi lần nhắc lại quân TQ dựng tóc gáy). Dĩ nhiên bày trận địa này là để không cho quân TQ tiến sâu xuống phía nam (luôn tiện phòng thủ Hà Nội) chứ việc phòng thủ Hà Nội không phải là mục tiêu chính (vì thủ đô đã dời về Nha Trang).

3/ Trong bài tác giả cũng có viết « vũ khí VN tối tân hơn » nhờ vũ khí « tịch thu ở miên Nam ».

Ở điểm này có nhiều điều cần xem xét lại. Vũ khí « tịch thu từ miền nam » được đưa lên biên giới để phòng thủ là vũ khí nào và từ bao giờ ?

Nếu chi tiết này có thật, thì tác giả đã mâu thuẫn. Chi tiết này chứng minh phía VN chuẩn bị đầy đủ cho cuộc chiến. Vì có chuẩn bị nên mới đưa vũ khí tối tân lên biên giới (để tiếp đón quân TQ). Nếu không, đưa vũ khí « tối tân » lên đây làm chi trong khi đang có những trận đánh lớn ở Kampuchia ?

Nhưng điều này nhiều phần là sai. Trong cuộc chiến 54-75, vũ khí của HK sử dụng tại VN cho thấy không hữu hiệu bằng vũ khí của phía LX cung cấp cho CSVN. Vũ khí của HK, M16, M72, hỏa tiễn TOW, tăng M48… không có loại nào thích hợp cho chiến tranh du kích hay đánh cận chiến. Nếu so sánh hai vũ khí tương đương chống chiến xa, M72 và B41. M72 bắn một phát là bỏ trong khi B41 (và B40) chỉ là một ống phóng xài vĩnh viễn với những trái đạn khá nhẹ và gọn, nạp nhanh chóng. B40 và B41 còn dùng để tấn công đồn bót, phá cầu, phá xe cộ... Trong khi các loại súng cá nhân như AK 47 thì tiện dụng hơn M16. Nói chung, vũ khí miền bắc rất phù hợp cho các cuộc cận chiến và du kích chiến.

Vì thế, cho rằng CSVN đưa vũ khí tịch thu được của VNCH đưa lên biên giới phía bắc là không thuyết phục. Mà nếu có, các vũ khí này cũng không hữu dụng hơn các vũ khí mà phía CSVN có lúc đó.

4/ Tác giả chỉ ra 4 lý do và 3 mục tiêu TQ đánh VN. Mục tiêu thứ 3 :

« để Việt Nam - và từ đó, các nước khác - hiểu là không thể tin cậy vào sự liên minh với Liên Xô, từ đó, có thể cắt đứt mối liên minh ấy để quay về với Trung Quốc ».

Ý kiến này xem chừng gượng ép.

Vì muốn chứng minh LX là đồng minh không đáng tin cậy, đáng lẽ TQ phải đánh sâu vào VN (hay ít ra ở lâu tại VN) để thách thức hay « thử lửa » thái độ của LX ra sao. Việc TQ rút quân vội vã là yếu tố chứng minh TQ lo ngại LX sẽ can thiệp.

Theo các tài liệu đã công bố, trước khi đánh VN, Đặng Tiểu Bình có thông báo trước cho HK :

« Khi thăm Mỹ tôi nói cho Việt Nam bài học, nước Mỹ không tán thành. Chúng ta sử dụng hành động tương đối lớn sợ dẫn tới phản ứng lớn của Liên Xô, nước Mỹ một mặt phản đối chúng ta trừng phạt, nhưng mặt khác cũng thông báo cho chúng ta chút tình báo, nói quân đội Liên Xô về căn bản không động đậy, trên mấy ngàn cấy số biên giới( Trung Xô) chỉ có 54 sư đoàn không đầy đủ quân số »

Thái độ của HK, nói là không ủng hộ, nhưng lại cung cấp tin tức tình báo cho TQ. Vì vậy TQ mới biết LX không chuẩn bị cho việc phản công, nếu TQ đánh VN. Do điều này mà Đặng Tiểu Bình quả quyết đánh. Thái độ « chia sẻ tin tức tình báo » của HK cho thấy là nước này đã đồng thuận ngầm.

Về phía LX, có thể Kremlin không chuẩn bị để đánh TQ khi nước này đánh VN, hoặc đánh giá thấp lực lượng của quân TQ (hay đó là âm mưu của LX và VN). Nhưng khi chiến sự bắt đầu, thái độ của LX cho thấy nước này có thể làm nhiều việc ngoài dự liệu của TQ để cứu VN, nếu thấy VN thất thế. (Khi chiến sự bắt đầu, ngoài các phản đối ngoại giao, LX giúp cho VN các việc : dùng máy bay chuyển quân từ chiến trường Kampuchia lên biên giới, giúp thêm vũ khí, cho tàu chiến tiến vào vùng biển VN…)

Trong khi, một mục tiêu khác của TQ, khi đánh VN, là muốn VN rút quân ra khỏi Kampuchi. Nếu không sợ LX can thiệp, TQ có thể ở lại những vùng đất đã chiếm của VN lâu hơn, buộc VN phải rút quân toàn bộ ra khỏi Kampuchia rồi mới trả đất, như là điều kiện trao đổi.

Các tài liệu bạch hóa cho thấy TQ đã đánh giá sai, không những về thực lực và khả năng chiến đấu của quân VN (khoảng 50.000 quân và dân phòng), mà còn tính toán sai về khả năng chiến đấu của quân Khmer đỏ. VN đã áp dụng một chiến lược thuộc hạng « bậc thầy » của thế giới để đánh tan quân Khmer đỏ trong vòng vài ngày, trước khi TQ kịp trở tay.

5/ Về thời điểm mở cuộc chiến, tác giả viết :

« chọn thời điểm mở đầu cuộc tấn công vào giữa tháng Hai để, một mặt, tránh được mùa mưa (thường bắt đầu vào tháng Tư) và, mặt khác, đã qua hết mùa đông - băng trên các dòng sông dọc biên giới Trung Quốc và Liên Xô đã tan chảy hết »

Điều này cũng không đúng. Tháng hai, trên vùng biên giới LX-TQ vẫn còn là mùa đông. Tháng hai, trong vùng phía nam đường vĩ tuyến 23° 30’ bắc (tropique du cancer), ở vào mùa khô, biển yên cho đến tháng 4, tháng 5. Phía bắc đường này, tháng hai, vẫn là mùa đông.

6/ Về mục tiêu của Đặng Tiểu Bình : 

Dĩ nhiên họ Đặng đã thất bại vì đã không làm được VN rút khỏi Kampuchia, và quân TQ cũng không dám ở lại trên đất VN lâu hơn vì sợ phản ứng của LX. Nhưng đó là những thất bại chiến thuật.

Cuộc chiến Việt-Trung 1979 đã đem lại một chiến thắng vẻ vang cho TQ mà đến nay mới nhìn thấy được. Sẽ không ngoa khi cho rằng họ Đặng là một nhà chiến lược đại tài, đồng thời là một « kiến trúc sư » lỗi lạc của TQ thời hiện đại, vượt xa Mao, Tưởng, kể cả Tôn Dật Tiên.

Từ năm 1978, Quân ủy trung ương đã có những cuộc họp để tìm lý do và mức độ  « trừng phạt VN ». Ý kiến chủ đạo ở Quân ủy TW lúc đó là đánh VN ở mức « trung đoàn », ở một địa điểm trên vùng biên giới. Tức chỉ đánh « nhỏ », mang tính cảnh cáo.

Nhưng theo cái nhìn của họ Đặng, có hai mục tiêu phải đạt tới : mục tiêu chiến lược cho TQ và mục tiêu cá nhân của họ Đặng.

Mục tiếu chiến lược : Đánh một trận nhỏ (như ý kiến đa số trong Quân ủy) không đủ để chứng minh rằng TQ đã dứt khoát với VN và LX, để có thể thuyết phục HK (và khối tư bản) giúp cho TQ hiện đại hóa.
Mục tiêu cá nhân : Đánh trận nhỏ không đủ cho giới lãnh đạo TQ thấy những cần thiết cấp bách do sự lạc hậu của TQ về quốc phòng (và kinh tế). Chỉ khi lãnh đạo CSTQ chấp nhận hiện đại hóa TQ, thì chỉ có họ Đặng mới có tư cách nắm lá cờ lãnh đạo.

Ta thấy, về hai mặt, họ Đặng đã thành công.

7/ Về hậu quả cho VN : 
Đáng lẽ cuộc chiến Việt-Trung 1979 (cũng như cuộc chiến Kampuchia 1978) VN có thể tránh được. Câu hỏi đặt ra, VN gây hai cuộc chiến này  để làm gì ? Có được lợi lộc gì ?

Tổn thất cho hai cuộc chiến là hàng trăm ngàn thanh niên VN uổng mạng. Hàng trăm ngàn gia đình ở các tỉnh vùng biên giới lâm vào cảnh tang thương, mất mát to lớn. Cuộc chiến TQ mở ra là để trừng phạt, do đó không bắt tù binh (tức giết hết) và phá hoại tất cả những gì của VN, từ nhà cửa, xí nghiệp... cho tới hạ tầng cơ sở. Sau hơn 3 thập niên, kinh tế  VN vẫn chưa gượng dậy được, mặc dầu có các nguồn tài nguyên hỗ trợ lớn là dầu khí, nhân lực xuất khẩu cũng như nguồn kiều hối.

Máu xương VN đổ xuống nhưng hiện nay Kampuchia đã đi vào quĩ đạo của TQ.

Tiêu hao chừng đó, VN không có được một ích lợi nào. Sẽ không ngạc nhiên khi lãnh đạo CSVN hiện nay cố gắng che dấu những sự thật về cuộc chiến 1979, không cho tổ chức tưởng niệm các chiến sĩ cũng như những nạn nhân đã hy sinh cho cuộc chiến. Vì nhắc lại, sự thật phơi bày, mọi người sẽ thấy được đảng đoàn CSVN chỉ là một tập đoàn ngu xuẩn, đem máu xương, vật chất, của cải của đất nước VN đi chuốc lấy thù oán với một láng giềng lớn, mà từ ngàn năm nay các triều vua VN phải nhịn nhục « triều cống » họ để được sống yên thân.

Đó là cái ngu xuẩn lớn nhứt của thời đại.

Đó là « lịch sử ». Lịch sử không chỉ soi rọi lại quá khứ mà còn định hướng cho tương lai.

lundi 25 février 2013

Nhật, Việt, Phi, Chệt và chó



Có nhà hàng ở bên Tàu treo bảng : ở đây không tiếp người Nhật, người Phi, người Việt và… chó.

Tấm bảng đã lấy xuống vậy mình cũng... lấy xuống.


dimanche 24 février 2013

Trưng cầu dân ý


« Trưng cầu dân ý » ở Việt Nam đã là một thủ thuật chính trị. Có vài thí dụ :

Thứ nhứt, sau hiệp định Genève 1954, VN chia hai đất nước. Tháng 3 năm 1958 phía CS miền Bắc lên tiếng, qua đài phát thanh Bắc Kinh, yêu cầu thực thi việc « thống nhứt đất nước » qua một cuộc trưng cầu dân ý. Cùng lúc ở Triều Tiên, Đức, vấn đề « thống nhứt đất nước » cũng được đặt ra. Phía Tây Đức và Nam Hàn cũng lên tiếng đề nghị « thống nhứt đất nước » bằng một cuộc đầu phiếu tự do.

Khối cộng sản bác bỏ các đề nghị này ở Nam Hàn và Tây Đức nhưng ủng hộ đề nghị này ở Việt Nam.
Cuối cùng không có nước nào thực hiện việc « thống nhứt đất nước » theo đường lối trưng cầu dân ý.
Bởi vì, khi VN chia hai đất nước, dân số miền Bắc là 13 triệu, miền Nam là 11 triệu. Chính quyền ông Diệm từ chối vì thấy chắc thua (mặt khác chính quyền này không chỉ không ký mà còn phản đối hiệp định Genève, do đó không bị nội dung hiệp định này ràng buộc). Còn ở Đông Đức và Bắc Hàn, dân số phía CS kiểm soát ít hơn, do đó họ phản đối.

Thứ hai, vấn đề « trưng cầu dân ý » đáng lẽ cũng phải đặt ra ở miền Bắc, sau 1954. Đó là việc áp dụng chế độ cộng sản vào xã hội miền Bắc. Việc « trưng cầu dân ý » lý ra phải được tổ chức để người dân có đồng ý về chế độ này hay không ?

Thứ ba, cuộc trưng cầu dân ý ngày 23-10-1955 tại miền nam VN. Nền Cộng hòa (đệ nhứt) được người dân lựa chọn. Nền quân chủ thiết lập hàng ngàn năm ở VN đã chấm dứt. Có nhiều tài liệu cho thấy cuộc « trưng cần dân ý » này là thủ thuật của Hoa Kỳ nhằm hất chân Pháp ra khỏi VN.

Có người cho rằng cuộc « trưng cầu dân ý »  này đã không đem lại cho VN một nền dân chủ như mơ ước. Đây là một nhận định sai lầm vì chế độ đệ nhứt Cộng hòa do ông Diệm làm Tổng thống không phải là một chế độ « dân chủ » (và Mỹ cũng không lật đổ ông Bảo Đại để xây dựng chế độ dân chủ cho VN !). Hiến pháp nền đệ nhứt Cộng hòa có âm hưởng « đa nguyên » trong chừng mực (tức người dân có các quyền tự do cơ bản như lập hội, tự do ngôn luận...), nhưng không có điều nào qui định về các chính đảng. Các đảng phái ở VN như Việt Nam Quốc dân đảng, Đại Việt, Tân Đại Việt v.v… đã không được chính thức hoạt động mà phải hoạt động trong bóng tối. Tức là, chế độ Cộng hòa của ông Diệm là một chế độ « độc đảng ». Chính vì việc cấm đoán các dảng phái khác sinh hoạt chính trị, ông Diệm cùng nền Đệ nhứt Cộng hòa đã chấm dứt trong máu và sự uẩn ức.

Nền Đệ nhị Cộng hòa được thiết lập sau đó với một bản hiến pháp dân chủ. Nhiều đảng phái, các « khối chính trị » cũng như các tổ chức ngoại vi tôn giáo được thành lập nhằm tham chánh. Các định chế văn hóa, chính trị như các học viện, Tối cao Pháp viện, hệ thống tòa án… độc lập với hành pháp được thiết lập. Sinh hoạt nghị trường thời VNCH đệ nhị, với phe thân chính quyền và các phe đối lập, nếu so sánh tình hình các nước chung quanh, cho thấy ở miền Nam các yếu tố nền tảng của một chế độ dân chủ thực sự đã được xây dựng.

Tuy nhiên, cũng như bất kỳ một nền dân chủ nào, cho dầu tiên tiến nhứt trên thế giới, đều có khuyết điểm. Mà vai trò của các nhà chính trị là tìm cách chế ngự các khuyết điểm đó, sao cho nền dân chủ ngày càng hoàn thiện hơn. Ta thấy, nền dân chủ ở Mỹ hiện có nhiều khuyết điểm đem lại từ các điều trong hiến pháp đã không còn hợp thời (như quyền mua súng là một trong các quyền cơ bản). Điều này cho thấy một chế độ chính trị, hoặc là dân chủ (với những khiếm khuyết nội tại), hoặc là không có dân chủ (độc tài). Không hiện hữu một chế độ dân chủ trung gian nào khác. Trong thời chiến, CSVN đã lợi dụng các khe hở của VNCH để thủ tiêu chế độ này đồng thời với nền dân chủ (đầu tiên và duy nhứt của Việt Nam), với sự góp tay của các « trí thức » phản chiến.

Trong thời đệ nhị Cộng hòa không có cuộc trưng cầu dân ý nào được tổ chức.

Câu hỏi đặt ra cho Việt Nam hôm nay, vấn đề « trưng cần dân ý » có cần thiết hay không ?

Như đã thấy, các cuộc « trưng cầu dân ý » ở VN hầu hết đều là « thủ thuật chính trị ». Nếu nó được tổ chức, như để « toàn dân phúc quyết hiến pháp », cũng sẽ là một thủ thuật chính trị.

Một điều ghi nhận qua « mùa xuân Ả Rập » đã xảy ra gần đây, ta thấy các nước độc tài trên thế giới, trước khi sụp đổ, thường hay diễn trò « trưng cầu dân ý ». Kết quả các cuộc trưng cầu này, các nhà lãnh đạo đều « thắng lớn ». Nhưng kết quả này không thể cứu chế độ, đôi khi kể cả sinh mạng, của các nhà độc tài này.

Như vậy, « trưng cầu dân ý », cho dầu để « toàn dân phúc quyết hiến pháp », cũng là điều hay. Biết đâu đó là cửa ngõ để đảng CSVN bước qua, trước khi đi vào con đường diệt vong, như các chế độ độc tài ở các xứ Ả Rập.

Nhưng một cuộc « trưng cầu dân ý » sẽ vô cùng cần thiết, nếu nó được tổ chức hiện nay để biết ý nguyện của 90 triệu người dân VN về hai vấn đề chính :

1/ người dân VN có đồng ý tiếp tục chế độ « xã hội chủ nghĩa » hay « pháp quyền xã hội chủ nghĩa » nữa hay không ? 2/ có đồng ý đảng CSVN tiếp tục là « giai cấp tiên phong của cả dân tộc Việt Nam, là lực lượng lãnh đạo nhà nước » hay không ?

Đòi hỏi việc này xem chừng hay hơn việc góp ý sữa đổi hiến pháp.

mardi 19 février 2013

Đặng Tiểu Bình sai lầm khi đánh Việt Nam năm 1979 ?




Tiên trách kỷ, hậu trách nhân. Nếu xét lại cho kỹ, chính lãnh đạo VN sai lầm mới đưa tới việc Đặng Tiểu Bình đánh Việt Nam.

Để có một cái nhìn khách quan, thử đặt Obama (hay một lãnh đạo của nước Tây phương nào đó) vào vị trí Đặng Tiểu Bình. Đặt các vấn đề như sau :

-      VN ra chính sách tập trung người Hoa, từ nam ra bắc, tịch thu toàn bộ gia sản của những người này, sau đó bắt họ « hồi tịch » (trong đó nhiều người sinh ra và lớn lên ở VN từ nhiều đời, không biết nói tiếng Hoa), buộc họ rời khỏi VN với hai bàn tay trắng. Trên cương vị lãnh đạo TQ, Obama sẽ làm gì ?

-      Theo các tài liệu của CIA vừa bạch hóa gần đây, VN đã có hành vi lấn đất của TQ (chứ không phải ngược lại), diện tích khoảng 60 km². Nếu dữ kiện này là thật, Obama sẽ phải làm gì để bảo toàn lãnh thổ của TQ ?

-      Lãnh đạo VN từ năm 1958 đã nhìn nhận hai quần đảo HS và TS là của TQ, trước là để đền ơn các viện trợ của TQ cho cuộc chiến chống Pháp, sau là trả nợ các viện trợ cho cuộc chiến chống Mỹ. Bây giờ VN dựa vào Liên Xô, một thế lực thù nghịch khác của TQ, để chống lại TQ rồi tuyên bố ngược lại HS và TS là của VN. Thái độ của Obama sẽ ra sao ?

Chắc chắn Obama (hay ai đó) sẽ làm không khác Đặng Tiểu Bình.

Vấn đề « nạn kiều » là lý do quan trọng để họ Đặng hạ quyết tâm « dạy VN một bài học ». Hãy thử làm tương tự với một người Mỹ, xem thái độ của lãnh đạo và dân nước này ra sao ? Thế giới văn minh không ai làm theo lối « man rợ » như lãnh đạo CSVN đã làm. Điều nên biết, theo công pháp quốc tế, một quốc gia có quyền can thiệp vào nội bộ quốc gia khác để bảo vệ kiều dân của mình.

Về vấn đề lãnh thổ, Bị Vong Lục của VN công bố năm 1979 tố cáo TQ chiếm đất của VN. Các chi tiết trong đó một số không thể kiểm chứng, một vài điểm thì đúng nhưng cũng có vài điểm sai. Nhiều tài liệu (như của CIA) cho thấy phía VN chiếm đất của TQ (vì phía VN không chấp nhận công ước Pháp-Thanh về biên giới 1885-1897). Nếu việc VN lấn đất có thật, thì chính VN đã tạo ra lý do để TQ đánh VN. TQ gọi việc đánh VN là cuộc chiến tự vệ (phản công tự vệ chiến). (Thử suy nghĩ, nếu nhà nước Mể không tôn trọng hiệp ước nhượng đất đã ký với HK trước đây, cho quân qua chiếm đất của California hay Texas, Obama có « phản công tự vệ » không ?)

Về công hàm 1958 của Phạm Văn Đồng, phía VN có phản bác thế nào thì cũng không thể phủ nhận hiệu quả của nó trước dư luận quốc tế (nhứt là hiệu quả ràng buộc trước quốc tế công pháp). Đặng Tiểu Bình là nhân vật chính trong cuộc đánh chiếm HS năm 1974. TQ đánh với danh nghĩa « giải phóng lãnh thổ bị kẻ địch chiếm đóng ». TQ có thể nhân danh tương tự để đánh TS bất kỳ lúc nào mà họ thấy nắm chắc phần thắng.

Trong khi đó, cuộc chiến Việt-Kampuchia 1978 đáng lẽ cũng đã không xảy ra. Lãnh đạo CSVN đã ra tuyên bố « tôn trọng đường biên giới hiện trạng của Kampuchia » với Sihanouk để ông này cho mở đường mòn Hồ Chí Minh trên đất Miên. Mà « đường biên giới hiện trạng » theo Sihanouk (có đệ trình lên LHQ) bao gồm các đảo trong vịnh Thái Lan và biên giới theo bộ bản đồ Indochine 1/100.000 trước 1958. Theo tài liệu khác, một lãnh đạo MTGPMN cũng hứa hẹn trả đảo Phú Quốc và Thổ Chu lại cho Kampuchia để được Sihanouk cho đặt bản doanh MT trên đất Miên. Sihanouk bị Lonnol lật đổ, nhưng sau đó Kampuchia về tay Khmer đỏ. Dầu vậy lời hứa của lãnh đạo CSVN vẫn còn. VN không giữ lời, do đó Khmer đỏ mới đánh phá và giết chóc, tạo ra cuộc chiến Việt-Miên 1978.

Nguyên nhân cuộc chiến Việt-Kampuchia 1978 là do Khmer đỏ hay do lãnh đạo CSVN ?

VN can thiệp sâu vào nội bộ Kampuchia cũng là một lý do để TQ đánh VN. VN can thiệp vào Kampuchia, dưới mắt của quan sát viên thế giới, là hành vi « xâm lăng ». Điều này đi ngược lại các nguyên tắc của thế giới (theo công ước Westphalie 1648) là phải tôn trọng độc lập, chủ quyền của các quốc gia khác.

Đặng Tiểu Bình đánh VN có sai lầm hay không, vị thế của TQ hiện nay trên thế giới cũng như hình bóng của họ Đặng trong tâm khảm những người Hoa là câu trả lời.

Là người VN, dĩ nhiên ai cũng phẫn nộ trước sự bạo tàn của quân lính TQ. Để chống lại sự xâm lăng của TQ, vài hàng chục ngàn thanh niên VN đã đổ máu, chưa tính tới vài chục ngàn nạn nhân vô tội khác, là người dân sinh sống ở các tỉnh trên biên giới. Nhưng suy nghĩ sâu xa, cuộc chiến này có thể tránh được, nếu lãnh đạo CSVN đã không có những tính toán sai lầm. Chính lãnh đạo CSVN sai lầm đã tạo lý do chính đáng để họ Đặng đánh VN.

Điều tệ nhứt, những người lãnh đạo CSVN hiện nay đã thấy sai lầm này. Thay vì tìm ra những chính sách hòa giải để hàn gắn các vết thuơng quá khứ, thì họ chọn phương cách quay lưng lại với lịch sử. Họ đã lãng quên vong linh của hàng chục vạn người đã chết vì những sai lầm của họ. 

lundi 18 février 2013

Cuộc chiến 1979 đã xóa địa danh lịch sử Pắc Bó ?


Tháng 2 năm 1979 Trung Quốc xua quân đánh VN, gọi là cuộc chiến « phản công tự vệ ». Trong vòng vài ngày, quân TQ đã đánh chiếm và phá thành bình địa các tỉnh dọc biên giới như Lạng Sơn, Cao Bằng, Lào Cai… Một trong những mũi tiến công của quân đội TQ vào chiếm Cao Bằng là đạo binh thiết giáp tiến vào cửa ngỏ cột mốc 108, đi qua Pác Bó, Trường Hà để tiến vào Cao Bằng. Từ thời Pháp thuộc, khu vực này có nhiều đường mòn nối từ phía TQ qua các bản làng bên VN. Theo các dữ kiện từ phía TQ, đạo quân thiết giáp đi vào ngả mốc 108 đã gặp rất nhiều khó khăn vì các đường mòn đã bị bỏ hoang từ lâu. Việc chiếm Cao Bằng do đó chậm trễ so với dự liệu. Theo các tài liệu của TQ về cuộc chiến biên giới 1979, mục tiêu của quân TQ đánh VN là « dạy cho VN bài học ». Vì thế cuộc chiến trước hết là giết chóc và « phá hoại ».

Các di tích lịch sử của CSVN như hang Pắc Bó (gồm có bảo tàng viện Hồ Chí Minh cùng các di tích thiên nhiên như núi Các Mác, suối Lê Nin…), nằm trên đường từ cột mốc 108 đến xã Trường Hà, tức nằm trên đường tiến quân của quân đội TQ.

Hang Pắc Bó thuộc bản Bó Bẩm, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Bản Bó Bẩm, cũng như các bản (làng) Khuổi Nậm, Nà Kéo, Nà Mạ, Nậm Lìn và Nà Lẹn là các bản (làng) thuộc xã Trường Hà có giáp ranh biên giới với tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc. Trên bản đồ của Sở Địa Dư Đông Dương 1948, địa danh Pắc Bó (ghi trên bản đồ là Pac Bo) ở về phía đông bắc xã Trường Hà (ghi là Trung Ha). Khoảng cách tương đối Pắc Bó cách đều cột mốc 108 và Trường Hà, khoảng 1 hay 2 km.
Hang Pắc Bó là một địa danh lịch sử của những người cộng sản Việt Nam, từng là nơi trú ẩn của ông Hồ Chí Minh, lúc từ Quảng Tây (Trung Quốc) trở về VN lần đầu, năm 1941, sau nhiều năm bôn ba hải ngoại. Nơi đây cũng là bản doanh đầu tiên của các lãnh tụ đảng CSVN trên đất VN. Người ta gọi địa danh này là « thánh địa » của những người CSVN.

Pac bo SGI 1948

Hình : một góc bản đồ tỉnh Cao Bằng SGI 1/100.100 năm 1948. Khu vực hang Pắc Bó kế cận các cột mốc 107, 108 …

Theo nhà báo Trần Đông Đức đã viết ở đây : http://www.rfavietnam.com/node/951 , thì hang Pắc Bó cùng quần thể di tích lịch sử này đã thuộc về lãnh thổ TQ.

Thực hư việc này ra sao ?

Một số chi tiết về các cột mốc biên giới được cắm theo công ước Pháp Thanh 1885-1897, dẫn từ bài trên :

Cột mốc 108 :

Pac bo cotmoc108

Trong hình ở trên, các ghi chú đọc được : bên phải ghi « Trung Quốc Quảng Tây Giới ». Ở giữa ghi « Frontière Sino-annamite ». Bên trái, có dòng chữ khắc lên 德 業卡 (Ðức Nghiệp Kha hay Ca). Số « N° 108 » là viết thêm vào mới đây bằng sơn trắng. Đối chiếu hình chụp hai trang biên bản (tiếng Pháp và tiếng Hán) :

Pac bo bien ban chu Han

Hình : Biên bản tiếng Hán.

Pac bo bien ban chu Phap

Hình : Biên bản tiếng Pháp.

Ta thấy德 業卡 Ðức Nghiệp Kha là tên của cột mốc số 107. Như vậy số « N° 108 » mới viết có thể không đúng.

Trong khi đó hình của cột mốc « gọi là » 107 :

Pac bo cotmoc107

Thì tên cột mốc khắc trên bia (do mù mờ, có thể) là 凌 傑 山 (Lăng Kiệt Sơn). Đối chiếu với biên bản, tên này tương ứng cột mốc số 108.

Số 107 thấy trên bia, cũng như số 108 ở hình trên, có thể mới khắc vào sau này.

Vì thế có điều không rõ rệt ở hai cột mốc 107 và 108. Việc này có thể do bị chuyển dịch, dời đổi các cột mốc. Sự việc mài xóa số nguyên thủy và viết lại số mới (như trường hợp mốc 53 tại thác Bản Giốc), có thể do những người dời cột mốc viết lại cho phù hợp vị trí.

Tên và vị trí của hai cột mốc 107 và 108 được mô tả bằng tiếng Pháp như sau :

Borne n° 107, Ta-Nia, Sur le chemin de Linh-Wan (Chine) à Khen-Tac (Tonkin).

Borne n° 108, Lin-Tiao, Sur le chemin venant de Co-Ma (Chine) l’endroit où ce chemin venant du N tourne à l’O. pour suivre la frontière

Đối chiếu với văn bản tiếng Hán, tên cột mốc 107 là 德 業卡 (Ðức Nghiệp Kha hay Ca), được cắm ở vị trí « trên đường từ Linh-Wan (Trung Quốc) đến Khen-Tac (VN).

Tên cột mốc 108 là 凌 傑 山 (Lăng Kiệt Sơn), được cắm trên đường đến từ Co-Ma (TQ), tại điểm mà đường này đến từ phía bắc chuyển sang phía tây, rồi đi theo đường biên giới.

Về quần thể Pắc Bó hiện nay, theo các hình ảnh lấy trên Google Earth của các bạn Photos by 214615, Photos by Hung.TD, Photos by Vu Son… gởi lên, ta thấy rõ ràng là mới xây lại.

Pac bo tuccanhPacbo

Pac bo Suoi Lenin

Pac bo ban da Bac Ho

Bục đá bợ tấm bia, bờ suối Lê Nin, bàn đá… không còn nguyên nét thiên nhiên mà có bàn tay con người thay đổi.

Về « bàn đá của bác Hồ », có lẽ không ai dùng tảng đá giữa suối để « chông chênh viết sử đảng ». Hợp lý thì ở trong hang Pắc Bó, hoặc ở trên bờ suối, chứ không ở giữa suối như trong hình.
Con suối Lê Nin thì rõ ràng không còn (hay không phải) là suối thiên nhiên. Bờ suối có dấu mới đẻo, có thể nhằm vào việc khai mươn, dẫn nước vào, tạo thành con suối. Con suối do đó có thể là suối nhân tạo.

Cảnh trí ở Pắc Bó với suối Lê Nin và núi Các Mác hoàn toàn đánh mất tính lịch sử do việc tạo dựng lại. Lịch sử chú trọng ở « sự thật ». Nó cũng mất hoàn toàn mỹ tính của thiên nhiên, là điểm quan trọng để thẩm định giá trị thực sự một thắng cảnh, một di tích lịch sử, văn hóa.

Thực ra, di tích Pắc Bó với núi Các Mác và suối Lê Nin là một vết tích xấu hổ cho lịch sử của dân tộc VN. Vì đất đai, sơn thủy của tổ tiên lại bị đặt những cái tên người nước ngoài, những tên đồ tể nhân loại, đã bị thế giới lên án. Xét sâu xa, các nhân vật Các Mác, Lê Nin, (kể cả ông Hồ) đều đã không đem lại điều gì tốt đẹp cho đất nước và dân tộc VN, ngoài chiến tranh và sự nghèo đói. Sự việc quân TQ xóa bỏ di tích này cũng là một điều tốt cho dân VN, nếu nó không được xây dựng lại (một cách dối trá và vụng về).

Nhưng lịch sử luôn được viết bởi phía chiến thắng. Bi hài là chỗ đó.

dimanche 17 février 2013

Sự không công bằng trong việc Phân định chủ quyền các cồn đất trong khu vực cửa sông Bắc Luân.




Theo tài liệu phân định biên giới, khu vực cửa sông Bắc Luân được xác định có độ dài khoảng 14 km, bắt đầu từ thượng lưu bãi Tục Lãm đến điểm đầu của đường phân định Vịnh Bắc Bộ. Trong vùng này có các cồn đất là bãi Tục Lãm, bãi Tài Xẹt và bãi Dậu Gót.

Bản đồ sau đây chụp từ bộ bản bồ 1/100.000 của sở Địa Dư Đông Dương ấn hành năm 1948, hiện đang tồn trữ tại Centre des Archives d’Outre-Mer (CAOM), Aix-en-Provence, Pháp Quốc. Bản đồ cho thấy chi tiết góc đông bắc của tỉnh Hải Ninh, vùng cửa sông Bắc Luân (ngày xưa gọi là sông Ka-Long hay Gia Long). Đường biên giới Việt Nam và TQ được vẽ bằng đường chấm đen gạch nối. Trên bản đồ không có vẽ các bãi Tục Lãm, Tài Xẹc và Dậu Gót. Các bãi đất này chỉ mới được đất phù sa sông Bắc Luân bồi đắp sau khi phân định biên giới (1885-1897). Các bãi này chưa được xác định chủ quyền.


Móng Cái


Chiếu theo « Hiệp ước phân định biên giới trên đất liền » giữa hai nước Việt-Trung ký ngày 30-12-1999 (từ nay viết tắt là HUBG 1999), đường biên giới khu vực cửa sông Bắc Luân được xác định vào ngày 31-12-2008. Số phận của các bãi này được xác định như sau :

Bãi Tục Lãm : VN được ¾, Trung Quốc được 1/4 bãi Tục Lãm
Bãi Dậu Gót : VN được 1/3 và TQ được 2/3 bãi.
Bãi Tài Xẹc : hoàn toàn thuộc về Trung Quốc.

bai tuc lam


Theo HUBG 1999, đường biên giới khu vực cửa sông Bắc Luân ở giữa các giới điểm 61 và 62, được mô tả như nội dung sau đây :
« Từ giới điểm số 61, đường biên giới xuôi theo trung tuyến luồng chính tầu thuyền đi lại của sông Ka Long, Bắc Luân, đến điểm cuối của nó, bắt vào giới điểm số 62. Giới điểm này là điểm tiếp nối đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của hai nước Việt Nam và Trung Quốc.
Các cồn, bãi nằm hai bên đường đỏ của các đoạn biên giới theo sông suối trên bản đồ đính kèm Hiệp ước đã được quy thuộc theo đường đỏ. »

HUBG 1999 có nhắc đến các cồn, bãi nằm hai bên đường đỏ nhưng không nói đến các nguyên tắc xác định chủ quyền các cồn, bãi này.


Điều I HUBG 1999 nguyên văn như sau: “Hai Bên ký kết lấy các Công ước lịch sử về biên giới hiện nay giữa Việt Nam và Trung Quốc làm cơ sở, căn cứ vào các nguyên tắc luật pháp quốc tế được công nhận cũng như các thỏa thuận đạt được trong quá trình đàm phán về vấn đề biên giới Việt - Trung, đã giải quyết một cách công bằng, hợp lý vấn đề biên giới và xác định lại đường biên giới trên đất liền giữa hai nước. »


Như thế, việc phân định biên giới vùng của sông Bắc Luân cũng phải tuân theo điều I. Tức phải được phân định theo “các công ước lịch sử về biên giới”, gồm các công ước Pháp Thanh 1887 và 1895.

Lý ra, các bãi Tục Lãm, Tài Xẹc và Dậu Gót sẽ được xác định chủ quyền bằng hai tài liệu pháp lý:

1 / Biên bản phân định biên giới ngày 21 tháng 12 năm 1893 (thuộc hồ sơ công ước Pháp Thanh 1887). Đoạn liên quan có nội dung như sau :

...
Conformément aux dispositions admises par les deux commissions, on prendra toujours pour frontière le milieu du lit des fleuves ou rivières.
En outre, dans le but d’assurer en toutes circonstances à la batellerie des deux puissances voisines la libre navigation sur les cours d’eau, les deux commissions ont que convenu que ce sera toujours le chenal navigable qui sera pris comme frontière.
Dans le cas où le cours d’eau ne serait pas navigable, la frontière sera formée par le chenal le plus profond ou le plus large ou ayant le plus d’eau.
Si par suite de crues ou de baisses des eaux, le chenal pris pour frontière venait à être déplacé, et, si des banc ou îlots nouveaux venaient à se former, la frontière se trouverait reportée naturellement dans le nouveau chenal déterminé d’après les conditions ci-dessus spécifiées, et les bancs ou îlots de nouvelle formation appartiendront à la puissance du côté de laquelle ils se trouveront.

Lược dịch như sau :

….
Chiếu theo những qui định đã được hai ủy ban công nhận, đường biên giới luôn là đường trung tuyến của các dòng sông.

Mặt khác, để bảo đảm cho mọi trường hợp việc tự do lưu thông của thuyền bè hai nước, hai bên thỏa thuận rằng đường biên giới luôn là dòng nước thuyền bè qua lại.
Trong trường hợp dòng sông không thể thông lưu (bằng thuyền), đường biên giới sẽ là đường qua dòng chảy sâu nhất, hay rộng nhất hay nhiều nước nhất.

Trong trường hợp bị ngập lụt hay bị cạn nước, dòng chảy làm thành đường biên giới dời đổi, và nếu có những dãi đất (cù lao) mới thành hình, dĩ nhiên đường biên giới sẽ thay đổi theo dòng chảy mới tính theo điều kiện ghi trên, những cù lao hay dãi cát vừa hình thành ở phía nào thì chủ quyền sẽ thuộc về quốc gia đó.

Theo nội dung của biên bản trên, việc xác định đường biên giới trên sông, đáng lẽ chỉ là việc xác định dòng chảy sâu nhất hay đường tàu bè qua lại. Đường trung tuyến dòng chảy đó là đường biên giới. Về số phận các cù lao, hòn , bãi đất… thành lập sau này thì chúng ở bờ phía bên nào thì chúng thuộc chủ quyền của nước đó.

Nhìn bản đồ vệ tinh ta thấy đường nước sâu nhứt là đường nước màu xanh đậm, là đường tàu bè qua lại, tức là đường biên giới. Các bãi Tục Lãm, Tài Xẹc và bãi Dậu Gót đều ở phía hữu ngạn của dòng chảy sâu nhất (là đường biên giới), tức ở về phía bờ của VN.

Do đó các bãi Tục Lãm, Tài Xẹc và bãi Dậu Gót thuộc về Việt Nam.

2/ Theo biên bản bế mạc công trình phân giới ngày 26-6-1887. Theo đó chủ quyền các đảo được xác định theo đường kinh tuyến đi qua đông điểm (điểm cực đông) của đảo Trà Cổ : các đảo phía đông đường kinh tuyến này thì thuộc về Trung Quốc, các đảo phía tây đường kinh tuyến này thì thuộc về Việt Nam.

Nguyên văn biên bản bế mạc công trình phân định (còn gọi là công ước 1887) :

« Au Kouang-tong, il est entendu que les points contestés qui sont situés à l’est et au nord-est de Monkaï, au delà de la frontière telle qu’elle a été fixée par la Commission de la délimitation, sont attribués à la Chine. Les îles qui sont à l’est du méridien de Paris 105° 43’ de longitude est, c’est-à dire de la ligne nord-sud passant par la pointe orientale de l’île de Tch’a-Kou ou Ouan-chan (Tra-Co) et formant la frontière, sont également attribués à la Chine. Les îles Go-tho et les autres îles qui sont à l’ouest de ce méridien appartiennent à l’Annam... »

Tạm dịch :
« Tại Quảng Ðông, hai bên thỏa thuận rằng những điểm tranh chấp ở về phía Ðông và phía Ðông Bắc Móng Cái, những điểm nầy ở phía bên kia của đường biên giới đã được ủy ban phân định xác định, thì chúng được giao cho Trung Hoa. Những hòn đảo ở về phía Ðông của đường kinh tuyến Paris 105° 43’ kinh độ Ðông, có nghĩa là đường thẳng Bắc Nam đi qua đông điểm của đảo Tch’a-Kou hay Ouan-Chan (Trà Cổ) và tạo thành đường biên giới, cũng được giao cho Trung Hoa. Các đảo Go-Tho và những đảo khác ở về phía Tây của đường kinh tuyến nầy thì giao cho An-Nam. »

Trên các bản đồ hiện nay, nếu ta cho các bãi Tục Lãm, Tài Xẹc, Dậu Gót là « đảo », thì chúng đều ở phía tây của đường kinh tuyến đi qua điểm cực đông của đảo Trà Cổ. Trên bản đồ vệ tinh của Google Earth cũng vậy, các bãi này đều ở phía tây của đường kinh tuyến đi qua điểm cực đông đảo Trà Cổ.

Các bãi đất này do đó thuộc Việt Nam.

Kết luận lại, việc phân chia này không đặt trên cơ sở pháp lý mà là một quyết định chính trị. Nếu việc phân định biên giới và nguyên tắc xác định chủ quyền của các cù lao , bãi đất… mới được thành hình sau này, theo đúng tinh thần của các công ước Pháp-Thanh, các bãi Tục Lãm, Tài Xẹc và Dậu Gót phải thuộc về Việt Nam.

Nhìn lại cuộc chiến Việt-Trung 1979



LTG : Bài viết từ năm 2009, có bổ túc, đăng lại để suy ngẫm thêm về tình bạn 16 chữ vàng của hai nước Việt-Trung.

1. Tên gọi cuộc chiến :

Thông thường người ta đặt tên một cuộc chiến bằng tên của nơi xảy ra cuộc chiến hoặc qua « mục đích » của nó. Cuộc chiến Việt-Trung 1979, xảy ra từ ngày 17 tháng 2 năm 1979 và chấm dứt ngày 5 tháng 3 năm 1979. Phía CSVN gọi đó là cuộc chiến « xâm lược » : « Chiến tranh xâm lược ngày 17-2-1979 là đỉnh cao của những hành động thù địch của lãnh đạo TQ. »

Nhưng sự thật thì chỉ hơn 2 tuần sau khi cuộc chiến mở đầu thì TQ tuyên bố đã đạt được mục tiêu và đơn phương rút quân về. Một số lãnh thổ của VN bị TQ chiếm và sát nhập vào TQ, một số tỉnh thành của VN tiếp giáp với TQ đều bị lính TQ cướp sạch, phá sạch, dân lành vô tội bị giết thê thảm. Ý nghĩa của từ « xâm lược » rất nặng nề : xâm là tiến vào, lược là cướp. Một số tài liệu cho biết chỉ trong vòng 20 ngày xung đột đã làm cho hai bên bị mất từ 60 ngàn đến 100 ngàn người. Con số phía bên TQ hy sinh vào khoảng 30 đến 50 ngàn. Con số quá lớn, cái giá quá đắt để có thể bỏ ra cho phía bên gây chiến, nếu hiểu cuộc chiến theo ý nghĩa của « xâm lược ».  

Các học giả nước ngoài gọi cuộc chiến này qua nhiều tên khác nhau. Một số gọi là « chiến tranh biên giới – la guerre des frontières ». Điều này không sai vì địa bàn cuộc chiến chỉ giới hạn ở các vùng biên giới. Tên này cũng được đặt cho cuộc chiến Kampuchia, vì nguyên nhân nó bắt nguồn từ các xung đột về biên giới.

Phía TQ gọi cuộc chiến đó là « bài học » của TQ dạy cho VN. Một số học giả khác gọi đó là cuộc chiến mà TQ « đưa VN trở về vị trí của mình ».

Nhưng đâu là mục tiêu thật của TQ trong cuộc chiến ?

2. Tìm hiểu ý đồ của TQ qua chính sách đối ngoại từ 1949-1979 :

Trong vòng 30 năm TQ đã không ngừng thay đổi chính sách đối ngoại, từ lý thuyết đến thực tế. Tuy nhiên các ưu tiên (hay mục tiêu chiến lược) của TQ, qua các thế hệ lãnh đạo TQ, không hề thay đổi. Mục tiêu chiến lược này được các học giả nước ngoài nhận diện. Đó là : 1/ đưa TQ lên hàng nước lớn – 2/ dành lại ảnh hưởng của TQ ở các chư hầu cũ (se faire admettre des puissances mondiales - reconstituer le domaine impérial). Hai ưu tiên này cũng được lãnh đạo CSVN nhận diện năm 1979 : Chiến lược của những người lãnh đạo TQ có những thay đổi rất lớn. Nhưng có một điều không thay đổi : đó là mục tiêu chiến lược muốn nhanh chóng đưa  TQ trở thành một cường quốc bậc nhất thế giới và thực hiện mưu đồ bành trướng đại dân tộc và bá quyền nước lớn của họ đối với các nước khác.

Người ta có thể chứng minh việc trên qua lời nói và hành động của các thế hệ lãnh đạo TQ.

Lãnh tụ Mao Trạch Đông, nhân hội nghị BCHTU đảng CS TQ năm 1956, đã nói : Chúng ta phải trở thành quốc gia hàng đầu về phát triển văn hóa, khoa học, kỹ thuật và công nghiệp. Không thể chấp nhận rằng sau một vài chục năm chúng ta vẫn chưa trở thành cường quốc số 1 của thế giới.

Tháng 9 năm 1959, tại hội nghị quân ủy trung ương, họ Mao nói : chúng ta phải chinh phục trái đất, đó là mục tiêu của chúng ta.

Cái gọi là « domaine impériale – vùng ảnh hưởng của thiên triều » được một lãnh tụ khác, ông Tôn Dật Tiên, cha đẻ của thuyết Tam Dân và Quốc Dân Đảng,  xác định một cách rõ rệt như sau : các quốc gia Việt Nam, Triều Tiên, Miến Điện, đảo Bornéo, đảo Soulou, đảo Java , Tích Lan, Népal, Bhoutan hay các đảo Đài Loan, Bành Hồ, Rukyu dều là lãnh thổ của TQ bị mất vào đầu thế kỷ.

Mao Trạch Đông thì xác định tương tự  vùng ảnh hưởng của TQ qua cuốn « Cách mạng TQ và đảng CS TQ » năm 1939 : « Các nước đế quốc sau khi đánh bại TQ, đã chiếm các nước phụ thuộc TQ : Nhật chiếm Triều Tiên, Đài Loan, Lưu Cầu, quần đảo Bành Hồ và Lữ Thuận. Anh chiếm Miến Điện, Butan, Hương Cảng. Pháp chiếm An Nam.. »

Tưởng Giới Thạch, lãnh tụ Quốc Dân Đảng, người có tinh thần dân tộc cực đoan hơn hết, khẳng định mạnh mẽ hơn : « le territoire chinois est délimité par les besoins de son existence et par ses bornes de sa culture - lãnh thổ của TQ được xác định do sự cần thiết để hiện hữu của TQ và do những dấu ấn văn hóa TQ ». Như thế nơi nào mà dân Hán cần để sống, nơi nào có văn hóa Hán, các nới đó đều của TQ.

Sách Sơ lược lịch sử TQ Hiện đại xuất bản năm 1954, lãnh thổ TQ bao gồm các nước chung quanh, kể cả Đông Nam Á và vùng biển Đông.

Điều này cho thấy, các thế hệ lãnh đạo TQ, quốc cũng như cộng, thảy đều có cùng một sứ mạng, một mục tiêu phải thực hiện : quang phục TQ, đưa TQ lên lại vị trí hàng đầu thế giới, dành lại ảnh hưởng đã bị mất của TQ từ hậu bán thế kỷ 19.

Do mục tiêu chiến lược đã rạch ròi, do đó quan niệm bạn – thù của các thế hệ lãnh đạo TQ không nhất quán. Theo thời gian, bạn có thể trở thành thù địch, hay ngược lại, thay đổi tùy theo tư thế hay lập trường có lợi cho TQ. Họ không « trụ » vĩnh viễn vào bất kỳ một cái gì, tất cả chỉ nhằm phục vụ cho quyền lợi của đất nước TQ.

- Từ vị trí bạn bè, đồng minh của Liên Xô, cùng chia xẻ chung một ý thức hệ cộng sản chủ nghĩa, cùng đứng một bên chống lại thế giới tự do mà HK đứng đầu, TQ bỗng ngoặc lại, trở thành đối thủ của nước này (TQ chỉ có thái độ hòa hoãn với Liên Xô vào lúc mà khối này trên đà sụp đổ). Bề mặt TQ chống LX vì LX theo « chủ nghĩa xét lại », nhưng bề trong điều này tạo cho TQ tư thế kế thừa chủ nghĩa Mác-Lê chính thống trong khối XHCN và thế giới Thứ Ba (Tiers Monde). TQ chống LX mặt khác cũng vì lo ngại ảnh hưởng của LX bành trướng sang các vùng có truyền thống TQ như vùng Mãn Châu, Tân Cương. Nếu đứng chung với LX, TQ muôn đời chỉ là « anh hai » chứ không là « anh cả ». TQ tìm mọi cách để hạ LX, dành vị trí lãnh đạo.

- TQ đã từng chống Hoa Kỳ và Nhật trong một thời gian liên tục hai thập niên, sau đó thấy không hiệu quả, HK vẫn mạnh lên, Nhật Bản vẫn giàu lên, vì thế phải xoay chiều. Giả sử TQ vẫn « trụ » vào vị thế đối đầu với HK, chắc chắn TQ mãi mãi đứng trong hàng ngũ các nước nghèo, kém phát triển, mục tiêu chiến lược sẽ không bao giờ thực hiện. Vì thế đổi thù thành bạn, TQ nhờ vả vào tài chánh và kỹ thuật của hai nước HK và Nhật để phát triển kinh tế. Trong quá trình đổi thù thành bạn, VN là con cờ đầu, đóng vai trò chất xúc tác chính để TQ giao hảo với HK và cô lập LX, nổi bật là cuộc chiến 1979.

- TQ lựa chọn đứng vào « thế giới thứ ba ». Quyết định dễ hiểu vì TQ muốn nắm vai trò lãnh đạo. Nhưng TQ sử dụng các nước trong khối này để củng cố thế lực của mình. TQ chưa bao giờ chia sẻ những gì của họ cho các nước trong khối. Khi TQ mở lời muốn giúp các nước trong khối thì TQ không có phương tiện và khả năng để giúp. Nhưng đến khi có khả năng và phương tiện để giúp thì TQ chưa bao giờ lên tiếng đề nghị giúp, kể cả lúc TQ đã trở thành siêu cường kinh tế.

- Năm 1971, TQ đóng vai lãnh đạo khối Thứ Ba, luôn lên tiếng bênh vực cho các nước, các dân tộc bị áp bức. Nhưng TQ lại dùng quyền phủ quyết (droit de veto) đầu tiên của mình để chống sự gia nhập LHQ của Bangladesh, một nước thuộc thế giới Thứ Ba, tách ra từ Pakistan. Làm thế vì TQ muốn lôi kéo đồng minh là Pakistan về phía mình để tạo thế bao vây Ấn Độ.

- TQ luôn miệng chống đế quốc thực dân và chủ trương độc lập cho các dân tộc bị ách thực dân nhưng lại đồng ý cho Goa, cựu thuộc địa Bồ, sát nhập vào Ấn Độ ; trong khi đó lại chống Timor sát nhập lại vào Indonésie năm 1975. TQ cũng chiếm Tây Tạng, sát nhập và đồng hóa dân xứ này. Rõ ràng đây là thái độ của một nước thực dân tồi tệ.

Người ta cũng thấy những mâu thuẫn rõ nét giũa đường lối chính trị trong nước và đường lối chính trị ngoại giao của TQ :

- Vào những năm 1950-1953 đảng CSTQ, trong nước chủ trương đoàn kết chính trị (front uni) giữa người cộng sản và không cộng sản, nhưng đối ngoại thì từ khuớc mọi hợp tác với các quốc gia « trung lập » tại Châu Á, kể cả các nước đã được TQ công nhận.

- Năm 1956, chủ trương  TQ là « chung sống hòa bình – coexistance pacifique », nhưng đối ngoại thì TQ chống Ấn Độ do tranh chấp lãnh thổ. Hoặc năm 1969, TQ áp dụng chính sách « cách mạng văn hóa » cực tả, đối ngoại lại hòa hoãn với HK, một đế quốc cực hữu mà TQ lớn tiếng lên án và khinh bỉ.

- Sau khi loại trừ được « tứ môn nhân », nhóm bốn người, chủ trương cực tả của chế độ ra khỏi bộ máy nhà nước năm 1976-1977, TQ lại bắt đầu giúp đỡ cho nhóm Khmer đỏ, là những người học trò tin tưởng điên cuồng vào lý thuyết cực đoan của « nhóm bốn người » vừa bị loại.

TQ không phân biệt bạn bè trong khối « vô sản các nước đoàn kết lại », không phân biệt « tư bản – cộng sản » mà chỉ quan tâm đến quyền lợi của TQ:

- TQ chống Liên Xô gay gắt trong những năm của thập niên 60, suýt xảy ra chiến tranh, là để chống chủ nghĩa xét lại và bảo vệ chủ nghĩa Mác-Lê hay là ngăn cản tham vọng của Liên Xô tại Viễn Đông ?

- Năm 1974 TQ đưa ra lý thuyết « tam thế giới », trong đó lại góp chung HK và Liên Xô, hai nước đối nghịch ý thức hệ « tư bản- cộng sản », vào thế giới thứ nhất, là nhóm của bọn « đế quốc bành trướng ».

TQ cũng đã nhiều lần dùng vũ lực hay tham gia vào các cuộc chiến xảy ra trong thế kỷ 20, làm đổ máu hàng triệu người Hoa, mục đích các cuộc chiến tranh đó để làm gì ?   

- TQ chiếm Tây Tạng (1950-1955) là hành vi « giải phóng » cho dân tộc này khỏi « ách » thần quyền hay là mục tiêu mở mang lãnh thổ thiên triều ?

- TQ can thiệp vào Bắc Hàn là do tinh thần « quốc tế vô sản » bảo vệ thành trì xã hội chủ nghĩa hay là mục đích gây dựng lại ảnh hưởng ngàn năm của thiên triều ?

- TQ đánh VN năm 1979 là để bênh vực cho Khmer đỏ hay là dạy cho VN một bài học về ơn nghĩa và lễ độ đối với thiên triều ?

Ta thấy chính sách đối ngoại của TQ lúc nào cũng có hai mặt : nói và làm, lý thuyết và thực hành. Hai mặt này thường xuyên mâu thuẩn nhưng nó thể hiện rõ hơn bao giờ hết đường lối thực của TQ. Hai mặt là diện và điểm. Diện là cái cớ, cái hình thức bề ngoài ; điểm là mục tiêu mà TQ muốn đạt đến. Đó là nhanh chóng đưa  TQ trở thành một cường quốc bậc nhất thế giới và thực hiện mưu đồ bành trướng đại dân tộc và bá quyền nước lớn của họ đối với các nước khác.

Cuộc chiến Việt Trung vì thế, cho dầu mang tên gì, chỉ là giai đoạn cần thiết mà TQ phải đi qua để khẳng định tư thế nước lớn và dành lại vùng ảnh hưởng từ TQ từ ngàn năm nay. Vị trí địa lý của VN đã làm cho VN là một đối tượng quan trọng đối với TQ. TQ cần phải khuất phục và thôn tính VN nếu cần, để có thể đạt được mục tiêu chiến lược. Trong đoản kỳ,  người ta có thể thấy những toan tính của TQ qua hai hiệp định Genève 1954 và hiệp định Paris 1973 để chi phối VN.


3. Hiệp định Genève 1954 :

Cuộc chiến Triều Tiên chấm dứt qua một hiệp ước đình chiến, ngày 27-7-1953, chia tạm thời Triều Tiên thành hai vùng, ranh giới là vĩ tuyến 38. Đây chỉ là một thỏa ước tạm thời để các bên xung đột ngưng bắn, chứ không phải là một hiệp ước giải quyết các vấn đề tranh chấp của hai bên xung đột. Nhưng phương án này được các bên tham dự vào cuộc chiến VN lựa chọn như là một kiểu mẫu giải quyết cho cả ba nước Đông Dương.

Trong cuộc chiến Đông Dương, TQ là nước giúp vũ khí và nhân lực nhiều nhất cho CSVN.  Đương nhiên TQ có tiếng nói và trọng lượng đáng kể lên mọi quyết định của phía CSVN trong hội nghị Genève. Trên tư thế kẻ cả, TQ đứng ra thương lượng với Pháp về một giải pháp cho VN nhưng thực ra TQ mặc cả với Pháp để có một giải pháp có lợi trước tiên cho mình.

Lập trường của VN trong hội nghị Genève : đình chỉ chiến sự trên toàn bán đảo Đông Dương đi đôi vói một giải pháp chính trị cho vấn đề VN, vấn đề Lào và vấn đề Kampuchia trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của mỗi nước ở Đông Dương

Lập trường của TQ : Ngày 24 tháng 8 năm 1953, thủ tướng Chu Ân Lai đã tuyên bố : đình chiến ở Triều Tiên có thể dùng làm mẫu mực cho những xung đột khác.

Mục tiêu của TQ là dùng VN để thương lượng với Pháp, lấy giải pháp Triều Tiên để tạo vùng đệm ở Đông Nam Á, ngăn chặn HK vào thay thế Pháp, không muốn chiến sự mở rộng, bảo đảm an ninh về phía nam của TQ.

Tháng 4 năm 1954, trong một cuộc họp chuẩn bị cho hội nghị Genève, gồm có các đại diện của TQ, Liên Xô, VN ; đại biểu TQ nói : TQ không thể công khai giúp VN được trong trường hợp cuộc xung đột ở đây mở rộng.

Vì là nước giúp vũ khí (nhân sự) cho CSVN, TQ đã vạch rõ cho phía VN thấy đâu là giới hạn của cuộc chiến. TQ muốn chấm dứt chiến tranh Đông Dương theo lối Triều Tiên, nghĩa là đình chỉ chiến sự mà không có giải pháp chính trị. Điều này đương nhiên rất có lợi cho TQ : một nước VN bị chia cắt là một nước VN yếu, tồn đọng nhiều nguy cơ bất ổn chính trị dễ dàng cho TQ khuynh đảo sau này.

Mục tiêu của Pháp trong hội nghị Genève là nhằm tìm một giải pháp ngưng bắn cấp thời để cứu đội quân viễn chinh và nếu có thể giữ ảnh hưởng Pháp tại Đông Dương. Vì thế Pháp cũng ưu tiên cho một giải pháp tương tự ở Triều Tiên.

Như thế lập trường của TQ tương đối phù hợp với lập trường của Pháp hơn là lập trường VN, mặc dầu TQ và VN trên thực tế là một phe.

Quá trình đàm phán hội nghị Genève về các nước Đông Dương gồm hai thời kỳ, hoàn toàn do TQ chủ động đàm phán với Pháp.

- Từ ngày 8 tháng 5 đến 23 tháng 6, TQ và Pháp đàm phán trực tiếp 4 lần, hai bên đạt thỏa thuận về những nét cơ bản của một hiệp định ngưng bắn tại Đông Dương. Những nét cơ bản này được nhận diện qua cuộc họp ngày 17 tháng 6 năm 1954 giữa Chu Ân Lai và trưởng đoàn Pháp Georges Bibault : TQ có thể chấp nhận VN có hai chính quyền (chính phủ VNDCCH và chính quyền Bảo Đại), công nhận chính phủ vương quốc Lào và vương quốc Kam Pu Chia, từ bỏ yêu cầu có đại biểu của chính phủ kháng chiến Lào và chính phủ kháng chiến Kam Pu Chia tham gia hội nghị Genève và đưa ra vấn đề quân đội nước ngoài, kể cả quân tình nguyện VN phải rút ra khỏi Lào và Kampuchia. Cuộc họp ngày 23-6-1954 giữa Chu Ân Lai và Mandès France, thủ tướng mới của Pháp, nội dung của hiệp định thành hình rõ rệt hơn : chia cắt VN, hai miền VN cùng tồn tại hòa bình, giải quyết vấn đề quân sự trước, tách rời việc giải quyết 3 vấn đề VN, Lào và Kam Pu Chia ; TQ sẵn sàng nhìn nhận 3 nước này trong Liên Hiệp Pháp, TQ chỉ yêu cầu không có căn cứ quân sự Mỹ tại Đông Dương.

Pháp và TQ qua các đàm phán đã đạt được một giải pháp chung về Đông Dương, đặc biệt giải pháp này trùng hợp với giải pháp 7 điểm của Anh-Mỹ đưa ra ngày 29 tháng 6 năm 1954 (tức 6 ngày sau cuọc tiếp xúc giữa Chu Ân Lai và Mandès France).

- Từ ngày 23 tháng 6 đến 20 tháng 7 : Vì đã có đồng thuận với Pháp và các đại cường, TQ trong thời gian này đóng vai trò thúc đẩy, nếu không nói là ép VN thuận theo ý đồ của TQ. Lập trường của VN cho đến ngày ngày 10 tháng 7 : giới tuyến quân sự tạm thời là vĩ tuyến 13 ; tổ chức tổng tuyển cử tự do trong thời hạn 6 tháng để thống nhất đất nước ; các đại biểu của chính phủ kháng chiến Lào và Kampuchia được quyền tham dự như các bên đàm phán 

Thái độ TQ hối thúc VN thấy được qua điện tín Chu Ân Lai ngày 10-7 gởi phái đoàn VN như sau : « có những điều kiện công bằng và hợp lý để chính phủ Pháp có thể chấp nhận được, để đi đến hiệp định trong 10 ngày, điều kiện đưa ra nên đơn giản, rõ ràng để dễ đi đến hiệp thương, không nên làm phức tạp lôi thôi để tránh thảo luận mất thì giờ, rườm rà, kéo dài đàm phán để cho Mỹ phá hoại ». Một điện tín trước đó, ngày 30-5, cũng của của Chu Ân Lai : « Đánh giá phương án (tức phương án lấy vĩ tuyến 16 làm giới tuyến) khó có thể thỏa thuận, nếu không được thì sẽ lấy Hải Phòng làm cửa bể tự do, ở gần đấy cho Pháp đóng một số quân nhất định, nếu không được nữa thì đem đường số 5 và Hà Nội, Hải Phòng làm khu công quản và phi quân sự ».

Điều này cho thấy TQ đe dọa cắt Hà Nội và Hải Phòng biến thành vùng « trái độn » và cho Pháp trở lại, nếu VN không nhượng bộ.

VN cuối cùng chấp nhận giải pháp : các nước tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân VN, Lào và Kampuchia, ngừng bắn đồng thời ở VN và trên chiến trường Đông Dương, Pháp rút quân, vĩ tuyến 17 là giới tuyến quân sự tạm thời chia VN làm hai miền, tiến tới tổng tuyển cử tự do  trong cả nước sau hai năm để thống nhứt nước nhà.

Về hội nghị Genève, CSVN sau này phê bình TQ như sau : giải pháp mà đoàn đại biểu TQ thỏa thuận với đoàn đại biểu Pháp ở Genève không phản ánh so sánh lực lượng trên chiến trường, cũng không đám ứng đầy đủ những yêu cầu chính trị của giải pháp do đoàn đại biểu VN đề ra.

Và kết án TQ phản bội lại cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân VN cũng như của nhân dân Lào và nhân dân Kampuchia.

Cuối cùng CSVN ý thức : TQ đã hy sinh lợi ích của ba nước Đông Dương để bảo đảm an ninh của họ ở phía nam.

4. Hiệp định Paris 1973.

Sau hiệp định Genève 1954, cuộc bầu cử thống nhất hai miền Nam và Bắc VN dự trù 2 năm sau đã không diễn ra như đã qui định. Hai bên miền Nam và miền Bắc VN qui lỗi cho nhau là phá hoại, không chấp nhận tổ chức bầu cử.

Miền Bắc, sau một vài đợt cải cách ruộng đất thất nhân tâm đã gây bất mãn sâu sắc trong xã hội, một cuộc tổng tuyển cử năm 1956 chưa chắc ông Hồ sẽ thắng. Năm 1954, hàng triệu người dân miền Bắc đã di cư vào Nam phần nào cho thấy dân miền Bắc không thích các chủ trương XHCN do ông Hồ áp dụng, đã ảnh hưởng trực tiếp, thậm chí làm đảo lộn đời sống của người dân VN. Miền Bắc vì thế sẽ thất bại nếu cuộc bầu cử diễn ra.

Yếu tố quan trọng khác, miền Bắc đất ruộng chật hẹp, nghèo nàn; công kỹ nghệ, hạ tầng cơ sở rất kém, có thể nói là chưa có gì, tóm lại, miền Bắc là một vùng rất nghèo. Trong khi miền Nam ruộng đất phì nhiêu, các hạ tầng có sở do Pháp để lại đều tương đối tốt, nếu không nói là khá, vượt trội so với nhiều nước chung quanh. Miền Nam có triển vọng cất cánh nhanh chóng so với miền Bắc.

Đây là những lý do khiến ông Hồ không muốn tổ chức “tổng tuyển cử” năm 1956 và quyết định “thống nhất đất nước” bằng vũ lực và bằng mọi giá, càng sớm càng tốt.
Trong khi mục tiêu của TQ muốn là muốn duy trì tình trạng VN như qui định của hiệp định Genève. TQ thuyết phục lãnh đạo miền Bắc chủ trương « trường kỳ mai phục ».

Mao nói với lãnh đạo VN : « Tình trạng nước VN bị chia cắt không thể giải quyết được trong một thời gian ngắn mà cần phải trường kỳ. Nếu 10 năm chưa được thì phải 100 năm »(tr 37).

Tháng 7 năm 1955 Tổng Bí Thư đảng CSTQ là Đặng Tiểu Bình nói : « Dùng lực lượng vũ trang để thống nhất nước nhà sẽ có hai khả năng : một khả năng là thắng và một khả năng nữa là mất miền bắc ».

Tháng 7 năm 1957 Mao Trạnh Đông nói : « Vấn đề là phải giữ biên giới hiện có, phải giữ vĩ tuyến 17… Thời gian có lẽ dài đấy. Tôi mong thời gian dài thì sẽ tốt ».

Như thế rõ rệt : TQ muốn VN giữ nguyên trạng theo hiệp định Genève, chia đôi đất nước ở vĩ tuyến 17 càng lâu càng tốt.

Nhưng, vì lý do vừa nói trên, thời gian càng kéo dài thì kinh tế miền Nam càng vượt xa miền Bắc vì thiên nhiên ưu đãi, quân đội do đó mạnh hơn, việc « thống nhứt » đất nước bằng vũ lực sẽ không bao giờ thành công mà có thể mất cả miền Bắc, như lời của Đặng Tiểu Bình. Trường hợp thống nhất bằng đường lối tổng tuyển cử hòa bình thì miền Bắc không có xác suất nào để thắng.

Lãnh đạo CSVN đã phải chọn giải pháp vũ lực, đánh miềm Nam càng sớm càng tốt, để hy vọng thắng và tồn tại.

Bắc Kinh không thuyết phục được CSVN « trường kỳ mai phục ». Với nhân sự đã cài lại sau 1954, CSVN mở cùng lúc nhiều mặt trận (chính trị, quân sự) đánh phá miền Nam. TQ, vì biết không thể cản, phải nương theo cái gọi là « tinh thần quốc tế vô sản », giúp đỡ vũ khí, lương thực và nhân sự để có khả năng gây ảnh hưởng lên lãnh đạo CSVN.

Tuy nhiên, cuộc chiến càng kéo dài, vũ khí đạn dược lạc hậu do TQ viện trợ trở thành không tương xứng với vũ khí tối tân của quân đội miền Nam và quân đội HK. Vì thế lãnh đạo CSVN ngày càng hướng về phía Liên Xô. Từ 1965 đến 1969 viện trợ quân sự của LX cho miền Bắc lên tới khoảng 4 hoặc 5 tỉ đô la, trong khi viện trợ của TQ chỉ còn 10% con số viện trợ của LX. Miền Bắc tách dần khỏi quĩ đạo TQ, trở thành vệ tinh của LX, lệ thuộc từ tư tưởng cho đến hành động. Liên minh Việt-Xô làm TQ lo ngại, không khác đe dọa áp lực quân sự của HK ở phía Nam. Trong khi đó thì Lào và Kampuchia trung lập, TQ tưởng chừng không còn điểm nắm tại Đông Dương.

Từ tháng 5 năm 1968 hội nghị Paris được mở ; TQ cho đây là « một sự gian trá về đàm phán về hòa bình ». Trong thâm tâm TQ lo ngại Washington và Moscou ép Hà Nội về một giải pháp mà TQ đứng ngoài.

TQ thường xuyên tố cáo « bọn xét lại » LX « âm mưu » liên kết với HK để « ly gián » tình hữu nghị Trung-Việt và phá hoại khối liên kết chống Mỹ của hai dân tộc Việt-Hoa. TQ tố cáo sự trợ giúp của LX cho VN là giả tạo, bề ngoài, mục đích của nó là làm cho hai nước Trung-Việt chống đối lẫn nhau.

TQ nói với lãnh đạo CSVN rằng VN đàm phán với HK là « nghe theo lời LX ». TQ  cho rằng VN dùng viện trợ của TQ đánh Mỹ để nhằm mục tiêu đàm phán với Mỹ thì viện trợ của TQ không có ý nghĩa.

Ngày 17 tháng 10 năm 1968, Trần Nghị, bộ trưởng bộ ngoại giao, đến gặp đại diện VN đe dọa chấm dứt ngoại giao nếu VN « chấp nhận 4 bên đàm phán ». TQ cho rằng như thế là giúp Johnson thắng cử, làm kéo dài sự « đô hộ của dân miền Nam dưới gót giầy đế quốc Mỹ ! ».

Năm 1969 TQ hỏi CSVN : Thế VN muốn đánh hay hòa để TQ tính việc viện trợ ? Viện trợ của TQ năm 1969 sụt 20% co với năm 1968.

Đứng trước đe dọa đàm phán của ba nước Việt-Xô-Mỹ có thể gây bất lợi, TQ thúc đẩy Hà Nội lên thang chiến tranh nhằm phá hoại. TQ sẽ giúp VN đánh Mỹ đến người VN cuối cùng ! Mục tiêu của TQ là không cho HK thực hiện kế hoạch « Việt Nam hóa chiến tranh », quyết giữ HK sa lầy tại VN, nếu HK không quan tâm đến quyền lợi của Bắc Kinh.

Từ năm 1970 vấn đề VN lại gắn thên vấn đề Kampuchia. Ông hoàng Sihanouk bị tướng Lon Nol đảo chánh, phải tị nạn tại Bắc Kinh. Từ đó TQ đầu tư vào con bài Sihanouk. (Sau đó là Khmer đỏ, mặc dầu Đặng Tiểu Bình rất ghét Pol Pot vì lý do cá nhân, nhưng vì nhu cầu phải cầm chân VN nên TQ phải giúp bọn phạm tội ác diệt chủng).

Do nhu cầu chiến lược, TQ trở nên hòa hoãn với HK năm 1971-1972. Phía HK cũng ý thực được vai trò của TQ, nhận thấy không thể thực hiện kế hoạch « Việt Nam hóa chiến tranh » nếu không có sự đồng thuận của TQ. Vì thế con đường « Việt Nam hóa chiến tranh » bắt buộc phải đi qua Bắc Kinh.

Tuy nhiên bề mặt đối với VN thì TQ luôn biểu lộ sự ủng hộ tích cực CSVN và chống đối HK mạnh mẽ. TQ vẫn muốn lôi kéo VN trở lại nhưng cũng lo ngại để lộ bộ mặt thân HK, VN sẽ ngã hẵn về phía Moscou.

TQ giả vờ bày tỏ lập trường cứng rắn ủng hộ VN trong hai dịp : tháng 9 năm 1971 lúc thủ tướng Lý Tiên Niệm sang Hà Nội và tháng 11 năm 1971 lúc Phạm Văn Đồng tại Bắc Kinh. Tháng 3 năm 1972 Chu Ân Lai sang Hà Nội xác định lại lời hứa của TQ sẽ giúp cho VN đến khi chiến thắng.

Qua các cuộc đi đêm và ngoại giao « bóng bàn » với Washington, Bắc Kinh đã thành công lập lại cầu nối với HK, giúp HK rút khỏi VN bình an. Đổi lại, HK nhìn nhận Bắc Kinh là đại diện chính thức của TQ tại LHQ, thay vì nhà nước Quốc Dân đảng ở Đài Bắc, đồng thời hứa giúp TQ phát triển kinh tế và khoa học kỹ thuật.

Năm 1979, sau cuộc chiến Việt-Trung, CSVN tố cáo TQ vào khoảng thời gian này đã sử dụng VN như là con bài để thuơng lượng với HK về vấn đề Đài Loan. Nhưng thực ra phía TQ có giải thích chủ trương của TQ là giải quyết VN trước, Đài Loan sau. Điều này cho thấy đúng.

Hiệp định Paris 27-1-1973 đưa VN trở lại tình trạng năm 1954 : trong nhất thời hiện hữu hai nước VN và việc thống nhất sẽ bằng một phương pháp hòa bình mà điều này sẽ chỉ thực hiện trong một thời gian rất xa. HK không mong muốn gì hơn là rút chân một cách an toàn ra khỏi miền Nam. Riêng Lào và Kampuchia trở lại giải pháp theo hiệp định Genève 1954 và 1962, xác định lại sự trung lập của hai nước này. Phía TQ đón nhận hiệp định với sự hài lòng, vì TQ được trở lại sân khấu với vai trò quyết định số phận ba nước Đông Dương qua thỏa ước cuối cùng ký ngày 2 tháng 3 năm 1973. TQ cũng đã thiết lập trước đó một mối giao hảo khá thân mật với MTGPMN, sẽ là một thành phần trong chính phủ mới tại miền Nam (nếu hiệp định Paris được tôn trọng).

Quan hệ Bắc Kinh và Hà Nội chỉ bắt đầu tồi tệ từ khi hiệp định Paris không được các bên tôn trọng.

Phía Hà Nội không có lý do tôn trọng vì hiệp định không giải quyết được quyết tâm « thống nhất đất nước ». Phía Sài Gòn cũng không có lý do tôn trọng vì hiệp ước dự trù một chính phủ liên hiệp ba thành phần, trong đó Sài Gòn một thành phần và MTGPMN là một thành phần khác. Trong khi đó, cũng như thời gian sau hiệp định Genève 1954, TQ khuyên nhủ Hà Nội kiên nhẫn chờ đợi. Tháng 6 năm 1973 Mao Trạch Đông nói với Lê Duẩn và Phạm Văn Đồng : Ở miền Nam cần ngưng chiến nửa năm, một năm, một năm rưởi, hai năm càng tốt… Cách mạng miền Nam nên chia làm hai bước… ».  Chu Ân Lai thì nói : « trong một thời gian chưa thể dứt khoát là 5 năm hay 10 năm, VN và Đông Dương nghỉ ngơi được thì tốt… ». TQ hứa hẹn sẽ viện trợ 5 năm với mức kim ngạch như năm 1973.

Nhưng TQ không đủ khả năng tạo sức ép lên Hà Nội và các bên để yêu cầu tôn trọng hiệp định Paris. Viện trợ quân sự của TQ cho VN bị cắt (viện trợ kinh tế thì vẫn còn) nhưng không ngăn được chiến cuộc leo thang mà phần thắng ngày càng nghiêng về phía miền Bắc, do sự viện trợ quân sự ào ạt của LX, trong lúc miền Nam đã không còn chỗ dựa.

HK đã dứt khoát với miền Nam, mặc dầu HK được sự khuyến khích của TQ trở lại giúp quân đội Sài Gòn. TQ không muốn cho Hà Nội thắng, nhưng sự ủng hộ của quần chúng HK cho cuộc chiến đã không còn, số phận miền Nam đã định.

Sau chiến thắng 30 tháng 4 năm 1975, CSVN tuyên bố năm 1979 : Việc giải phóng và thống nhứt miền Nam không chỉ là một thất bại của đế quốc Mỹ mà còn là một thất bại lớn của những người cầm quyền ở Bắc Kinh trong việc thực hiện chiến lược toàn cầu và mưu đồ bành trướng bá quyền của họ….

Học giả François Joyaux, tác giả cuốn « La Tentation Impériale – politique extérieure de la Chine depuis 1949 », cho rằng cuộc chiến Việt Trung 1979 bắt nguồn từ việc Hà Nội không tôn trọng hiệp định Paris. Việc này xét ra không sai : nó là nguyên nhân xa đưa đến sự khủng hoảng trầm trọng giữa hai nước Việt-Trung. Nó cũng là nguyên nhân khiến cho TQ quyết định chiếm trọn quần đảo Hoàng Sa của VN vào tháng giêng năm 1974.

5/ Nguyên nhân cuộc chiến 1979

5.1 Vấn đề người Hoa hay « nạn kiều »:

Vào năm 1975 người Hoa ở miền Nam Việt Nam khoảng 1.200.000 người, phần lớn ở Chợ Lớn (800.000), nắm phần lớn huyết mạch kinh tế miền Nam. Con số này cộng thêm 200.000 là số dân Hoa sống tại Kampuchia, sau 1975 chạy sang VN tị nạn. Vấn đề quốc tịch người Hoa được Bắc Kinh và chính phủ VNDCCH đặt ra sau khi ký kết hiệp định Genève. Việc thuơng thuyết gặp khó khăn, nhưng cuối cùng kết quả là người Hoa tại VN (miền Bắc) được có những quyền lợi tương tự như người bản xứ nhưng những người này phải lần hồi lấy quốc tịch Việt.

Ở miền Nam, thời Ngô Đình Diệm đã có những chính sách hạn chế sinh hoạt kinh tế của ngoại kiều. Người nước ngoài không được làm một số ngành nghề, việc cấp Visa cũng khó khăn, hạn chế. Điều này cũng áp dụng cho Hoa Kiều, vì thế lớp người này hầu hết nhập tịch Việt Nam.

Sau 1975, CSVN áp dụng chính sách « đánh tư sản mại bản », một số tài phiệt người Việt gốc Hoa tại miền Nam bị bắt cải tạo hay đày đi kinh tế mới. Các bang, hội đồng hương, tương tế của người Hoa bị cấm hoạt động. Hai đợt đổi tiền (1975, 1978), bề mặt là kiểm soát lượng tiền tệ, nhưng mục tiêu lột sạch của cải dân miền Nam, trong đó người Việt gốc Hoa là nạn nhân chính. Song song đó là chính sách « cải tạo công thuơng nghiệp », toàn bộ tài sản của dân miền Nam, trong đó có người việt gốc Hoa, ruộng đất, vườn tược hoàn toàn bị tước đoạt.

Năm 1976, nhân việc tổ chức bầu cử toàn quốc, những người Việt gốc Hoa ở miền Nam bị bắt buộc khai quốc tịch, việc này quan hệ đến đại đa số dân Hoa sống tại đây vì từ thập niên 50 họ đã có quốc tịch Việt Nam, một phần ít nhiều do chính sách ép buộc của VNCH đã nói trên. Như thế người Hoa bị hai mất mát lớn : vừa mất quốc tịch vừa mất tài sản. Tương tự như tại Indonésia năm 1965, họ phải tị nạn, một số về lại mẫu quốc, một số khác sang sinh sống các nước Đông Nam Á.

Trong khi đó chính phủ MTGPMN đã có cam kết với Bắc Kinh về tình trạng của người Hoa sau chiến tranh. Ngày 24 tháng 5 năm 1965, mặc dầu còn đang chiến tranh, MTGPMN công bố một lá thư nhằm gởi đến Hoa kiều đang ở miền Nam, nội dung cho biết những người này có quyền tự do lựa chọn quốc tịch của mình. Năm 1968 việc này được CP MTGPMN nhắc lại và Bắc Kinh tiếp nhận sự việc này. Như thế đây là một lời cam kết giữa hai chính phủ. Nhưng MTGPMN đã bị âm thầm « xóa sổ », không kèn không trống, một số nhân vật của tổ chức này vượt biên ra sống ở hải ngoại, một số rất nhỏ được CSVN sử dụng, nhưng số rất lớn khác vẫn còn ngậm đắng nuốt cay  cho đến ngày hôm nay.

Người Việt gốc Hoa từ năm 1977 bắt đầu chạy trốn VN, đỉnh cao là tháng 3 năm 1978  sau khi nhà nước CSVN áp dụng chính sách cải tạo công thuơng nghiệp, quốc hữu hóa toàn bộ, việc này gây một làn sóng « boat people », không riêng gì người Việt gốc Hoa mà người Việt chính gốc cũng bỏ nước ra đi. Thảm cảnh thuyền nhân kéo dài nhiều năm, con số lên đến hàng triệu người, tình trạng chết chóc do bão tố, nạn nhân hải tặc v.v..  làm chấn động cả thế giới. Phong trào vượt biên kéo dài cho đến thập niên 90.

Ngày 12 tháng 5 năm 1978, Bắc Kinh quyết định ngưng một phần viện trợ cho VN để giúp cho số người Hoa hồi hương về lục địa. Theo Bắc Kinh, con số này lên tới 40.000 người. Cuối tháng 5, Bắc Kinh đề nghị gởi thuyền bè sang VN để cho những người Hoa, những người muốn hồi hương. Hà Nội chính thức hóa, ngày 20 tháng 6, việc hồi hương người Hoa. Cùng lúc, Bắc Kinh tuyên bố bãi bỏ thêm một phần viện trợ cho VN để dành cho việc tái định cư những người hồi hương. Cũng trong tháng 6 TQ đóng cửa các tòa lãnh sự của VN tại Quảng Châu, Côn Minh và Nam Ninh. Ngày 3-7-1978 TQ tuyên bố cắt hết viện trợ và rút toàn bộ chuyên gia đang giúp VN về nước.

Theo hồi ký công bố gần đây, (nguồn BBC 17-2-2006) của Zhou Deli (Châu Đức Lập), tham mưu trưởng của Quân khu Quảng Châu,  vào  tháng Chín 1978, có nói về một cuộc họp tại văn phòng tham mưu trưởng quân đội nhân dân Trung Quốc, nội dung tìm phương pháp  "giải quyết vấn đề lãnh thổ bị quân Việt Nam chiếm đóng".
Ông này viết rằng : 

« Sự tập trung ban đầu là nhắm vào cuộc xung đột biên giới, và đề xuất đầu tiên muốn có một cuộc tấn công nhỏ vào một trung đoàn Việt Nam ở Trùng Khánh, giáp ranh Quảng Tây.
Sau khi nhận được tin tình báo cho biết Việt Nam sẽ tấn công Campuchia, đa số người dự họp cho rằng một cuộc tấn công cần có tác động lớn đến Hà Nội và tình hình Đông Nam Á.
Họ đề nghị tấn công vào một đơn vị quân chính quy Việt Nam ở một khu vực địa lý rộng hơn.
Cuộc họp kết thúc mà không đưa ra quyết định nào, nhưng nó tạo tiền đề cho kế hoạch chiến tranh sau đó »

Vấn đề « lãnh thổ » của TQ bị VN chiếm đóng cần phải xét lại khi các dữ kiện liên quan được các bên công bố. Cuốn « Bị vong lục » của VN công bố năm 1979, tố cáo TQ xâm chiếm đất của VN, (nếu so sánh với hồ sơ biên giới 1885-1897) cho thấy có một số điểm sai. Lãnh thổ (trên vùng biên giới) mà Châu Đức Lập đề cập là « lãnh thổ » nào ? Tuy nhiên, lời nói của viên chức này rõ ràng cũng ám chỉ các đảo thuộc Trường Sa của VN.

Nhưng có lẽ vấn đề « nạn kiều » là một lý do để có buổi họp quân sự từ tháng 9 năm 1978.

Điều này có nghĩa là quyết định đánh Việt Nam đã có trước khi Việt Nam mở cuộc chiến toàn diện với Kampuchia vào cuối năm 1978

5.2 Vấn đề Kampuchia :

Quan hệ Việt-Trung sau vấn đề « nạn kiều » 1978 đã trở nên trầm trọng, có thể gọi là hết thuốc chữa. Sự việc bắt đầu từ khi hiệp định Paris 1973 không được tôn trọng, đến 30 tháng 4 năm 1975 giao hảo Việt-Trung không còn tình hữu nghị, mà chuyển sang đối đầu, vì VN  đã lệ thuộc hẵn vào LX. Vì cùng lo ngại sự hiện diện của LX tại Đông Nam Á, TQ đã thành công ký kết ngoại giao với các nước có truyền thống chống TQ tại Đông Nam Á như Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương v.v…

Mực độ căng thẳng Việt-Trung thấy được qua việc CSVN tố cáo TQ gây chiến trên biên giới Việt-Trung : năm 1975 là 234 vụ, năm 1978 là 2175 vụ, tăng 9 lần. Việc gia tăng hiềm khích là phản ảnh của quan hệ căng thẳng Việt-Trung trong thời gian đó.
Về quan hệ giữa TQ và Kampuchia, CSVN tố cáo Pol Pot và Ieng Sary, sau 1973, theo lệnh của Bắc Kinh thi hành chính sách hai mặt đối với VN : vừa dựa vào VN, vừa chống VN.

Theo hiệp định ký kết với HK, TQ không được viện trợ quân sự trực tiếp cho ba nước Đông Dương. Nhưng bề trong TQ viện trợ cho nhóm Pol Pot – Ieng Sary qua ngả VN ; VN viện trợ cho nhóm này, sau đó TQ sẽ hoàn trả lại cho VN. Như thế hai mặt TQ không thất hứa với HK mà vẫn giúp vũ khí cho phe kháng chiến Kampuchia.

Ngày 17 tháng 4 năm 1975 chính quyền Lon Nol bị sụp đổ, phe Pol Pot và Ieng Sary lãnh đạo đảng cộng sản Kampuchia lên nắm quyền ở Nam Vang. Đây là những người đệ tử cuồng tín của chủ nghĩa Mao-ít. Ông Hoàng Sihanouk, lá bài chủ của TQ, bị lu mờ phải ra sau hậu trường chờ thời. Đặng Tiểu Bình cho dầu không ưa bọn Pol Pot, nhưng cũng sử dụng vì bọn này lại tỏ ra rất hữu hiệu để chống phá VN.

Theo tài liệu CSVN, TQ viện trợ cho Kampuchia tiền bạc, vũ khí cùng hàng vạn chuyên gia cố vấn  để huấn luyện và vũ trang hàng chục sư đoàn bộ binh, thiết giáp, pháo binh, xây dựng và mở rộng nhiều căn cứ hải quân, không quân và hệ thống nhà kho hậu cần, giúp Pol Pot chuẩn bị chiến tranh với VN.

Thực ra hiềm khích giữa hai dân tộc Việt và Miên đã có từ lâu đời, nguyên nhân là các vấn đề tranh chấp lãnh thổ và biên giới. Phía bên Kampuchia không chấp nhận nguyên tắc « uti possidetis » của quốc tế công pháp, có dịp là lên tiếng chống VNCH, đòi hỏi phi lý các vùng đất đã thuộc về VN do các quyết định hành chánh hay các hậu quả pháp lý của các hiệp ước về biên giới ký kết dưới thời Pháp. Họ phủ nhận đường biên giới qui ước Pháp thiết lập trong quá khứ. Thực ra VN cũng là nạn nhân của di sản nhà nước thực dân : công ước phân định biên giới giữa nhà Thanh (TQ) và Pháp năm 1887 đã làm cho miền Bắc VN mất nhiều vùng đất quan trọng về kinh tế và chiến lược ; nhưng VN đã không có thể hủy bỏ các hiệp ước « bất bình đẳng » này mà phải tôn trọng nó, vì nó vẫn còn hiệu lực pháp lý cho đến ngày hôm nay (theo tinh thần công ước Vienne 1969).

Trong khi, do nhu cầu cầu mở đường trên đất Kampuchia (đường mòn Hồ Chí Minh) để tiếp viện cho cuộc chiến, ngày 8-6-1967 nhà nước VNDCCH có ra tuyên bố « nhìn nhận đường biên giới hiện trạng » của Kampuchia. Phía Kampuchia xem tuyên bố này như là một hứa hẹn (ngoài các hứa hẹn khác của MTGPMN với Sihanouk) VN trả lại đất, trong đó bao gồm các đảo trong vịnh Thái Lan (gồm Phú Quốc, Thổ Chu…) và một số vùng đất khác. Sau khi thống nhứt lãnh thổ, CSVN « quên » các hứa hẹn này. Đó là nguyên nhân khiến Khmer đỏ đánh VN, mở đầu cho việc VN chiếm Kampuchia, sau đó là cuộc chiến Việt-Trung 17-2-1979.

Về phía HK, quan hệ Washington và Bắc Kinh bình thường hóa đầu năm dương lịch 1979, sau khi VN xua quân vào Kampuchia vài ngày. Trước đó hai bên có thông cáo chung về quan điểm « chống bành trướng » ngày 15 tháng 12-1978, điều này ám chỉ liên minh VN và LX và các manh động của VN tại Kampuchia và LX tại Afghanistan. Tháng giêng 1979 họ Đặng thăm viếng HK, ký kết một số thỏa hiệp với HK về văn hóa, kinh tế và kỹ thuật đồng thời trình bày một kịch bản chung với HK để chống LX, nhưng thực chất bề trong là thông báo cho HK kế hoạch « dạy cho VN một bài học ».

Trước đó, tháng 11, họ Đặng đã đi các nước Thái Lan, Mã Lai, Singapore… có tuyên bố các nơi đây rằng TQ sẽ dùng vũ lực nếu VN tấn công Kampuchia. Như thế, TQ đã lo « bao sân » trước khi đánh VN 17 tháng 2 năm 1979. Tất cả các nước đều không phản đối việc dọa đánh VN của Đặng Tiểu Bình. Điều này dễ hiểu, sau 30-4-1975, VN bị cô lập hoàn toàn ở Đông Nam Á. Nguyên nhân là do thái độ hung hăng hiếu chiến của VN, sau khi ký kết hiệp ước an ninh với LX cuối năm 1978, sau khi tham gia khối COMECON, đòi đánh sang đến cả Thái Lan. Khối ASEAN vì thế hợp tác với TQ để chống sự bành trướng của LX, qua mũi nhọn xung kích là VN.

Lý ra cuộc chiến đánh bọn đồ tể diệt chủng Pol Pot – Ieng Sary của VN là một cuộc chiến có chính nghĩa, nhưng vì tham vọng quá lớn của lãnh đạo CSVN, muốn biến Kampuchia thành một chư hầu, dự định đóng quân lâu dài, khiến thế giới lên án buộc VN phải rút quân về.

Nhưng đó cũng là kế hoạch của TQ, làm cho VN sa lầy tại Kampuchia, làm VN chẩy máu đến chết.

Đối với LX, từ năm 1978, khi Đặng Tiểu Bình trở lại chính trường, việc hòa hoãn có khuynh hướng tích cực. LX do lo ngại trục Bắc Kinh – Tokyo – Washington thiết lập từ năm 1978 nên cũng tỏ ra niềm nở hơn với Bắc Kinh. VN gia nhập khối Comecon ngày 29 tháng 6, ký hiệp ước hợp tác và hữu nghị với LX ngày 3 tháng 11 năm 1978. Việc VN ký kết với LX hiệp ước hợp tác và hữu nghị đối với TQ có ý nghĩa chấp dứt mọi quan hệ gữa VN và TQ.

Ngày 25 tháng 12 năm 1978 quân VN tiến vào Kampuchia, đến ngày 11 tháng 1 năm 1979 đánh quân Pol Pot ra khỏi Nam Vang và các tỉnh lớn, Heng Samring tuyên bố nền cộng hòa nhân dân Kampuchia được thiết lập.

Việc quân VN nhanh chóng quét sạch quân Pol Pot ra khỏi Nam Vang và các tỉnh lớn ở Kampuchia đã làm cho phía TQ bị bất ngờ.

Ngày 17-2 TQ xua quân sang đánh VN. Kế hoạch đánh VN hiện nay có nhiều tài liệu, Việt Nam và TQ, đã được công bố. Tài liệu Châu Đức Lập (nguồn BBC ghi trên) kể lại như sau :

« Ngày 7-12, Ủy ban quân ủy trung ương có cuộc họp và quyết định mở một cuộc chiến hạn chế ở vùng biên giới phía nam của Trung Quốc… Chỉ thị nói rằng cuộc chiến sẽ tiến hành một cách hạn chế, trong phạm vi 50 cây số từ biên giới và kéo dài hai tuần… Đặng Tiểu Bình bổ nhiệm Xu Shiyou lãnh đạo quân từ Quảng Tây, Yang Dezhi lãnh đạo quân từ Vân Nam…. Cuộc xâm lấn phải nhanh, và toàn bộ quân phải rút về sau khi hoàn tất mục tiêu chiến thuật.
Ngày 23-1, Bộ Tổng tham mưu Trung Quốc họp và quyết định quân đội phải sẵn sàng hành động trước ngày 15-2. Hai ngày sau khi ông Đặng trở về sau chuyến thăm Mỹ và Nhật, hôm 11-2-1979, ông ra quyết định sẽ tấn công Việt Nam vào ngày 17-2. »

Mặc dầu VN đã có ký kết hiệp ước hỗ tương với LX, nhưng LX đã không có phản ứng đúng với mức độ cần có như cam kết. LX cũng đã lập lại việc này lúc TQ chiếm các đảo TS của VN năm 1988.

6. Bài học nào qua cuộc chiến này ?

Cuộc chiến này đã là một bài học sâu sắc cho cả hai bên lâm chiến.

Cuộc chiến không hề đem một lợi lộc nào cho VN, ngoài việc cướp đi sinh mạng hàng chục ngàn (có thể tới 50.000) thanh niên, hàng chục ngàn dân lành vô tội và tạo ra biết bao  thuơng binh, cô nhi, quả phụ. Cuộc chiến cũng tàn phá các tỉnh Lào Cai, Cao Bằng, Hà Giang, Lạng Sơn… khi quân TQ rút đi, các tỉnh này trở thành bình địa.

Cuộc chiến đáng lẽ đã tránh được, nếu VN không phạm sai lầm và hiểu chiến lược của TQ.

Sai lầm trọng đại nhứt của CSVN là tỏ thái độ vô ơn trắng trợn đối với TQ. Có vấn đề Kampuchia hay không, TQ cũng sẽ cho VN « một bài học », không vào năm 1979 thì sẽ vào lúc khác. Sự trở mặt của VN năm 1978, gia nhập COMECON và ký hiệp ước an ninh với LX, không chỉ đe dọa TQ mà còn trực tiếp đe dọa toàn vùng Đông Nam Á. Các nước trong vùng lo ngại hệ quả Domino. Việc này khiến các nước trong vùng thân thiện và thiết lập ngoại giao với TQ. Sự trở mặt của VN cũng đã bắt cầu cho TQ và Hoa Kỳ thân thiện với nhau, tất cả nhằm mục tiêu cô lập Liên Xô (và VN).

Trong khi, sau 1975, giả sử VN « khai thông ngoại giao » với TQ bằng cách chấp nhận ảnh hưởng của TQ qua thực thể chính trị MTGPMN với một mực độ nào đó, (trong một thời gian chấp nhận được), chắc chắn sẽ không có cuộc chiến 1979.

Đối với dân Khmer, CSVN đã có những hứa hẹn không thể giữ lời : VN không thể trả lại cho nước này các vùng đất đã trở thành của VN (theo các nguyên tắc của quốc tế công pháp : Công ước Vienne 1969 và nguyên tắc « uti possidetis »).  

Lãnh đạo CSVN đã có những lựa chọn tệ nhất, lấy giải pháp xấu nhất, điên rồ nhất, có hại nhất cho đất nước và dân tộc VN.

Sau 1975, nếu VN không mù quáng áp dụng các chính sách kinh tế XHCN, không có các chính sách học tập cải tạo, không trả thù người dân miền Nam, không đánh người Việt gốc Hoa v.v… thì vị trí của VN hôm nay đã sánh ngang, ít nhất, với Đại Hàn rồi !

Hơn ba thập niên dư âm cuộc chiến vẫn còn, linh hồn hàng chục ngàn chiến sĩ hi sinh bảo vệ đất nước vẫn còn đang vất vưỡng, hương tàn, khói lạnh.

Lãnh đạo VN đã cố gắng che đậy, không cho làm lễ tưởng niệm, vì họ muốn làm hài lòng TQ. Lãnh đạo CSVN đang chạy trốn quá khứ, đang trốn cả sự thật, không dám nhận lãnh trách nhiệm về đổ vỡ của mình gây ra. Lãnh đạo CSVN hiện đang trong gọng kềm của TQ. Hôm nay họ mới thấy thấm thía cái vị thất bại chua cay của cuộc chiến 1979 mà họ tuyên truyền là người chiến thắng ! VN hơn 3 thập niên sau vẫn không khá hơn VN 3 thập niên trước, vẫn là một nước nghèo, vẫn ngữa tay xin trợ giúp từ các tổ chức thế giới ; mâu thuẫn dân tộc vẫn sâu sắc, không giải tỏa vì chính sách hòa giải dân tộc vẫn chưa thực hiện.

Bài học cuộc chiến 1979 lãnh đạo VN chỉ hiểu lờ mờ !

Về phía TQ, bài học cuộc chiến 1979 có thể xem là cơn sốt vỡ da để lớn. TQ đã thành công phát triển thế và lực hiện nay là do từ những thất bại chiến lược của CSVN. TQ hiện nay là người khổng lồ so với TQ năm 1979. TQ đã phát triển vượt mức về mọi mặt, nhất là quân sự. TQ đã hiểu rất rõ cuộc chiến 1979, vì tất cả đều rạch ròi trong chiến lược của TQ.

Trương Nhân Tuấn

Sách tham khảo : La Tentation Impériale – politique extérieure de la Chine depuis 1949, tác giả François Joyaux, Paris 1994, ISBN 2-11-081331-8 ; Sự Thật Về Quan Hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua, NXB Sự Thật, tháng 10 năm 1979.
Tài liệu : Nguồn BBC.