lundi 26 décembre 2016

Nhật ký tháng chín (2016)


7-9
Phán quyết 12-7 của Tòa Trọng tài Thường trực "chỉ mành treo chuông".
Như vậy là có 2 chống (TQ và Nga), một thuận (Mỹ), trong 5 nước ủy viên thường trực thuộc Hội đồng Bảo an LHQ về phán quyết ngày 12-7 của Tòa Trọng tài Thường trực. Hai nước còn lại, Anh và Pháp, thì chưa chính thức lên tiếng.
Bốn nước TQ, Nga, Anh, Pháp đều là thành viên của UNCLOS. Hoa Kỳ là nước duy nhứt thuộc HĐBA LHQ chưa thông qua UNCLOS.
TQ, từ đầu, đã biểu lộ lập trường không nhìn nhận và tham gia vụ án. Sau khi Tòa ra phán quyết, TQ tuyên bố không nhìn nhận đồng thời cho rằng phán quyết vô nghĩa và không có hiệu lực đối với TQ.  
Nga, nhân tham dự Hội nghị G20 ở Hàng Châu hôm kia, TT Putin tuyên bố ủng hộ lập trường của TQ (về phán quyết của Tòa CPA 12-7).
Có nhiều ý kiến của chuyên gia "quốc tế" về lập trường của Putin. Có người cho rằng thái độ của Putin đến từ việc Ukraine lăm le kiện Nga lên CPA về vùng "độc quyền kinh tế" của Crimée. Theo tôi việc này không (hẵn) đúng.
Trước khi Nga chiếm Crimée, hai bên Nga và Ukraine có lập trường đối nghịch về việc phân định biển Azov và eo biển Kertch (nối biển Azov và Biển Đen). Dầu vậy biển Azov đã được hai bên giàn xếp phân chia qua một thỏa thuận năm 2003. Nhưng tranh chấp eo biển Kertch không giải quyết (vì đường đẳng sâu eo biển nằm về phía Ukraine). Việc này đã khiến Putin quyết định chiếm Crimée. Phần lớn dân chúng Nga ủng hộ Putin, mặc dầu quyết định (chiếm Crimée bằng vũ lực) đi ngược lại các nguyên tắc nền tảng xây dựng lên LHQ.
Sau khi Crimée thuộc về Nga, dĩ nhiên hai bờ eo biển Kirtch hoàn toàn do Nga kiểm soát. Trong khi biển Azov, trong chừng mực, trở thành "nội hải" của Nga.
Vì vậy Ukraine khó có thể kiện Nga ra Tòa CPA vì các lý do liên quan đến vùng kinh tế độc quyền của Crimée. Điều này hiển nhiên, khi vấn đề "chủ quyền" Crimée chưa giải quyết thì nói đến vùng EEZ của Crimée là chuyện "xa vời".
Có thể, Ukraine đang gặp khó khăn vì khi Crimée thuộc Nga, phán quyết của Tòa Công lý Quốc tế (CIJ) năm 2009 giữa Ukraine và Roumanie về việc "phân định Biển Đen" có thể trở thành "caduc". Yếu tố thứ ba là Nga sẽ làm cho phán quyết này không thể áp dụng. Trong khi Ukraine bị "bít đường" ra Biển Đen. Điều này hoàn toàn không "nhằm nhò" gì tới Nga.
Theo tôi, thái độ của Putin, trong chừng mực cho thấy hai bên Nga và TQ đang đứng về một phe, mục đích làm áp lực với Mỹ nhằm thay đổi "trật tự pháp lý" của thế giới đã được thiết lập từ sau Thế chiến Thứ II. Tức là, hai "nước lớn" Nga và TQ, muốn phần còn lại của thế giới "nhìn nhận" quyền "sinh tồn" và lợi ích "chiến lược" của hai quốc gia này. Đó là nhìn nhận các đảo HS và TS (và Biển Đông) thuộc về TQ, cũng như Crimée (biển Azov, Biển Đen) thuộc về Nga.
Thái độ của Hoa Kỳ, nhân tham dự Hội nghị G 20 tại Hàng Châu, Obama có thảo luận bên lề (nhấn mạnh chữ "bên lề") với Tập Cận Bình. Tin tức cho biết Obama "kêu gọi" TQ tuân thủ Luật biển UNCLOS.
BBC tường thuật: "Thông cáo của Nhà Trắng nói ông Obama đã nhấn mạnh Trung Quốc, là nước tham gia UNCLOS, cần tuân thủ các ràng buộc theo công ước này." Cũng theo BBC: "Tập Cận Bình nói Trung Quốc sẽ tiếp tục “bảo vệ” chủ quyền lãnh thổ, quyền và lợi ích hàng hải ở Biển Đông."
Tức là Hội nghị G 20 không có bàn luận về "phán quyết" ngày 12-7 của CPA. Ngay cả trong buổi nói chuyện "bên lề" với Tập Cận Bình, Obama cũng không nói về "phán quyết 12-7" của CPA, mà chỉ nói chung chung về việc TQ cần "tuân thủ" UNCLOS. Vấn đề là Hoa Kỳ là nước chưa thông qua Luật Biển 1982. Vì vậy tiếng nói của Obama có phần gượng ép.
Trong khi nước Pháp, lý ra là quốc gia có "thẩm quyền" hơn cả về HS và TS, vì Pháp là quốc gia đã từng làm chủ hai quần đảo này, trước khi giao lại cho VN. Đến nay Pháp vẫn "im lặng", không có lập trường rõ rệt ủng hộ phía nào (TQ hay VN) có chủ quyền ở HS và TS. Về phán quyết 12-7 của Tòa CPA, Pháp vẫn chưa có tuyên bố chính thức, trong khi phe Front National (Mặt trận Quốc gia) thì có khuynh hướng chống lại pháp quyết. Phe này cho rằng phán quyết đã làm thiệt hại của Pháp ở một số đảo (nhỏ) rải rác các nơi ở Thái Bình dương hay Ấn độ dương.
Ngay cả Việt Nam, là bên mà các chuyên gia quốc tế cho rằng được hưởng nhiều lợi ích đến từ phán quyết 12-7 của CPA, đến nay vẫn không có tuyên bố rõ rệt về nội dung phán quyết. Phát ngôn nhân BNG VN từng lên tiếng cho rằng VN "ghi nhận" phán quyết 12-7 của Tòa. Điều này cũng được ghi trong "tuyên bố chung" giữa VN với Ấn Độ. Ta chờ xem Tuyên bố chung sắp tới giữa VN và TQ về phán quyết 12-7 là thế nào. Nhưng theo báo chí từ TQ, VN đã "tôn trọng quyết định" của TQ (về phán quyết 12-7).
Về phía Phi, là phía "trong cuộc" trong vụ án Phi-TQ trước Tòa CPA, từ khi tổng thống Duterte lên nắm quyền ta thấy có sự thay đổi lập trường ngoạn mục. Thế giới chưa hề có tiền lệ một bên đi kiện được tòa phán thắng kiện, lại có những hành vi ủng hộ phe mình kiện, đi ngược lại tinh thần của phán quyết.
Điều "nảy nhổm" là TT Duterte từng nói hớ về giả thuyết Phi ra khỏi LHQ. Điều này trùng hợp với "plan B" của TQ (và Nga). Nếu bị dồn ép đến đường cùng, (Nga ở vấn đề Crimée và TQ ở vấn đề Biển Đông), hai nước này sẽ rời khỏi LHQ và (cùng một số nước khác) thành lập một tổ chức LHQ tương đương.
Thái độ "xếp ve" của Obama, khi bị tiếp đón lạnh nhạt, nghi lễ "đơn giản" tới mức "sỉ nhục" bởi chủ nhà. Hội nghị G 20 ở Hàng Châu người ta chỉ nói những gì TQ cho phép nói. Đó là phục hồi kinh tế thế giới, giàn xếp vấn đề Syrie (là nguyên nhân các cuộc di dân ở Châu Âu)... "Món quà" của TQ xem ra là rất lớn cho các nước, vì TQ đã ký thông qua Hiệp định Paris về thời tiết. Không lời nào nói đến "Biển Đông" hết cả.
Dĩ nhiên, kỳ họp Thượng đỉnh ASEAN ở Lào đang tổ chức, cũng sẽ không nói về phán quyết 12-7. Phía liên quan là Phi đã cho biết là họ thương lượng "tay đôi" với TQ về vấn đề này.
Dĩ nhiên là (học giả) VN rất tẽn tò. Câu hỏi (mà tôi đặt ra trước đây) làm thế nào để phán quyết 12-7 được tôn trọng đã trở thành chuyện "không tưởng" đối với VN. Có thể TQ sẽ "tôn trọng" phán quyết đối với Phi, nhưng đối với VN thì... còn lâu! Ngay cả ông thủ tướng Phúc cũng đã nói: tôn trọng lập trường của TQ. Chuyện Biển Đông, chuyện phán quyết 12-7, đối với VN, tình hình rất là "chỉ mành treo chuông".
Bây giờ VN quay sang chuyện "mua vũ khí".
Vụ TT Pháp François Holland qua thăm VN (một công đôi ba chuyện mà chuyện chính là tham dự Hội nghị G 20 ở Hàng Châu) cũng gây hứng cho một số "học giả" VN. Những người này cho rằng quan hệ "chiến lược" VN và Pháp sẽ được thắt chặt. Pháp sẵn sàng bán cho VN vũ khí loại mà VN muốn.
Tôi nghĩ là học giả VN đừng nên nghĩ tới chuyện "súng đạn" nữa. Để quân đội họ làm chuyện đó. Làm vậy người ta (như tôi, thí dụ vậy) nghĩ rằng quí vị chuẩn bị "giàn lửa thiêu" mới. Hãy để cho đảng CSVN làm chuyện mà họ toan tính.
Giao các đảo TS cho TQ lý ra không cần phải dàn cảnh cuộc chiến 1988. Bây giờ cũng vậy, không cần "cuộc chiến" nào hết cả. Chết bấy nhiêu đó là đủ rồi.   


8-9
Bảo vệ lãnh thổ từ xa.
Lãnh đạo CSVN gần đây thường thể hiện "trí tuệ đỉnh cao", làm cái chi cũng có "tầm", có "đỉnh".
Vụ Formosa với hệ quả biển chết, người dân cũng "chết đứng"  theo. Cái cách "giải quyết đỉnh cao" của lãnh đạo là ưu tiên cho dân Hà Tĩnh đi xuất khẩu lao động. Nhứt cử tam tứ tiện.
Cái "tiện" thứ nhứt là Formosa tiếp tục "xử lý chất thải". Cho dầu "biển chết" lan tới Cà mau thì cũng là phương cách "giữ nước từ xa". Cái tiện thứ hai, tống cổ bọn dân chống đối ở đây đi làm lao nô cho khuất mắt. Cái tiện thứ ba, là đảng thu được ngoại tệ. Lao nô, còn gọi là "bán máu" hay "bán mồ hôi", thì cũng là món hàng "kinh tế", cũng là "giữ nước từ xa".
Vấn đề là "giữ nước" ở đây là giữ nước nào ?.
Câu hỏi đặt ra có vẻ "tréo ngoe", không nước VN thì nước nào vô đây ?
Không có gì tréo ngoe cả. Nếu ta biết quan niệm "quốc gia", "tổ quốc" của Engels là gì, của Mác ra sao ? của Lê Nin là như thế nào ? ta sẽ có câu trả lời.
***
Một bài viết của học giả VN (đăng trên báo nước ngoài) cho rằng nội bộ VN chia làm hai phe: một phe ủng hộ nội dung phán quyết ngày 12-7 của Tòa Trọng tài Thường trực (CPA), phe kia thì chống. Lập luận cho rằng sở dĩ có phe chống đối là vì, VN là nước có chủ quyền ở nhiều đảo TS, ủng hộ phán quyết 12-7 là chấp nhận các đảo này không có hải phận kinh tế độc quyền 200 hải lý (zone économique exclusive).
Ý kiến này cũng nhằm giải thích vì sao VN đến ngày hôm nay vẫn không đưa ra một tuyên bố lập trường nào về phán quyết 12-7.
Thực ra sau khi Tòa CPA ra phán quyết, Phát ngôn nhân Bộ Ngoại giao VN có ra tuyên bố "ghi nhận phán quyết của Tòa".  
Ý nghĩa của sự "ghi nhận", tức là "notification", theo luật quốc tế, là quốc gia "nhận được, biết được sự việc này". Theo tập quán quốc tế, một quốc gia sau khi ghi nhận một sự việc quốc tế nào đó, nếu không có công văn phản đối, sự việc đó được hiểu ngầm là sự "mặc nhiên đồng thuận".  
Một thí dụ. Công hàm 1958 của Phạm Văn Đồng là một "ghi nhận - notification" của VN về Tuyên bố của TQ về lãnh hải và chủ quyền lãnh thổ. Việc "ghi nhận" ở đây nhằm mục đích thông báo cho TQ (và quốc tế) biết rằng VNDCCH đã "biết được" ý định của TQ về lãnh hải và chủ quyền lãnh thổ.
Nếu ngừng ở đó thì Công hàm 1958 có một hiệu lực pháp lý giới hạn. Tức là VN sau này có thể "nói ngược" ở một số nội dung nào đó. Nhưng Công hàm, ngoài việc "ghi nhận - notification" còn có ghi thêm từ "tán thành".
Từ "tán thành" trong công hàm ví như những cây đinh đóng nắp hòm. Không biết người trong hòm chết chưa, nhưng khi đinh đã đóng, không chết cũng phải chết.  Công hàm 1958 của ông Phạm Văn Đồng vì vậy là một công cụ hữu hiệu "giữ nước từ xa".
***
Dầu vậy ý kiến cho rằng nội bộ VN không thống nhất, trong chừng mực, lại rất thuyết phục.
Ta không loại trừ việc trong thời gian tới, VN ra tuyên bố chống lại (một số nội dung) phán quyết 12-7 của Tòa CPA.
Câu hỏi đặt ra là VN có thể phản đối ở điều gì?
Theo ý kiến của các học giả VN thì VN có thể phản đối phán quyết ở việc Tòa xác định sai tình trạng pháp lý "đảo" của các thực thể ở TS.
Tức là, khác với ý kiến của Tòa, các đảo ở TS không phải chỉ toàn là "đá", một số đáp ứng được các điều kiện về "đảo" theo điều 121 UNCLOS.
Ý kiến của các học giả VN vì vậy trùng hợp với ý kiến không chỉ của Đài Loan, mà còn của TQ.
TQ (và Đài Loan) cho rằng họ có "chủ quyền và quyền chủ quyền" ở các đảo TS và "vùng nước chung quanh". Đây là một trong hai lập luận nền tảng của đường chữ U chín đoạn của TQ. (Lập luận kia là quyền lịch sử của TQ).
Việc chậm ra tuyên bố về phán quyết, thì ra do là tranh chấp trong nội bộ CSVN thế nào để "bảo vệ lãnh thổ hữu hiệu từ xa" ?
***
 
Nhưng không thể loại trừ một lý do khác, là VN không thể ra tuyên bố "ủng hộ" phán quyết 12-7 của tòa CPA, đơn giản vì lời đe dọa của TQ: nếu VN ra tuyên bố ủng hộ, TQ sẽ "đánh VN sặc máu mũi".


9-9
Giữ nước từ xa (tiếp)

TQ cũng có "sách lược" giữ nước từ xa, nếu xét lại thì thấy là rất hữu hiệu.
Hữu hiệu là vì không chỉ TQ giữ được nước, mà còn phát triển, đưa đất nước lên hàng "đại quốc". Vấn đề là những lãnh đạo TQ "đéo" cần biết người đẻ ra "sách lược" này là ai, trước đó ai đã áp dụng. Điều duy nhứt quan trọng đối với họ là "sách lược" này có thể giúp gì cho đất nước TQ ?
Sách lược "giữ nước từ xa" của TQ vốn là tác phẩm "Không gian sinh tồn", tạm dịch từ “L’Espace Vital - Lebensraum ”, là một tác phẩm nghiên cứu về “địa lý chính trị” – Géopolitique – nổi tiếng của Friedrich Ratzel xuất bản năm 1902.
Người đầu tiên "bưng" các học thuyết từ tác phẩm này cho trường hợp TQ là ông Tưởng Giới Thạch. Cha nội này có một tuyên bố xanh rờn dẫn lại từ (sách giáo khoa - khoa học chính trị Pháp) đại khái như sau:
"Le territoire de l’Etat chinois est délimité par les besoins de son existence et par les bornes de sa culture".
Tức là, đại khái nhu cầu (sinh tồn) của dân Trung Hoa tới đâu thì lãnh thổ của TQ mở ra tới đó. Lãnh thổ này được xác định bằng các cột mốc văn minh Trung Hoa.
Yêu sách đường chữ U chín đoạn của TQ (và Đài Loan) hiện nay là thể hiện 100% ý chí của Tưởng Giới Thạch.
Lập luận của TQ, dân TQ 1 tỉ 300 triệu người, chiếm đại khái 1/6 dân số thế giới. Hiển nhiên dân TQ có "quyền" hưởng 1/6 tài nguyên của địa cầu.
Ở Biển Đông, tổng số dân các quốc gia chung quanh cũng không đông bằng một tỉnh của TQ. Vì vậy yêu sách 90% Biển Đông là "hợp lý".
Đặng Tiểu Bình, kế thừa tư tưởng của Tưởng giới Thạch, mặc dầu hai cá nhân này trên lý thuyết là "không đội trời chung", cũng như thể chế chính trị hai bên lục địa và Đài Loan là tương khắc.
Vậy mà họ Đặng đã áp dụng "ngon ơ" tư tưởng của họ Tưởng. Các thế hệ tiếp theo: Giang Trạch Dân, Hồ Cẩm Đào... cho tới bây giờ Tập Cận Bình vẫn tiếp tục theo đuổi "tư tưởng" của Tưởng Giới Thạch. Chẳng thấy thằng "chệt" nào lên tiếng chê trách các lãnh đạo lục địa đã "ăn cắp" tư tưởng của "ngụy" Tưởng Giới Thạch.
Một "bí quyết" để trở thành "đại quốc", được ghi trong cẩm nan "Không gian sinh tồn", là bí quyết "muốn trở thành cường quốc thì không thể để các quốc gia lân bang trở thành cường quốc".
Mấy cha nội Mao, Đặng, Giang, Hồ, Tập... phải nói là "xuất sắc" trong việc "xử lý" với Việt Nam.
VN bây giờ thụt hạng ở ASEAN, xuống đứng dưới Campuchia và Lào.
Từ những năm sau Thế chiến Thứ II, Mao Trạch Đông đã ưu ái đội chiếc nón cối của mình cho Hồ Chí Minh. Sau 1949 lực lượng VM của ông Hồ được họ Mao vũ trang từ a đến z. Từ cây súng, viên đạn, viên thuốc cho tới miếng lương khô... "Bộ đội cụ Hồ" ai cũng đội cái nón cối (của quân đội nhân dân TQ). "Bác Hồ thì cũng chính là bác Mao". Bộ đội cụ Hồ vì vậy cũng là bộ đội bác Mao. Từ 1949 cho tới hôm nay, quân phục của bộ đội hai bên chỉ là một kiểu. Ngay cả "ngọn cờ tổ quốc", cũng một kiểu, nền đỏ sao vàng.
Sách lược "giữ nước từ xa" của TQ, nếu có chút hiểu biết, thì thấy rõ ràng là họ "bưng" của người khác (Đức), chớ không hề do Tôn tử, Ngô Tử... gì ráo.
Vấn đề là họ đã "nuôi" được một lũ tay sai đắc lực. VN xem như là trái dưa bị thúi ruột. Bỏ đi. Đất nước VN đã bị đầu độc từ Nam tới Bắc. Dân tộc VN thì bị "ngu dân", từ những thứ nhồi nhét gọi là "đẳng cấp" bling bling của những người sống bằng ánh đèn, son phấn... cho tới tầng lớp "trí thức" nhiều chữ nghĩa nhưng lại như cây chùm gởi, ăn theo, thiếu sự suy nghĩ độc lập.  

13-9
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhân dịp tham dự "Hội chợ TQ-ASEAN" tại Nam Ninh (Quảng Tây) ngày 8 tháng 9 mà VN là "quốc gia danh dự", tiện đường đến Bắc Kinh xin được diện kiến đồng nhiệm TQ là Lý Khắc Cường ngày 12-9.
Một công hai chuyện, trước đó ông Phúc đã được các quan chức Quảng Tây tiếp đãi với sự hiện diện của phó thủ tướng TQ Trương Cao Lệ. Dư luận VN "la làng", ông Phúc mờ nhạt trước đại diện các quốc gia khác thuộc ASEAN. Người ta cho rằng ông Phúc bị phía TQ chơi khâm, "quốc gia danh dự" không được tiếp đãi nồng hậu bằng các nước khác. Cách tiếp đãi ông Phúc, ta thấy ngay rằng TQ đưa VN xuống ngang hàng với tỉnh Quảng Tây. Nghi lễ dành cho ông Phúc ở đây rõ ràng là như vậy. Vấn đề là ông Phúc vẫn vui cười hể hả.
Có lẽ nhờ dư luận "la làng" mà thái độ của TQ thay đổi.
Ở Bắc Kinh việc tiếp đón ông Phúc với nghi lễ quốc khách, 19 cú đại bác cùng với việc duyệt hàng quân danh dự. Lòng tự ái nhược tiểu được xoa dịu. Nhưng bề ngoài không thể che dấu được tư thế kém của VN: ông Phúc phải "chun qua lỗ chó hàng rào" mới được được diện kiến bệ rồng.
Đây không phải là điều mới. Vua chúa VN ngày xưa, mỗi lần sang TQ xin được "sắc phong" đôi khi cũng khổ nhục tư bề. Quan chức TQ được lệnh không cho mở "cửa lớn" (Trấn Nam Quan), sứ VN phải đi qua cửa phụ dành cho dân giã.
Với tư thế "dưới cơ", vì vậy không hy vọng gì nhiều ở chuyến đi của ông Phúc. Việc khẳng định VN là "trạm đầu" của "con đường tơ lụa trên biển", có thể khiến TQ mở hầu bao cho VN một khoản ngân sách. Ở Nam Ninh, ông Phúc nói ráo nước miếng "quảng cáo" môi trường đầu tư ở VN để dụ tư bản TQ. Việc này xem ra là thừa. TQ được xếp hạng 9 các quốc gia đầu tư vào VN với tổng số vốn là 11 tỉ đô. Nhưng kim ngạch thương mại hai bên đạt hàng trăm tỉ mỗi năm, phía VN thâm thủng khoảng 40 tỉ. Môi trường đầu tư của VN như vậy là "hảo lớ" với tư bản TQ lắm rồi. Hàng lậu của TQ từ lâu đã tràn ngập, bóp chết hàng nội địa VN. Về kinh tế, VN đã trở thành một "chư hầu" của TQ. Những chuyện "lặt vặt", như vụ đông lạnh công trình xe lửa điện Cát Linh - Hà Đông cũng được ông Phúc nhắc nhở. Ngoài ra, nếu ta đọc bài báo tường thuật buổi gặp gỡ giữa Trương Cao Lệ và ông Phúc, ta thấy không có chuyện gì là "đột phá" mang tính "chiến lược" trong cuộc gặp gỡ Lý Khắc Cường - Nguyễn Xuân Phúc ở Bắc Kinh.
Phóng viên BBC tiên đoán rằng ở Bắc Kinh hai bên "bàn chuyện lớn", rằng TQ mong đợi ở VN không đi theo bước chân của Phi để kiện TQ ở Biển Đông.
Theo tôi, sau khi Tòa CPA ra phán quyết ngày 12-7, VN không còn lý do nào để đi kiện TQ ở Biển Đông. Ở vùng TS thì mọi việc đã được Tòa CPA làm sáng tỏ. Vấn đề là việc thực thi (luật Biển). Còn ở Hoàng Sa, rủi ro quá lớn, phần thua nhiều hơn thắng, VN không phải là Phi để có một hồ sơ "bê tông".
Theo tôi, điều mà TQ mong muốn là "VN không ra tuyên bố ủng hộ phán quyết của Tòa CPA ngày 12-7".
TQ chấp nhận thái độ của VN hiện nay, "VN ghi nhận phán quyết của Tòa". Tất cả các nước ASEAN đều tỏ thái độ dè dặt về phán quyết của Tòa CPA 12-7, ngoại trừ Singapour đã có một thái độ khá rõ rệt. Thậm chí Phi, phía thắng kiện, bây giờ cũng tỏ ra không mặn mà yêu cầu TQ tuân thủ phán quyết nữa. Lãnh đạo ở đây cho biết sẽ thảo luận riêng với TQ về các tranh chấp.
TQ liên tiếp khẳng định các việc "không nhìn nhận thẩm quyền của tòa CPA, phán quyết ngày 12-7 của Tòa là vô hiệu lực". Trước đây không lâu, báo chí TQ dẫn lời Nguyễn Xuân Phúc, cho rằng tân thủ tướng VN "ủng hộ lập trường này của TQ".
Vì vậy kỳ này khó có thể TT Nguyễn Xuân Phúc bày tỏ một lập trường mới của VN về Biển Đông (như thúc đẩy TQ tôn trọng phán quyết của tòa CPA ngày 12-7).
Đối với Ấn Độ, quốc gia duy nhứt trong khu vực có thể "đối trọng" với TQ, mặc dầu ủng hộ VN, giúp VN (có giới hạn) về khí tài, nhưng mục đích của Ấn Độ là mong đợi VN ủng hộ nước này trở thành một thành viên thường trực của Hội Đồng Bảo an LHQ. Điều này sẽ đẩy VN vào thế lưỡng nan, bởi vì, cường quốc khác cũng có khả năng và tư cách giúp VN chống lại TQ là Nhật, thì nước này cũng muốn VN ủng hộ để giành chiếc ghế đó với Ấn Độ.
Việc Nga tập trận chung với TQ ở Biển Đông cho thấy hai quốc gia này "liên kết" lại để chống đối những bó buộc đến từ hiến chương LHQ. Có thể ý chí "bành trướng lãnh thổ" đã khiến hai quốc gia (vốn đối nghịch từ bản chất) tìm thấy điểm chung. Nhưng cũng từ điểm chung này lãnh đạo Nga phải ý thức rằng, một trong những mục tiêu chiến lược dài hạn của TQ là chiếm lại phần lãnh thổ mà Nga đã lấy của TQ từ thế kỷ 19. Dân số TQ quá đông, lãnh thổ và tài nguyên quốc gia giới hạn, vì vậy Nga (và Úc) là mục tiêu của TQ trong tương lai.
Nhưng từ sự việc thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đi thăm TQ trước, ta sẽ thấy rằng VN có phần nghiêng về Mỹ. Bởi vì chắc chắn trong tương lai gần Chủ tịch nước Trần Đại Quang sẽ mở chuyến thăm viếng Hoa Kỳ. TT Obama ở Diễn đàn ASEAN vừa qua cố gắng thuyết phục TQ thi hành phán quyết của Tòa CPA đồng thời cổ vũ các nước ủng hộ lập trường của hoa Kỳ.
Chuyến đi của TT Phúc sẽ không làm rõ rệt điều gì, cũng không khẳng định thêm điều gì. Ở Biển Đông, chuyện chính vẫn là kéo dài sự "mù mờ chiến lược" của các bên. Thông cáo chung giữa VN và TQ khi được công bố ta sẽ thấy "trọng lượng chính trị" của TT Phúc trong đảng và nhà nước.
Nhưng chuyến đi của ông Quang (trong tương lai), nếu VN nhận thức được đâu là lợi ích của đất nước và dân tộc mình, thì lãnh đạo phải biết mình nên làm gì.
Theo tôi, VN cần thay đổi thể chế, sao cho hai bên VN và HK chia sẻ nhiều giá trị chung. Nhờ nắm tay của Mỹ, VN mới có thể "thoát Trung" mà không bị tổn hại


16-9
Lỗi hệ thống hay hệ thống bị lỗi ?
Một hệ thống (thể chế) chính trị dầu hoàn hảo cách mấy cũng có "lỗi". Điều ghi nhận là ở các chế độ dân chủ những "lỗi hệ thống" luôn được nhanh chóng phát hiện và sau đó được bổ túc, sửa đổi, hoàn thiện lại  bởi những nhà lập pháp. Nhưng ở các thể chế độc tài cộng sản, các "lỗi hệ thống" phần lớn là các lỗi tự tại, tức lỗi từ nền tảng, từ lý thuyết chính trị cơ bản. Vì là lỗi tự tại, do đó không thể sửa đổi hay bổ túc để sửa lỗi. Muốn sửa chữa phải thay đổi hệ thống chính trị. Ta tạm gọi đó là "hệ thống bị lỗi".
Bài viết trên BBC được giới thiệu của "luật sư" kiêm "giáo sư" Nguyễn Vân Nam. Bài viết nói về "Trịnh Xuân Thanh và những lỗi hệ thống". Theo tôi, có vô số điều cần bàn luận lại. Nhưng xét ra, nguyên nhân của "những điều cần bàn luận" là do nhận thức sai của tác giả về "hệ thống". Bài viết có câu vầy:
"Vai trò của luật pháp, của hệ thống chính trị còn khá mờ nhạt. Dường như nó phải được cấp lãnh đạo cao nhất ấn nút cho từng trường hợp cụ thể thì mới bắt đầu vận hành. Đây là điều rất bất thường đối với một Nhà nước mà Việt nam đang muốn xây dựng: Nhà nước pháp quyền."
Chẳng có gì gọi là "bất thường" nếu tác giả hiểu được ý nghĩa của "nhà nước pháp quyền" mà đảng CSVN đang xây dựng trên đất nước.
Theo hiến pháp 2013, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Vậy "nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa" là gì ?
Cần mở một dấu ngoặc ở đây để nói về "nhà nước pháp quyền". Thế nào là "nhà nước pháp quyền"? Theo các học giả trong nước thì "nhà nước pháp quyền" dịch từ "Etat de Droit" trong tiếng Pháp (hoặc pháp quyền, đến từ "Rule of Law" trong tiếng Anh).
Đặt giả thuyết "nhà nước pháp quyền" mang các nội hàm của "Etat de Droit" và "Rule of Law". Có hai điều cơ bản để phân biệt một "nhà nước pháp quyền" với một nhà nước độc tài đảng trị: Một là "quyền lực quốc gia". Hai là "pháp luật".
Về "quyền lực quốc gia", trong một nhà nước "Etat de Droit", mọi quyền lực trong bộ máy nhà nước thuộc về nhân dân. Bất kỳ quyền lực nào thể hiện, nếu không thông qua "nhân dân", đều không chính thống. Ở các chế độ dân chủ pháp trị (người ta dịch là pháp trị chớ không ai dịch là pháp quyền), quyền lực nhà nước được phân bổ bằng các cuộc bầu cử tự do.
Về "pháp luật", mọi định chế nhà nước (hành pháp, lập pháp, tư pháp...), mọi sinh hoạt của nhà nước (chính trị, kinh tế, quốc phòng...), mọi quan hệ giữa người với người với tổ chức, hay với các định chế của nhà nước... trong xã hội đều được xây dựng trên pháp luật, bằng pháp luật và theo pháp luật.
Đóng dấu ngoặc.
Nếu ta xét Hiến pháp 2013 thì "nhà nước pháp quyền" của VN không hề có mối tương quan nào với "Etat de Droit" hay "Rule of Law".
Về "quyền lực". Điều 4 hiến pháp qui định: "Đảng là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội".
Điều này ý nghĩa là gì, nếu không phải là mọi quyền lực của quốc gia đều nằm trong tay đảng ?
Về "pháp luật", hiến pháp qui định "các tổ chức đảng và các đảng viên hoạt động trong khuôn khổ của hiến pháp và pháp luật" nhưng "đảng chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình".
Nhấn mạnh: đảng chịu trách nhiệm trước nhân dân chớ không chịu trách nhiệm trước pháp luật.
Tức là, "nhà nước pháp quyền" mà VN đang xây dựng, là nhà nước mà trong đó quyền lực nhà nước (và xã hội) thuộc về đảng nhưng đảng không chịu trách nhiệm trước pháp luật về các hành động của mình.
Vậy ta có thể gọi đó là "nhà nước pháp quyền" với nội hàm của "Etat de Droit" và "Rule of Law" hay sao ?
Vì vậy, không có cái gọi là "lỗi hệ thống" như tác giả đã viết. Hệ thống chính trị VN bị lỗi, cả "hệ thống bị lỗi", khi vận hành thì kết quả nó ra như vậy, không thể khác.
Thử đọc điều 95 khoản 1 Hiến Pháp: "Chính phủ làm việc theo chế độ tập thể, quyết định theo đa số".
Tức là mọi thành viên chính phủ, từ thủ tướng cho tới các bộ trưởng, nếu có quyết định (một vấn đề gì đó) sai, đưa tới hậu quả tàn phá lớn lao cho đất nước và nhân dân, thì những người này không có tội tình gì hết cả. Làm việc theo "tập thể", quyết định theo "đa số", thì sẽ không có ai chịu trách nhiệm về những sai lầm.
Thử xét lại các vụ Vinashin, Vinalines... Chỉ hai vụ này đã làm cho mỗi người dân VN gánh nợ (ít ra) là 500 đô la một đầu người. Hệ quả (tàn phá) của các xí nghiệp này đến nay vẫn chưa chấm dứt, vì còn các xí nghiệp con, những "gói nợ" ngân hàng (trong và ngoài nước)...
Rốt cục ông Trọng phải gạt nước mắt, vì không thể kỹ luật "đồng chí X".
Đây không phải là "lỗi hệ thống", mà hệ thống bị lỗi. Lỗi hệ thống chữa được (như trong các nước dân chủ). Hệ thống bị lỗi (như các hệ thống chính trị cộng sản) thì bỏ đi, không thể sửa.
Tác giả cũng nói dài dòng về việc "bổ nhiệm nhân sự".
Từ những ý kiến này ta có thể kết luận là tác giả không hiểu gì về nội hàm của "Etat de Droit", tức "Nhà nước Pháp quyền" (đặt giả thuyết rằng cách dịch này là đúng).
Trong một nhà nước như vậy thì không có việc "bổ nhiệm nhân sự" khơi khơi. Mọi việc phân bổ quyền lực nhà nước phải thông qua thẩm quyền của nhân dân (qua một cuộc bầu cử). Mọi cách thể hiện quyền lực trong xã hội phải tuân thủ các nguyên tắc của pháp luật.
Hiến pháp đã qui định, đảng không chịu trách nhiệm trước pháp luật. Mà đảng viên là một thành phần của đảng. Vậy đảng viên cũng không chịu trách nhiệm trước pháp luật về những hành vi của mình.
Một ông tướng công an gần đây đã họp báo, nói trước công chúng đại khái rằng công an không có thẩm quyền điều tra các đảng viên phạm pháp.
Trong một "Etat de Droit", tức "nhà nước pháp quyền" (theo cách dịch của trí thức VN), thì tất cả mọi người, từ quan lớn cho tới người tiện dân, đều phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những hành vi của mình.
Như vậy "nhà nước pháp quyền" của VN đang xây dựng (và thực thi) không phải là một "Etat de Droit" hay mang nội hàm "Rule of Law".
Những lỗi gọi là "lỗi hệ thống" ở đây thực ra là cả hệ thống bị lỗi. Lỗi từ nội tại, lỗi từ nền tảng. Vậy làm sao sửa lỗi ?
Vụ Trịnh Xuân Thanh rõ ràng là chuyện "dê tế thần" để răn đe, để xoa dịu lòng người.
TXT làm thất thoát (?) trên 3 ngàn tỉ đồng. Nếu TXT có lỗi trong vụ này thì TXT chỉ có "khuyết điểm" với đảng mà thôi.
Mà việc xét các "khuyết điểm" của TXT cũng không dễ dàng. Trường hợp "đồng chí X" ra sao thì TXT là như vậy. Quyết định của "tập thể" thì làm sao bắt cá nhân chịu trách nhiệm ?
Và TXT chỉ chịu trách nhiệm "trước pháp luật" khi, và chỉ khi, TXT bị tước thẻ đảng.
Trong nội bộ đảng còn chưa giải quyết một cách thuyết phục. Ông Trọng (cả vú lấp miệng em) chỉ đạo cho BKT trực tiếp giải quyết, là không đúng thủ tục của đảng. Vậy thì ai phục?
Trong bộ máy nhà nước, có hai "quyền lực" quyện vào nhau, lúc ẩn lúc hiện: đó là quyền lực nhà nước (hành pháp) và quyền lực đảng (chính trị).
Trong quốc gia, chính phủ (Gouvernement, ngữ nguyên có nghĩa là cái bánh lái), có bổn phận lèo lái con tàu. Vấn đề đảng là cái bánh lái, muốn quẹo đi đâu thì quẹo. Tàu mắc cạn, lỗi do chính phủ hay do đảng ?
Cứ bàn cãi về cái không thực "nhà nước pháp quyền" là tìm mọi cách để vá víu cho cái "hệ thống" đã hư từ cốt lõi. Bàn cãi vậy là mất thời giờ.


18-9
Tính chính danh của "quyền lực".
Tỉnh Hà Giang vừa đổ bể ra vụ "gia đình trị", ông bí thư tỉnh ủy họ Triệu ở đây đã phù phép "bổ nhiệm đúng qui trình" để cả nhà 8 người thuộc giòng họ Triệu nắm những chức vụ trọng yếu, "ngon ăn" trong tỉnh.  
Qui trình ở đây là qui trình nào?
Dưới thời phong kiến đế quyền, quyền lực quốc gia thuộc về ông vua. Ông vua lựa chọn ai đó ra làm quan tỉnh này, huyện này... thì người đó được "hồng ân" ra làm quan đầu tỉnh (hay đầu huyện). Trong quốc gia, ông vua là vị "chủ tể", quyền lực nằm trong tay cũng là "quyền lực chủ tể", ai cũng phải nghe theo.
Cái "qui trình" bổ nhiệm quan chức dưới thời này nó có tính "chính thống", ai cũng phục, vì "quyền lực" của vị quan đầu tỉnh đến từ "quyền lực chủ tể" là ông vua.
Để khẳng định tính "chính thống" của quyền lực, (không ai có thể dị nghị), các triều đại thường có một bộ luật. Việc bổ nhiệm quan chức vua phải dựa theo nhưng tiêu chuẩn, qui tắc trong luật mà làm. Quan văn, quan võ đều phải trải qua một cuộc khảo thí để biểu lộ tài năng. Người có tài năng "xuất chúng" thì được tuyển làm quan lớn.  
Dưới những chế độ cộng hòa, nền phong kiến đế quyền bị truất bỏ, "quyền lực chủ tể" của quốc gia thuộc về toàn thể người dân trong nước (nhân dân). Ta gọi "quyền lực chủ tể" đó là "chủ quyền".
Khi ông Hồ phất cờ kêu gọi dân ta đi theo, mục tiêu chiến đấu lúc đó rất rõ rệt: "bài phong đả thực". Tức là dẹp bỏ nền phong kiến đế quyền và đánh đuổi thực dân. Chế độ "cộng hòa" được thiết lập, thay thế nền phong kiến. Như vậy "quyền lực chủ tể", tức "chủ quyền", của quốc gia thuộc về nhân dân. Điều này luôn được khẳng định qua các bản hiến pháp.
Vấn đề là nguyên tắc phân bổ quyền lực trong quốc gia được thể hiện như thế nào?
Nếu theo nguyên tắc "nhà nước pháp trị" (Etat de Droit mà VN dịch là nhà nước pháp quyền) thì mọi quyền lực trong quốc gia đều phải phát sinh ra từ "quyền lực chủ tể". Mọi hành vi thực thi quyền lực trong quốc gia, nếu không thông qua "quyền lực chủ tể" (tức nhân dân), đều không có tính chính danh (ta có thể gọi là vi hiến).
Ở các chế độ dân chủ, quyền lực quốc gia được phân bổ bằng các cuộc bầu cử.
Nhân dân trong huyện bầu huyện trưởng. Nhân dân trong tỉnh bầu tỉnh trưởng. V.v...
Điều ghi nhận, chế độ phong kiến ở VN đã chấp nhận từ rất sớm việc "tự trị" trong không gian làng, xã. Các xã trưởng, thậm chí tri châu... đều do người dân trực tiếp lựa người tài đức trong làng, xã... chớ không do triều đình bổ nhiệm.
Trường hợp "giòng dõi nhà họ Triệu" ở Hà Giang, việc ông anh (làm bí thư tỉnh ủy) chỉ định em út của mình làm huyện trưởng, làm trưởng công an nọ kia... hiển nhiên... không đúng qui trình, theo quan niệm dân chủ (và trên nền tảng cộng hòa).
Hoặc là ông bí thư họ Triệu chuyên quyền, hoặc là "qui trình" có vấn đề. (Hoặc là ông Gia Cát Trọng đã biến nền cộng hòa xã hội chủ nghĩa của thành ra nền phong kiến đế quyền, trong đó Khổng lú làm vua).
Có chuyên quyền hay không ta chờ "ban kiểm tra" của đảng làm báo cáo.
Còn việc "qui trình" có vấn đề, điều này tôi đã nói từ lâu.
Ngay cả quyền lực trong tay đảng CSVN cũng không có chính danh.
Sau năm 1954, VNDCCH được thành lập. Những kẻ "có công", như ông Hồ, ông Đồng, Giáp, Chinh v.v... lên làm lãnh đạo. Cái "công trạng" của họ là cái "chính danh". Không ai dị nghị quyền lực trong tay họ.
Sau năm 1975, những ông Đồng, Chinh, Duẩn, Mười, Anh, Kiệt v.v... là những người thuộc thế hệ "có công". Vì họ đã đem lại chiến thắng. Quyền lực trong tay họ có tính "chính danh". Không ai dị nghị.
Nhưng bây giờ, không một cá nhân nào trong đảng gọi là có tư cách để nắm quyền lực quốc gia. Những người này ai đã có công lao gì với đất nước ?
Họ, một tập đoàn bất tài, lãnh đạo đất nước đã đưa đất nước ngày càng tụt hậu. Trong vòng chưa tới một thập niên mà VN đã xuống hàng cận chót ASEAN. Tài năng "kinh bang tế thế" của họ là gì? Tài nguyên khai thác cạn kiệt. Cây trên rừng đốn sạch. Cá dưới biển cũng thưa lần. Bây giờ tới nạn ô nhiễm. Họ đã rước bọn tư bản bất lương, như Formosa, vô "đầu tư", mà thực ra là để giết chết môi trường biển của VN, nơi nuôi sống hàng chục triệu người dân từ bao thế hệ.
Về tư tưởng, giả sử rằng lý thuyết Mác Lê vẫn là tư tưởng chỉ đạo, có tính chính thống để lèo lái đất nước.
Thì tất cả những đảng viên cộng sản đều là những tên bịp bợm, đạo đức giả. Bọn họ không có một "chất" gì gọi là "cộng sản", từ yếu tố "nhân đạo" cho tới lý tưởng thực thi công bằng trong xã hội.
Những đảng viên cộng sản là những tên "phản động", hơn cả những người phản động khác, trong đất nước này. Thử nhìn cách sống của một đảng viên. Ta thấy gì? Điều làm ta xốn mắt là bọn họ nếu không là những "đại gia" giàu sụ, thì cũng là những kẻ có quyền lực đầy mình. Có tiền, có quyền, mà quyền lực tuyệt đối, vô hạn, vì vậy họ trở thành những người thối nát tuyệt đối, vô hạn.
Tham nhũng, mua quan, bán chức, chuyên quyền... là hệ quả của một tập đoàn lãnh đạo phản động.
Họ cai trị đất nước bằng sự hung bạo của công an chớ không bằng một tư cách (chính thống) nào. Không có người dân nào (cam tâm) trao quyền lãnh đạo cho họ.
Cái "vấn đề" của "qui trình" là vậy.
Cái "qui trình" hư hỏng, đưa đến việc lựa chọn người lãnh đạo hư hỏng. Cái qui trình hư hỏng vì đảng lãnh đạo không chính danh. Quyền lực chủ tể của quốc gia đảng đã cưỡng bức, chiếm đoạt.
Vì vậy, làm sao có thể diệt trừ tham nhũng, khi mọi thất thoát, lỗ lã của xí nghiệp (quốc doanh) đều đúng "qui trình" ?
Làm sao có thể diệt được việc mua quan bán chức, chuyên quyền... khi việc bổ nhiệm nhân sự đều "đúng qui trình" ?
Một ông lãnh đạo cộng sản quốc tế cuối đời có nói một câu trứ danh: (những yếu kém của chế độ cộng sản) không thể sửa chữa. Phải phế bỏ nó đi.


19-9
Giữ nước từ xa (tiếp)
Cách đây khá lâu, người ta đồn rằng đảng CSVN ký kết với TQ một cam kết ở Thành Đô, (còn gọi là Hội nghị Thành Đô năm 1991), theo đó VN sẽ sáp nhập vào TQ trước năm 2030. Ban đầu đọc tin (đồn) này, bán tín bán nghi, bởi vì VN là một "quốc gia độc lập có chủ quyền", được LHQ nhìn nhận là một thành viên với đầy đủ tư cách pháp nhân, có quyền lợi và trách nhiệm. Quốc gia Việt Nam giải thể và sáp nhập vào Trung Quốc là điều không tưởng.
Nhưng nếu suy nghĩ sâu xa, kiểm chứng lại với những sự việc mới xảy ra trên thực tế, lòng ta không khỏi bâng khuâng.
Không thể chối cãi là khoảng thời gian gần đây lịch sử dựng nước và giữ nước của VN bị đặt lại. Không biết đó là "kết quả" của những "nghiên cứu khoa học" của các sử gia, hay đó chỉ là sản phẩm của một sự bịa đặt. Nhiều lần "người ta" góp ý, phê bình trên những "status facebook" của tôi trong chiều hướng như vậy.
Trường hợp Lý Thường Kiệt với bài "Nam Quốc Sơn Hà" mà nhiều sử gia VN xem đó là "bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên" của VN. Nhân vật lịch sử này bị xuyên tạc, bôi nhọ. Lại còn có nghi vấn cho rằng Lý Thường Kiệt không phải là tác giả của Nam Quốc Sơn Hà. Bằng chứng nào để (những người này) kết luận như vậy ? Gần đây, một video clip được loan truyền trên mạng, nếu ta có xem thì thấy rằng một vị lãnh đạo Phật giáo đang "thuyết pháp". Ý kiến của vị lãnh đạo tôn giáo này cho rằng việc Lý Thường Kiệt đánh thành Ung Châu (Nam ninh hiện nay) là "hỗn".  
Dĩ nhiên, nếu ta nghiên cứu với sử liệu của TQ thì Lý Thường Kiệt là một "thảo khấu", tức là "cướp". Nếu ta quan niệm TQ là "thầy", là "cha", thì hành vi của Lý Thường Kiệt là "hỗn". Còn nếu ta nhìn với cái nhìn độc lập của "người Việt" thì đó là cuộc chiến "phản công tự vệ".
Ta cũng thấy hiện tượng, khi những lãnh đạo đảng của TQ sang thăm VN, cờ ngũ tinh (năm sao) của TQ được biến thành lục tinh (6 sao). Ý nghĩa những ngôi sao trên lá cờ TQ, ngôi sao lớn biểu tượng dân tộc Hán, bốn ngôi sao nhỏ (hướng về tâm ngôi sao lớn) biểu tượng cho bốn dân tộc Mông, Mãn, Tạng và Hồi. Ngôi sao được (lãnh đạo VN) gắn thêm, dĩ nhiên biển tượng cho tộc Việt.
Một số ý kiến đóng góp trên các "status facebook" của tôi cũng cho rằng trước khi Pháp vào thì VN là một "bộ phận" của Trung quốc.
Vì vậy "không có lửa làm sao có khói"?
Lịch sử thế giới cận đại cho thấy một quốc gia có thể bị giải thể và phân chia ra thành nhiều quốc gia mới. Còn trường hợp một quốc gia tự giải thể và sáp nhập vào một quốc gia khác (như giả thuyết VN nhập vào TQ) là một việc chưa thấy.
Ta thấy trường hợp quốc gia Tiệp Khắc (Tchécoslovaquie) bị giải thể năm 1993, sinh ra hai nước mới: Cộng hòa Tiệp (Tchèque) và Cộng hòa Khắc (Slovaque). Ta cũng thấy quốc gia Nam Tư bị giải thể và khai sinh ra nhiều quốc gia khác. Điểm chung đưa đến việc giải thể (hầu hết) các quốc gia là những dân tộc sống trong quốc gia này không chia sẻ một lịch sử, một văn hóa hay một tôn giáo.
VN có thể bị phân liệt hay không ? Câu trả lời rõ ràng là có. VN có thể bị phân liệt thành hai (hay nhiều) quốc gia. Nguyên nhân là có hai khối dân tộc (Nam và Bắc) không cùng chung cái nhìn về lịch sử. Có nhiều dân tộc (thiểu số Tây Nguyên hay vùng biên giới Việt-Trung) không cùng văn hóa, huyết thống...
Ta có thể hình dung, khi quyền lực quốc gia bị suy yếu, VN có thể bị phân chia thành hai quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ sẽ trở thành hai quốc gia độc lập. Điều này sẽ được quốc tế dễ dàng công nhận, vì Hiệp định Paris 1973 có dự trù dân tộc miền Nam giữ được "quyền dân tộc tự quyết".
Ta cũng có thể hình dung các dân tộc thiểu số ở biên giới miền Bắc có thể tuyên bố độc lập và xin sáp nhập vào Vân Nam hay Quảng Tây. Điều này đã nhiều lần xảy ra trong lịch sử.
Nhưng việc VN sáp nhập vào TQ là điều không tưởng, vừa về ý chí dân tộc, vừa về công pháp quốc tế.
Điều quan trọng nữa là trên thực tế, TQ hiện nay "giàu" hơn VN. Tài nguyên lãnh thổ VN, ngoài vùng biển, thì phần lớn bị hủy hoại, không còn gì để thu lợi. Ngoài ra dân tộc VN là một dân tộc "cứng đầu". Đảng CSVN có thể "qui thuận" TQ, nhưng dân tộc VN chắc chắn là không. Vì vậy TQ không "ngu" gì cho VN sáp nhập vào.
TQ có lợi hơn, nếu đảng CSVN, qui thuận TQ. Sáp nhập vào VN sẽ là "cục nợ" cho TQ.
Vì vậy, ta có thể kết luận rằng, việc VN sáp nhập vào TQ trước năm 2030 là chuyện vô lý. Nhưng không phải vì vậy mà TQ không có những "tính toán" trong chiều hướng làm cho dân tộc VN bệnh hoạn, bạc nhược, đất nước VN tan hoang, lớp vì nhiễm độc các thứ kim loại nặng, lớp vì trở thành những khu "tự trị" của nước ngoài (kiểu Formosa).
Thủ tướng NX Phúc hôm rồi đi chầu Bắc Kinh, ta thấy tiến trình VN "tự diệt" đang gia tốc.
Đó là chính sách "giữ nước từ xa" của TQ. Đảng CSVN là một công cụ đắc lực để TQ thực hiện chính sách này.


20-9
Tôi có đọc loạt bài phỏng vấn ba kỳ bà Phạm Chi Lan trên Vietnamnet.
Theo tôi, tất cả những khó khăn của VN, không hẵn (nếu không nói là không thể) sẽ được giải quyết, nếu chỉ xét trên phương diện kinh tế.
Vì sao những nước độc tài trước đây như Hàn quốc, Đài Loan, Singapour... lại phát triển thần kỳ về kinh tế, liên tục từ sau Thế chiến Thứ II đến nay, trong khi VN, cũng là một nước độc tài, tại sao lại không phát triển được ?
Nếu tính từ thời "mở cửa", thì VN đã áp dụng kinh tế thị trường 30 năm. Từ khởi điểm, VN có ưu thế hơn hẵn các nước kia. VN có dầu khí, có đồng ruộng bát ngát, có bờ biển dài 3.000 km... đồng thời có một hệ thống đường lộ giao thông tương đối tốt để lại từ thời VNCH... mà các nước kia không có.
Trong thời gian đầu, nhờ "mở trói", kinh tế VN "bung ra" như sức giãn của lò-xo. Nhiều lãnh đạo "bạo mồm bạo miệng" nhân cơ hội lên tiếng "gáy" rằng nhờ đảng mà dân VN có "của ăn của để". Nhưng mặt thật của vấn đề là, thập niên sau đó, cố gắng cách mấy phát triển cũng "phẳng lì".
Phát triển kinh tế của VN chỉ nhờ vào việc khai thác tài nguyên và bán sức lao động. Kinh tế "phồn thịnh" trên sàn chứng khoán nhờ vào "bóng bóng" địa ốc. Nhưng khi thế giới có khủng hoảng, VN tuy là phên dậu nhưng cũng bị ảnh hưởng sâu xa. Để thoát thân ra khỏi "vũng lầy của nợ", lãnh đạo VN bấm bụng cho "phát triển bằng mọi giá". Hệ quả hôm nay với những Formosa, nói là nhà máy thép mà thực tế họ hoạt động như một nhà máy xử lý chất thải. Lãnh đạo đã biến VN thành "thùng rác công nghiệp" của các nước đang phát triển như TQ, Đài loan....
Bà Phạm Chi Lan có lần đã nói 'VN là một quốc gia không chịu phát triển".
Với "tầm nhìn" lãnh đạo như vậy VN vĩnh viễn không thể phát triển. Không phải người VN không muốn đất nước mình phát triển. Nguyên nhân là do lãnh đạo đã đưa đất nước vào ngõ cụt phát triển. Đất nước bị ô nhiễm, hàng triệu người dân mất công ăn việc làm. Tương lai sẽ có hàng triệu người dân bị bịnh nghiệt, không thể chữa.
Bây giờ nghe bà Phạm Chi Lan nói về ông tân thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc với "nhà nước kiến tạo". Từ thời ông Dũng đã nói vậy, bây giờ ông Phúc cũng nói vậy.
Những chuyện "tủn mủn" của ông Phúc, như chỉ thị giải quyết vụ quán "Xin chào", thực tế là để che dấu một vụ lộng quyền của cán bộ đảng viên địa phương. Chuyện này may mắn đã được báo chí để mắt tới. Còn hàng trăm ngàn, hàng triệu... chuyện khác mà cán bộ đảng viên lộng quyền tương tự, hay lớn hơn, xảy ra hàng ngày, khắp mọi nơi trên đất nước này.
Mớii nhậm chức, Ông Phúc có nói "ngon lành": tìm người tài chớ không tìm người nhà.
Vậy thì những chuyện chỉ có dưới thời "phong kiến", (mà có một cách rất hạn chế, vì thời đó còn có đạo đức và pháp luật), là nạn sứ quân gia đình trị. Một người làm quan là cả họ làm quan. Đồng chí cha "kê ghế" cho đồng chí con, đồng chí chồng "bổ nhiệm" đồng chí vợ, đồng chí anh "chỉ định" đồng chí em... tất cả đều "đúng qui trình".
Người ta tìm người nhà rồi sao ? Ông Phúc nói vậy nhưng làm sao giải quyết ? Phải không ?
Chuyện vụ Xin Chào, thực ra cũng có nhiều tình tự éo le. Những vị cán bộ đảng viên cậy quyền rốt cục bị "chuyển" đi chỗ khác. Vấn đề là chuyển đi đâu ? đi lên hay đi xuống ? Nhớ lại vụ "hoa cải" Đoàn Văn Vươn, cả một tập đoàn cán bộ đảng viên muốn cướp đất của người ta. Ông Đại tá Đỗ hữu Ca chỉ huy "trận chiến bi hùng sử  sách", rốt cục phá tan cơ ngơi nhà cửa của người ta, rồi bắt ông Vươn cùng anh em vô tù. Sau này ông Ca cũng được chuyển đi, mà chuyển lên "thiếu tướng".
Ông Phúc có thể làm gì với việc này?
Không thể phát sinh ra một "kiến tạo" bất kỳ, ngay cả "phục vụ". Ông thủ tướng cầm "vô lăng", tức tay lái, lái con thuyền. Nhưng đảng là cái bánh lái. Cái tay lái không gắn với cái bánh lái. Đảng muốn quẹo đâu thì quẹo, bất kể ông thủ tướng bẻ vô lăng lái về đâu.  
Theo tôi, vấn đề phát triển Việt Nam có ba bước đơn giản, nhưng là những bước đi cực khó cho lãnh đạo CS Việt Nam. Vì nó đòi hỏi đảng viên lãnh đạo phải hy sinh quyền lợi bản thân cũng như phải chấp nhận sự đe dọa về hiện hữu của đảng CSVN.
Bước thứ nhứt là "pháp trị hóa nhà nước" và "pháp trị hóa xã hội". Mục đích  nhằm thiết lập lại tính "chính danh của quyền lực" và "trật tự quyền lực" trong bộ máy nhà nước. Thiết lập "trật tự pháp lý" trong xã hội, mọi người phải có ý thức "thượng tôn pháp luật". Nạn tham nhũng chỉ có thể bị diệt trừ, đất nước chỉ có thể phát triển, khi mà luật lệ được áp dụng từ thượng tầng cho tới thứ dân.
Cái gọi là "pháp quyền", dùng pháp luật qui định quyền lực cho đảng, hiển nhiên không phải là "pháp trị - Rule of Law". Pháp quyền là đảng đứng trên và đứng ngoài pháp luật. Pháp trị là quyền lực của đảng bị giới hạn và kiểm soát bởi pháp luật. Tức là đảng đứng dưới và bị chi phối bởi pháp luật.
Bước thứ hai là "hòa giải quốc gia". Chỉ khi việc hòa giải được thực thi, những nguy cơ ly khai, chống đối... mới có hy vọng triệt tiêu. Khi hòa giải được thực thi, việc "kế thừa" nhà nước tiền nhiệm VNCH được thể hiện, VN mới có thể hóa giải những cam kết (với TQ) của nhà nước VNDCCH đồng thời củng cố được chủ quyền ở hai quần đảo HS và TS. Hòa giải là chìa khóa để tập trung sức mạnh của dân tộc nhằm bảo vệ đất nước.
Bước thứ ba là "dân chủ hóa chế độ". Nếu không "dân chủ hóa", phát triển của VN sẽ không bền vững.


21-9
Gia Cát Trọng đúng là "gia cát", không chút hỗ danh.
Theo hiến pháp và nội qui của đảng, ông Trọng có quyền lên "nắm" đảng ủy công an TW. Trước nay không có tiền lệ, TBT không tham gia đảng ủy TW công an, bởi vì lãnh đạo công an luôn là người của TBT, tuyên thệ "trung thành tuyệt đối với đảng".
Điều "mới" này cho ta thấy rằng thời gian vừa qua công an đã "thoát" ra khỏi "tay" của đảng, trong ý nghĩa ông Trọng ra chỉ thị mà công an đéo thi hành.
Việc này có nghĩa là ông Trọng đã nghi ngờ "lòng trung thành với đảng" của những vị lãnh đạo công an hiện tại (như TL).
Vấn đề là có thể ông Trọng "đồng hóa" TBT với "đảng".
Trước đây tôi có nói là vụ "thay thế" các chức vụ thủ tướng, chủ tịch nước... là "vi hiến". Thời đó ông Trọng cũng "đồng hóa" mình với "đảng", ý của ông Trọng trở thành ý của đảng. Vấn đề là ông Dũng, ông Sang... đã không "khiếu nại". Theo luật, nếu "người bị hại" không khiếu nại, thời gian sau kẻ "tiếm quyền" lại được "chính danh".
Ông Dũng tưởng rằng, khi "gài" được người của mình vào nắm công an thì hậu vận của mình được bảo đảm.
Lầm! Châu Du đã từng "hộc máu"!
Vậy là Gia Cát Trọng đã giăng lưới khắp cùng, thiên la địa võng. Người của Dũng không chóng thì chầy sẽ sa vào lưới. Lần lượt A# rồi Tào Nghị, Tào Triết, Tào Phượng... cuối cùng là Tào mạnh Dũng.
Vấn đề là giòng họ Tào không dễ ăn. Dồn tới đường cùng là "đồng ư qui tận".

23-9
Một ý kiến về cách thể hiện quyền lực của đảng.
(với GS Vũ Ngọc Hoàng).
Nếu nhìn nhận "quyền lực tối cao" (thực ra gọi là chủ quyền - souveraineté) thuộc về nhân dân (còn gọi là dân chủ) thì câu hỏi đặt ra : cách thể hiện "quyền lực tối cao" của nhân dân là như thế nào ?
Câu trả lời không khó khăn hay phức tạp, trừu tượng.
"Quyền lực tối cao thuộc về nhân dân" có ý nghĩa là mỗi người dân nắm "một phần" quyền lực. Vấn đề là "nhân dân" không phải là một người, hay là "một nhóm người" thống nhứt ý chí, mà là toàn thể người dân sống trong quốc gia. Như vậy "quyền lực tối cao" bị "phân tán" cho từng người dân.
Đến nay, phương cách duy nhứt "thể hiện quyền lực tối cao của nhân dân" hữu hiệu, công bằng, không ai có thể phản bác... là các cuộc bầu cử.
Cách thức "trưng cầu dân ý" dĩ nhiên là "cụ thể" và "trực tiếp", nhưng không phải bất kỳ vấn đề nào của quốc gia (dân tộc) cũng phải thông qua "trưng cầu dân ý".
Vì vậy mới phát sinh ra các cuộc bầu cử tổng thống, tỉnh, quận... trưởng để người dân lựa chọn người "có khả năng" để "ủy nhiệm" quyền lực của họ (trong một khoảng thời gian nhứt định gọi là nhiệm kỳ).
Vì vậy, "nguyên tắc dân chủ" (tức chủ quyền tối cao thuộc về nhân dân) được tóm gọn là mọi hình thức thể hiện quyền lực quốc gia phải thông qua "quyền lực chủ tể" là "nhân dân" (qua thể thức bầu cử).
Hệ quả là mọi hình thức thể hiện quyền lực mà không thông qua "nhân đân" đều không chính danh (hay vi hiến).
Vấn đề (lớn) đặt ra (cho GS Vũ Ngọc Hoàng), vậy "quyền lực của đảng" đến từ đâu ?
Ngay từ điều 4 HP, "đảng là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội" đã là một sự mâu thuẩn trầm trọng.
Đảng lãnh đạo nhà nước, mà nhà nước là thể hiện ý chí của nhân dân. Chính phủ do dân bầu lên, thay đân "thể hiện quyền lực tối cao".
Nhân dân chưa hề đồng ý "đảng lãnh đạo nhà nước và xã hội".
Nhân dân chưa bao giờ trao "quyền lực tối cao" của mình cho đảng cả.
Từ lâu tôi có cho rằng đảng sử dụng quyền lực "không chính danh".
Có người biện hộ là "đảng cướp chính quyền". Vấn đề là "đảng" là ai?
Những người, hay thế hệ những người "có công" trong đảng đã thành công "cướp chính quyền", đến nay không còn ai cả.
Những đảng viên hiện nay đâu người nào có tư cách để lên tiếng vịn vào "đảng cướp chính quyền" để tiếp tục "lãnh đạo" nữa ?
Mặt khác, những người lãnh đạo hiện nay không ai có khả năng đem lại "dân giàu nước mạnh" (như lãnh đạo TQ) để lớn tiếng đòi "chính danh" lãnh đạo. Ngay cả những người "có công cướp chính quyền" đội mồ sống lại, nếu để đất nước tụt hậu từng ngày, thì cái "chính danh" của họ cũng mất đi.
Làm sao có thể biện hộ được ?

24-9
"Hợp đồng sống chung" hay "hợp đồng tình ái" ?
Tất cả những "hợp đồng dân sự" liên quan đến việc "sống chung" giữa hai người (đồng tính hay lưỡng tính) như hôn thú, sống chung không hôn thú... , nếu xét sâu xa, đều đặt nền tảng trên "tình ái" và "tình dục".
Thật vậy, khi hai bên đặt tay ký vào hợp đồng gọi là "hôn thú", hai bên đã nhận trách nhiệm với nhau về "quan hệ tình dục".
Nhiều "án lệ" các nước "giẫy chết", một bên có thể kiện bên kia đòi li dị, chỉ vì phía bên kia nhiều lần từ chối "trách nhiệm tình dục" (không lý do). Tòa xử bên nguyên thắng kiện, được quyền li dị đồng thời gỡ được trách nhiệm bảo trợ.
Điều này khẳng định "hợp đồng sống chung" đặt trên quan hệ "tình dục".
Những "hợp đồng sống chung" đi kèm với hôn thú, hay sống chung không hôn thú, có mục đích phân định của cải, trách nhiệm... của hai bên trong thời gian chung sống hoặc khi hai bên chia tay.
Các nhà báo VN gọi "hợp đồng" quan hệ dân sự giữa cô hoa hậu và anh đại gia là "hợp đồng tình ái", có người còn gọi là "hợp đồng tình dục". Cách gọi này e rằng dễ bị suy diễn để kết luận rằng quan hệ hai bên "trái với đạo đức xã hội".
Vấn đề đặt ra là có một hợp đồng sống chung giữa hai bên hay không, chớ không thể kết luận "khơi khơi" về một "hợp đồng tình ái" rồi cho rằng hợp đồng không có giá trị vì vi phạm đạo đức.
Anh đại gia kia giao tiền cho cô hoa hậu hàng chục tỉ đồng, không có một tờ giấy chứng nhận. Cô kia khai "có nhận". Vấn đề là "mục đích" giao tiền là gì ?
Anh đại gia kia là "dân làm ăn", không thể không biết trong mọi quan hệ làm ăn đều phải có "hợp đồng". Theo luật (estoppel), nếu anh biết (hợp đồng là cần thiết) mà anh không làm (hợp đồng), khi bên kia "trở cờ" quịt nợ thì anh cười trừ.
Ở VN, anh đại gia thừa tiền mua công an để công an bắt giam người ta vô tội vạ. Anh cũng có thể mua tòa để được tòa xử thắng kiện. Nhưng ở các xứ giẫy chết thì đơn của anh sẽ bị bác ngay từ đầu (vì estoppel).
Theo tôi, vụ xử này cũng đơn giản. Đây là một "vụ án dân sự".
Những "bằng chứng" dựa trên các email trao đổi giữa hai bên, hoàn toàn phải được xem là những yếu tố cấu thành một "hợp đồng sống chung" đúng nghĩa.
Điều Tòa phải xử là hai bên có thực hiện các "điều ước" trong hợp đồng hay không ?
Rõ ràng anh đại gia ăn cháo chùi mép tính chạy làng, kiện ngược cô hoa hậu giựt nợ.
Đâu có "gấy nợ", hay "hợp đồng" làm ăn nào đâu mà anh đại gia nói người ta giựt ?
Dựa trên "hợp đồng sống chung", cô hoa hậu có hành vi "trốn thuế" vì đã không khai báo của cải "thu nhập". Tòa nên phạt cô này 50% trên số tiền thuế phải hoàn cho nhà nước. Tức là, giả sử thuế là 20%. Thuế trên 17 tỉ là 3,4 tỉ. 50% của 3,4 tỉ là 1,7 tỉ. Tổng cộng cô phải nộp phạt (và thuế) cho nhà nước là 5 tỉ 100 triệu đồng.
Còn anh đại gia, anh này vi phạm đủ thứ. Đối với vợ của anh ta, hình phạt thường thấy (do cô vợ thi hành) phải là... cắt của quí. Đối với xã hội anh vi phạm đạo đức. Đối với sở thuế, anh phải trả lời 17 tỉ của anh đến từ đâu ? có khai thuế chưa ?
Xã hội càng văn minh thì vai trò phụ nữ trong xã hội càng được nâng lên cao, phẩm giá người phụ nữ càng được tôn trọng. Nhìn sang các nước Thái Lan, Hàn Quốc, Đài Loan và mới đây là Nhật, ta thấy những lãnh đạo phụ nữ ở đây không hề thua kém tài năng với đồng nhiệm đàn ông. Một điều chắc chắn là lãnh đạo phụ nữ tỏ ra ưu việt hơn, nhậy cảm hơn trong các lãnh vực xã hội.
Ở các xứ "giẫy chết", quyền lợi của phụ nữ luôn được đạt trên quyền lợi nam giới. Khi li dị (nếu hôn nhân không có hợp đồng phân định của cải) thì của cải chia đôi. Mặc dầu tài sản là do anh chồng làm ra.
Ở VN, tôi thấy dư luận có vẻ đứng về phía anh đại gia. Đây là một mặt "chậm tiến" của xã hội VN. Có lẽ dư luận bị kích động bởi báo chí.
Còn về phía công an, lại thêm một lần cho thấy việc làm của họ là thiếu công minh. Công là công bằng, minh là minh bạch. Vì không có lý do gì công an bắt giam hai phụ nữ kia trong một thời gian dài (2 năm) như vậy. Đây là một vấn đề "dân sự" chớ không phải hình sự.
Những "lầm lẫn" chết người này khiến một người vô tội có thể bị kết tội nặng.
Trường hợp bà bán vé số bị kết vào tội "kinh doanh xổ số" mà tôi đề cập hôm rồi, không biết bây giờ ra sao, cũng là cách sai lầm trong việc định tội.
Ngay cả ông Tô Lâm, bộ trưởng bộ công an, hôm trước có nói sơ lược về vụ cướp hai ổ bánh mì. Ý kiến của ông cho thấy luật pháp trong xã hội VN không đặt nền tảng trên "nhân đạo" mà trên "bạo lực".
Trong bất kỳ hành vi phạm pháp nào người ta luôn xét đến khía cạnh "giảm khinh". Ở các xứ bóc lột đang giẫy chết, những người ăn cắp thực phẩm (trong nhiều trường hợp) đều được tha bỗng.
Có một vụ, người mẹ vào siêu thị ăn cắp 500 gram thịt, dấu vào trong người rồi ra ngoài. Khi bị bắt, bà khai mấy đứa con bà lâu ngày không ăn thịt, nên thèm ăn thịt. Bà không có tiền nên mới ăn cắp. Vụ này đăng báo, vô số người gởi tiền giúp cho bà. Riêng siêu thị, không chỉ bãi nại mà còn hứa cho bà mỗi tuần một số thịt để cho con ăn.
Cướp vì đói cũng là hành vi cướp. Xử tội là một chuyện nhưng chuyện giáo dục xã hội (để xã hội được tốt đẹp hơn) không phải là bắt giam người ta theo kiểu "bây giờ ăn cướp bánh mì, sau này ăn cướp cái gì ?"


24-9
Vấn nạn kẹt xe.
Vấn nạn kẹt xe ở các đô thị lớn, như Hà Nội, Sài Gòn... tôi đã đề cập và đề nghị các phương án giải quyết ít ra từ 15 năm trước. Nếu áp dụng từ đó thì vấn đề không đến đỗi như hôm nay.
Không thể đỗ thừa cho xe gắn máy là nguyên nhân của nạn kẹt xe, như "nhà tiến sĩ" nào đó vừa lên tiếng trên báo. Một chiếc xe ô tô chiếm chỗ gấp 10 chiếc xe gắn máy nhưng chỉ giải quyết cho nhu cầu lưu thông, di chuyển của 1 hay hai người, tương đương như sức cung ứng của xe gắn máy. Không cần tính toán cũng thấy ngay rằng ở VN, với hạ tầng cơ sở sẵn có như vậy, nguyên nhân kẹt xe là xe ô tô chớ không phải xe gắn máy.
Cũng không thể "cấm xe gắn máy vào Hà nội" như "nhà tiến sĩ" kia đề nghị. Làm vậy trong 3 tháng là kinh tế VN sụp đổ. Những người đi xe ô tô phần lớn đều là cán bộ, chủ xí nghiệp... Nhưng người công nhân, đi xe gắn máy mới là người trực tiếp vận hành nền kinh tế.
Theo tôi thấy, có nhiều người có "kế sách" nhưng họ không "hiến". Mắc mớ gì "hiến" khơi khơi, theo lối viết bài gởi lên net (như tôi ngày trước), để sau đó nhiều người cóp py, vẽ vời vô thêm để làm "kế" của mình. Theo tôi, lãnh đạo Hà Nội (hay Sài Gòn) nên thường xuyên mở ra những cuộc thi tuyển chọn những chương trình quản lý thành phố, về các mặt lưu thông hay chỉnh trang đường phố, để những người có "kế sách" gởi hồ sơ dự thí. Phải trả tiền cho người ta để người ta nghiên cứu chớ không phải lấy không "kế" của người ta.
Cái đà này, hết ông tiến sĩ nọ tới ông giáo sư kia, hiến kế này qua kế nọ, càng hiến kế thì xe càng kẹt cứng.

25-9
Đi sau cũng thành công.
Nghe ông thủ tướng Nguyễn Xuân Niểng nói rằng "Việt Nam dù đi sau vẫn có thể thành công" thiệt tình tôi không tin một chút. Không hẵn vì nói láo quá nhiều lần, lần này nói "thật" cũng không ai tin. Mà vì cái tựa hoành tráng của chủ đề thứ nhứt (trong diễn đàn) "đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp quốc gia" đã cho ta "ấn tượng" như vậy.
VN không phải là "quốc gia khởi nghiệp". Nếu tính từ đầu thập niên 90, "mở cửa hội nhập", tức là "khởi nghiệp" đến nay là gần 3 thập niên. Trong làm ăn, 30 năm là dài lắm. Sau 30 năm làm việc người công nhân sắp tới tuổi về hưu. 30 năm vì vậy là 30 năm kinh nghiệm.
Từ "khởi nghiệp" đến nay VN đã bao nhiêu lần "tiêu tan sự nghiệp". Thời gian là tài nguyên quí giá nhứt. Cùng khoản thời gian này nước Nhật, sau đổ nát chiến tranh 1945 đã trở thành "cường quốc thứ nhứt về kinh tế". Nam Hàn, Đài Loan, Singapour... với vốn thời gian ít hơn 30 năm cũng đã trở thành "rồng", thành "hổ" trong khu vực. Sau 30 năm VN vẫn thủ phận là "quốc gia khởi nghiệp".
Câu hỏi đặt ra là dân tộc này có vấn đề, hay lãnh đạo quốc gia này có vấn đề ?
VN không phải là "quốc gia đi sau" trong lãnh vực kỹ thuật số. VN "mở cửa" đúng vào thời điểm kỹ thuật số bùng nổ. Có vô số chuyên gia "kỹ thuật số" VN đã ra trường và thành công ở nước ngoài. Ngay tại Hoa Kỳ, số chuyên gia kỹ thuật số của VN (nếu tính theo tỉ lệ dân số) luôn được xếp ở hàng đầu. Cũng có rất nhiều chuyên gia VN trở thành những "nhà phát minh", được tự điển danh nhân nước ngoài ghi tên.
VN đã lỡ chuyến tàu "kỹ thuật số" mặc dầu có dư điều kiện để trở thành một "cường quốc kỹ thuật số". Ở Châu Á, quốc gia "sống" dựa vào "kỹ thuật số" là Ấn Độ. Nơi đây là trung tâm sản xuất các "software", cũng là nơi cung cấp kỹ sư tin học cho cả thế giới. Lúc đó VN "đi trước" Ấn Độ.
Việt Nam cũng không phải bây giờ mới bắt đầu "đổi mới" để ông Niểng có thể nói là "đổi mới sáng tạo".
Quan niệm về "đổi mới" của VN thực ra chỉ là "đổi cũ", tức là làm lại những gì của người khác đã làm.
Lãnh đạo CSVN sau khi chiến thắng 1975, coi trời bằng vung, tất cả những gì của VNCH đều cho là "đồi trụy, phản động". Nhưng nếu xét lại từng điểm "đổi mới" của lãnh đạo CS bây giờ thì hầu như đều là làm sống lại những gì mà VNCH đã làm trước kia. Hệ thống giáo dục bây giờ đang từng bước đi lại con đường VNCH đã đi từ 1/2 thế kỷ trước.
Vì vậy làm gì có "sáng tạo" trong việc "đổi cũ" ?
Ngay cả việc "đổi cũ" cũng không thành công. Bởi vì người ta chỉ có thể làm một công trình gì đó thành công nếu người ta có đủ nhân sự thích hợp cho việc đó.
Sửa chữa lại cho đúng cái cũ không thể gọi là "sáng tạo".
VN thành công hay không là do "con người Việt Nam", do lãnh đạo VN chớ không phải do các yếu tố bên ngoài.
Yếu tố bên ngoài là "thời cơ", mà có bắt được thời cơ hay không là do "con người".
VN không phải là "quốc gia đi sau" mà là "quốc gia tụt hậu". Ngay cả Campuchia bây giờ cũng qua mặt VN. Đến bây giờ người đứng đầu hành pháp vẫn không nhận thức ra được thì VN vẫn tiếp tục là "quốc gia khởi nghiệp".
Một người khởi nghiệp, nếu gặp thất bại, lần đầu là bài học kinh nghiệm. Nếu thất bại lần thứ hai là không thể chấp nhận. Lần thứ ba thì nên chuyển sang làm công. Cái khả năng của lãnh đạo như vậy, quốc gia VN đã trở thành một quốc gia "làm công" cho các nước trong khu vực.
Trước đây làm công cho Đài Loan, Singapour, Hàn quốc... Sắp tới là làm công cho ai ?
Tưởng "đổi mới sáng tạo" là "đi lên", làm công cho Mỹ, cho các nước Tây Âu. Không, đi xuống, vì sẽ làm công cho Trung quốc.
Việc buộc học sinh học tiếng Trung là gì, nếu không phải là công việc chuẩn bị?
Từ bao nhiêu năm nay học sinh VN học tiếng Anh. Theo một kết quả nghiên cứu (lâu quá không nhớ nguồn) VN là nước có tỉ lệ nói tiếng Anh cao hơn cả Pháp. Tức là VN đủ điều kiện để "làm công" cho Mỹ, cho các nước Tây Âu. Nên biết là các nước Nhật, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapour... lúc mới đầu khởi nghiệp đều là các cơ sở "làm công" cho Mỹ và Châu Âu. "Làm công" không có gì mà mặc cảm.
Vấn đề là làm công cho Mỹ, cho Tây Âu thì có cơ hội đi lên, như các nước "thành rồng ở Châu Á". Còn làm công cho Trung Quốc, một xứ mạt hạng có tiền nhưng không có "văn hóa của người có tiền", thì hy vọng cái gì vào tương lai ?
Bởi vậy, nghe mấy ông Việt cộng nói láo riết không tin được một chuyện gì. Bây giờ, có thiện chí tới đâu cũng không thể tin nỗi ông Phúc Niểng.


25-9
Đọc báo nghe ông Phạm Bình Minh nói là "tranh chấp Biển Đông có thể đe dọa hòa bình, an ninh và thịnh vượng của khu vực và quốc tế”.
Ông Phạm Bình Minh là dân ngoại giao, ngôn từ ông sử dụng là "ngôn từ ngoại giao", thấy vậy mà không vậy. Muốn biết ông nói cái gì phải cần rọi đèn soi những sự kiện chung quanh (vấn đề Biển Đông) mới có thể biết được ý chính.
Ý chính mà tôi cảm nhận được là TQ sẽ đánh VN để lấy lại các đảo Trường Sa trong tương lai gần, có thể trong dịp Hoa Kỳ lu bu bận bầu cử tháng 11 sắp tới.
Nhiều chuyên gia tiên đoán rằng tháng 11 này TQ sẽ "đánh chiếm Scarborough" của Phi. Ý kiến này thấy đăng trên nhiều báo VN. Tôi cho là sai, đơn giản vì TQ đã chiếm Scarborough rồi (năm 2014 thì phải). Không ai phản đối, ngoài Phi, vì TQ đã tuyên bố chủ quyền Scarborough từ năm 1951 nhân Hội nghị San Francisco (đồng thời với HS và TS), khẳng định lại năm 1958 qua Tuyên bố về chủ quyền lãnh thổ và hải phận.
Ở hai dịp này không thấy nhà nước Phi lên tiếng phản đối yêu sách của TQ. (VN thì ngoại lệ. VNCH có tham gia Hội nghị San Francisco 1951, có tuyên bố HS và TS là của VN. Nhưng rắc rối lại đến từ công hàm 1958 của ông Phạm Văn Đồng, nhìn nhận yêu sách của TQ trong Tuyên bố 1958.)
TQ cũng có thể khởi công xây dựng Scarborough vào tháng 11 tới, nhưng thái độ "trở cờ" của Duterte, về phán quyết của Tòa CPA 12-7, có thể làm xoa dịu tham vọng và ý chí của lãnh đạo TQ. Việc xây dựng Scarborough có thể đình lại vô thời hạn. TQ cũng có thể "trao đổi lãnh thổ" với Phi, đổi Scarborough để lấy các đảo (như Thị Tứ, Song Tử... hoặc các đảo do Phi chiếm đóng).
Thái độ của Duterte khiến TQ không còn "bận rộn" với Phi. Còn lại là VN và Nhật.
Tính "chính đáng" để lãnh đạo của đảng CSTQ từ trên 3 thập niên nay là đặt nền tảng trên sự phát triển về kinh tế. Sự phát triển này đã bắt đầu "mõi mệt". Để khẳng định lại tính "chính đáng", TQ phải dựa lên việc "thống nhứt đất nước", hoặc là với Đài Loan, hoặc là thu hồi các đảo TS hiện trong tay VN hay Điếu Ngư trong tay Nhật.
Nếu đánh Đài Loan để "thống nhứt", chắc chắn TQ sẽ đụng với Nhật, Hàn quốc và Hoa Kỳ. Điều này có thể đưa đến chiến tranh "Thế giới đại chiến".
Nếu chỉ đánh VN để chiếm lại các đảo Trường Sa, việc này chưa chắc TQ sẽ gây đe dọa an ninh cho Hoa Kỳ hay các nước khác trong khu vực.
Vì vậy, ý kiến của Phạm Bình Minh về việc "đe dọa an ninh khu vực" là chỉ nói về VN. Vấn đề là VN không có khả năng để đe dọa "an ninh, hòa bình thịnh vượng cho khu vực".

26-9
Nghĩ tới nghĩ lui tôi thấy ý kiến của ông Ngô Bảo Châu về việc đưa tiếng Trung vào học trình trung học là đúng thôi. Bởi vì nếu không rành tiếng Trung thì làm sao lãnh đạo ta có thể "ăn cứt" của Tàu ?
Bà con chớ nhăn mặt vì tôi nói bậy. Chuyện "ăn cứt Tàu" là chuyện thật trong cuộc đời ông Hồ, hoàn toàn không phải do tôi đặt chuyện.
Ông Hồ ngày xưa có nói đại khái rằng chẳng thà ăn cứt Tây 100 năm chớ không ăn cứt Tàu một năm. Không thấy bút tích nào ghi lại, chỉ thấy rằng nhiều lý thuyết gia cộng sản nói như vậy. Vì làm gì có lập luận nào "tốt" hơn để bênh vực hành vi ông Hồ lúc ông này ký Hiệp định sơ bộ 1946 đồng ý cho Tây ra miền Bắc để thay thế quân Tàu (Tưởng) ?
Bây giờ "cứt Tàu" đổ đống từ Bắc chí Nam. Đống ở Hà Tĩnh, tên là Formosa, là đống lớn nhứt, lãnh đạo "khó nuốt" nhứt.
Hy vọng khi "cán bộ" được tào tạo, ai cũng trang bị kiến thức tiếng Trung, những "đống cứt Tàu" sẽ dễ dàng "tiêu hóa".
Có điều, bà con Nghệ An, Hà Tĩnh (và nhiều nơi khác) người ta không chịu ăn cứt Tàu (chắc noi gương bác Hồ). Nghe nói ở các làng dân họ đang bầu bì thê tử thuê xe đò lên tỉnh để kiện "đống cứt Tàu tên là Formosa".
Vụ này các đồng chí trung ương khó xử nha ! Xử đúng người đúng tội thì "cứt Tàu" đâu nữa mà ăn !

26-9
Hệ thống công an minh bạch.
Thấy trên BBC có bài viết ngắn của GS Jonathan London về việc "cần hệ thống công an minh bạch".
Như là một "qui ước", công an là công cụ thể hiện quyền lực của nhà nước trong các công việc thi hành và bảo vệ luật pháp, bảo vệ trật tự và giữ gìn an ninh xã hội. Ở quốc gia nào, hệ thống chính trị nào cũng vậy, "hệ thống công an" tự nó đã mang tính "opaque - không xuyên suốt", vì có thuộc tính an ninh quốc gia. Ta thấy "hệ thống công an" không chỉ bao gồm "phần nổi" như cảnh sát giao thông, mà còn có phần chìm (lớn hơn) gồm mật vụ, công an chìm v.v... để theo dõi điều tra tội phạm. Đòi hỏi một sự "minh bạch" ở "hệ thống công an" là điều khó, nếu không nói là không thể.
Dầu vậy, ở các nước "tư bản bóc lột đang giẫy chết", người ta "luật hóa" quyền lực của công an (cảnh sát). Mọi hành vi thể hiện quyền lực đều có sự kiểm soát, bí mật hay công khai, tùy theo bộ phận công an (cảnh sát). Nếu nói ở bộ phận "nổi", tức những công an mặt đồng phục, trước hết họ vừa là người "đại diện cho pháp luật", vừa là "bạn dân", cũng vừa là người "thực thi quyền lực nhà nước".
Khi người dân "phạm luật", dĩ nhiên cảnh sát có "hành vi thích hợp". Hành vi này được qui định bởi pháp luật, được ghi trong "cẩm nang hành động" của viên cảnh sát. Hành vi thường là bắt bớ, biên phạt, đuổi, giải tán v.v... (Vì vậy vai trò "bạn dân" thường bị mĩa mai, châm chích.)
Ta thấy quyền lực của công an được "đóng khung" bằng pháp luật. Sự minh bạch của công an cũng được qui định bằng pháp luật.
GS London cho rằng "để có trật tự công cộng thì xã hội phải có những cơ chế để đàm bảo sự tín nhiệm đối với chính quyền công cộng."
Theo tôi, sự "tín nhiệm" trước hết đến (với nhau) bằng "niềm tin". Không có cơ chế nào tạo dựng được niềm tin giữa người dân với chính quyền. Chính quyền, thể hiện bằng những con người "nắm quyền lực". Một khi "quyền lực" bị những người này sử dụng vào một mục đích tư lợi, (nhưng không "ngoài qui định của pháp luật"), như trường hợp "bổ nhiệm người nhà cũng đúng qui trình", thì không có "niềm tin" nào được tạo dựng. Giữa người dân và "nhà cầm quyền" có bức tường nghi kị, nếu không nói là sự khinh bỉ, ngăn cách.
Cũng chẳng có sự "tín nhiệm" nào giữa người dân với những người đại diện pháp luật, tức công an. Tư cách của "người đại diện pháp luật" không khác chi một kẻ côn đồ, cướp đường.
Cũng chẳng có sự tín nhiệm nào giữa người dân với những công an, khi mà lối hành xử của công an không khác chi côn đồ.
Và làm sao người dân "tín nhiệm" vào nhà cầm quyền khi sự lộng hành của công an lại được "bao dung" ?
GS London cho là: "Để có sự tín nhiệm phải có một hệ thống công an minh bạch cũng như để chống tham nhũng cũng phải có một hệ thống hành chính minh bạch."
Đã nói là không hiện hữu một hệ thống công an minh bạch. Cũng như đã nói là không thể tạo dựng một sự "tín nhiệm" nào đó trong quan hệ công an với người dân. Và tôi càng không tin việc tham nhũng sẽ bị diệt trừ bằng một hệ thống "hành chính minh bạch".
Thế nào là một hệ thống "hành chính minh bạch" ? Không có một hệ thống hành chính nào gọi là "đơn giản" để đặt ra sự minh bạch. Thí dụ nói về thuế khóa, đây là một cơ chế hành chánh "rắc rối" nhứt. Ở các xứ giẫy chết, người ta công khai các số liệu thuế khóa. Nhưng chẳng ai ngó tới vì nó "rắc rối" quá.
Người ta cần một hệ thống hành chính "không hành dân là chính". Tức là đơn giản và "chạy việc".
Thi dụ về hành dân là chính ở VN: việc xin một visa du lịch, người giữ con dấu có "quyền lực" khác với người "có thẩm quyền ký". Thậm chí người nhận đơn, hay giao đơn, còn có thẩm quyền hơn cả những người kia.
Để "đơn giản" và "chạy việc", người ta cần pháp luật được thực thi đúng mực.
Và tôi cũng không chia sẻ ý kiến của GS London : "Để có minh bạch và một xã hội trật tự cần có một nền truyền thông độc lập (hay ít nhất độc lập hơn ngày bây giờ) để đóng vai trò “thổi còi” một cách chuyên nghiệp, hợp pháp, và hiệu quả, kể cả trong những việc liên quan đến phạm vi của nhà nước."
Nền truyền thông độc lập không phải là chìa khóa vạn năng để mở cách cửa "minh bạch" và xếp đặt một "xã hội trật tự".
Khi mà quyền lực nhà nước vẫn chưa có cơ chế kiểm soát (tam quyền phân lập) thì nói đến "quyền lực thứ tư" (tự do báo chí) là vô ích.
Từ khi VN "mở cửa" đến nay đã hơn 3 thập niên. Báo chí từ đó cũng được viết một cách "tự do" hơn. Ta thấy có vô số vụ báo chí "thổi còi" những tệ nạn của công an. Kết quả là công an ngày càng giống côn đồ. Thái độ và tư cách của họ là những tên côn đồ. Tư cách côn đồ của họ được "bảo kê" vì họ là "cánh tay mặt quyền lực của đảng".
Trong khi đó "truyền thông" cũng là một "mặt trận văn hóa" của đảng. Những người cầm bút là "chiến sĩ trên mặt trận văn hóa".
"Truyền thông, báo chí" cũng là một phần cơ thể của đảng. Không bao giờ phần cơ thể này có thể "đánh" phần cơ thể kia cả.
"Túm" lại, mọi ý kiến, mọi đề nghị đều chạm đầu với "đảng".
Đảng đã làm cho hệ thống công an vốn đã "opaque - không trong suốt", càng thêm "bí hiểm", thâm u. Làm cho quyền lực của công an càng thêm lộng hành, khong ai có thể kiểm soát.
Đảng cũng làm cho hệ thống hành chính "hành dân là chính". Đảng viên nắm "hành chánh" từ trên xuống dưới. Tham nhũng cũng từ trên xuống dưới.
Nói tới "cải cách" hành chánh VN mà không nói tới việc kiểm soát quyền lực của đảng là thiếu sót, không đi đến đâu hết cả.

26-9
Truyền thông mạng đang đi trước báo chí ?
Ngành truyền thông nói chung và báo chí nói riêng, ở Việt Nam đều do nhà nước quản lý. Truyền hình, truyền thanh… đâu có cái nào là của tư nhân ? Báo chí trên 700 tờ, ngoài báo giấy còn cộng thêm chừng ấy các trang web gọi là "báo điện tử". Tất cả đều của nhà nước. Đội ngũ phóng viên, nhà báo, MC, nhà biên kịch, nghệ sĩ, ca sĩ v.v… đều ăn lương nhà nước. Cách đây không lâu đội ngũ này được mệnh danh là những "chiến sĩ văn hóa". Còn "truyền thông", cũng như các bộ môn thuộc về văn hóa khác, được gọi là "mặt trận văn hóa".
Các trang web của những cá nhân đăng ký danh khoản trên các hãng nước ngoài, nhứt là facebook, đăng những bài viết, đủ mọi sắc thái như tin tức, chuyện đời tư, chuyện xã hội, chuyện lãnh đạo, chuyện công an, chuyện tham nhũng, chuyện bất công, chuyện đau thuơng, chuyện yêu đương, chuyện thật, chuyện láo, chuyện vui chơi, clip video, hình ảnh… của cá nhân. Cho dầu phong phú thế nào thì hiện tượng này chưa thể gọi là "truyền thông" như bà Khuất Thu Hồng nói trên BBC được. Nói như bà Hồng là đánh đồng "cái miệng của nhà nước" với tâm tình, ý kiến (không thể nói ra trên báo) của những cá nhân, phần nhiều là người dân đi chân đất.
Hiện tượng viết facebook là rất mới, chưa được đặt tên, dầu vậy nó ảnh hưởng trực tiếp đến thành phần lãnh đạo. Bởi vì những gì người ta bày tỏ trên facebook là "rất thật".
Truyền thông nhà nước mà bà Thu Hồng là một đại diện, làm gì dám nói những chuyện như bí thư Thanh Hóa có "bồ nhí". Hay là bí thư Hà Giang cả nhà 8 người đều làm quan (ở Hà Giang). Chỉ khi facebook viết "cháy rộ" lên, báo chí trong nước mới "nhập cuộc".
Việc báo chí trong nước "đi sau" không phải là "truyền thông mạng đi trước báo chí". Vấn đề là truyền thông nhà nước không dám "mò dái ngựa". Ăn lương nhà nước thì làm sao dám chỉ trích nhà nước, phải không ?
Nếu nói rằng báo chí trong nước đi sau, tại sao trong trận "thư hùng đẫm máu" trong Đại hội XII giữa những đảng viên, chỉ có facebook hay những trang blog cá nhân mới đăng những tin tức nội bộ, phe này đánh phe kia. "Truyền thông mạng đi trước" nhưng báo chí đâu dám "đi theo" ?
Một sự thật phải nhìn nhận là "truyền thông" nhà nước đang bị những trang web cá nhân cạnh tranh và qua mặt. Bởi vì truyền thông nhà nước, mục tiêu là "tuyên truyền", nên chỉ nói láo, hoặc chỉ được nói những cái mà "xếp" bật đèn xanh cho phép nói. Ngoài ra là chuyện "giường chiếu", chuyện "chân dài với đại gia", chuyện xe cán chó…. Còn facebook là của cá nhân. Người ta viết là từ tâm tình "trong bụng" nhảy thẳng ra bàn phím lên mạng chớ không qua ông "kiểm duyệt" nào.
Vì vậy truyền thông nhà nước càng đọc càng thêm chán. Hễ cái nào có "chỉ đạo", có "kiểm duyệt" là chán thôi. Báo chí hải ngoại cũng vậy. Khi mà có "hợp tác với nhà nước" thì lần hồi cũng chán phèo tương tự.
Bây giờ người ta tìm đọc trên facebook, những "facebookers" lừng danh thiên hạ. Một cái đánh rắm (xin lỗi) của tay này cũng có cả ngàn cái "like". Có người có vài trăm ngàn "độc giả" trung thành. Báo chí nhà nước ganh tị đến chết được.
Rốt cục làm giàu cho anh chàng Zuck. Facebookers giúp một. Truyền thông trong nước giúp 10. Đơn giản bởi vì viết theo chỉ đạo thì không ai thích đọc. Tất cả quay sang facebook. Kết quả là “truyền thông nhà nước tụt hậu” chớ không phải là do facebook hay blog "qua mặt".

27-9
Formosa và việc kiện tụng
Tháng tư vừa rồi, khi Formosa gây ô nhiễm biển, có người đặt câu hỏi : VN có thể kiện Formosa hay không? Tôi có câu trả lời ngắn, theo đó bà con có thể kiện Formosa ra tòa án trong nước, nhưng cũng có thể kiện ở một tòa án quốc tế.
Trong trường hợp nếu Formosa được nhà nước VN bảo vệ (miễn trừ thẩm cứu do ràng buộc ở một số điều khoản của hợp đồng) thì nhà nước CSVN phải chịu hoàn toàn trách nhiệm. Tức là nạn nhân có thể kiện nhà nước VN ra trước một Tòa án quốc tế.
Ta có thể ap dụng nguyên tắc 21 của Hội nghị Stockhom của LHQ về Môi trường, theo đó một quốc gia không được quyền sử dụng lãnh thổ của mình (hay lãnh thổ mình chiếm đóng) để tạo ra việc ô nhiễm môi trường.
Một chi tiết cần viết thêm (để cập nhật) vào đây, là Tòa án Hình sự Quốc tế (CPI) vừa rồi có đề nghị các việc gây "ô nhiễm môi trường" hay các việc "truất hữu đất đai của dân nghèo" có thể cấu thành tội "hình sự": tội ác chống nhân loại.
Ở điểm này, các nạn nhân của vụ ô nhiễm Formosa, nếu nhà nước VN không xét hồ sơ kiện (của bà con nộp hôm qua tại tòa án nhân dân Kỳ Anh), thì những nạn nhân còn có khả năng đi kiện nhà nước VN trước Tòa Hình sự quốc tế (PCI).
Riêng những nạn nhân trực tiếp của chính sách truất hữu ruộng đất của nhà nước (như bà Cấn Thị Thêu), cũng có thể nộp đơn lên tòa án này để kiện nhà nước VN.
Đừng nghĩ rằng VN không ký vào các công ước thành lập Tòa CPI thì sẽ không liên can. Người ta có thể vận động để một "Tòa án hình sự đặc biệt", như Tòa án hình sự đặc biệt về Nam Tư, hay về các xứ Châu Phi... để xử những nhân vật đầu xỏ gây tội ác chống nhân loại.

27-9
Thật tình không biết "Phật giáo ở đâu trong lòng dân tộc" ! Chỉ biết là Hồ Chí Minh bồ tát đã được "trí thức Phật tử" đưa vào chùa.
Vấn đề là Bồ tát Hồ Chí Minh vào chùa thì thế giới bên kia Phật tử cũng làm cách mạng. Đức Thích Ca vì vậy cũng đã "di tản" sang Campuchia, hay đã hồi hương về xứ.
Không còn Phật, thì Phật giáo đã trở thành công cụ để đảng ru ngủ nhân dân. Vấn đề là "trí thức" tin vào "công cụ đảng", tưởng đảng là Phật, vô hình chung "phò" đảng.
Trí thức khuyên phật tử, dầu có bị đảng cướp đất, đốt nhà hay phá chùa... thì cũng không nên "nguyền rủa" đảng. Không tức thị sắc, sắc tức thị không. Có chùa cũng là không mà không có chùa cũng là không. Nguyền rủa chi để thêm nghiệt chướng!
Vấn đề nữa là dân bị Formosa đầu độc, có cả Phật tử lẫn tín đồ Thiên chúa giáo.
Không lẽ biển chết là không mà biển sống cũng là không ? Hay người dân đói là là người dân không đói, người dân bịnh là người dân không bịnh? Triết lý nhà Phật quả nhiên là "dĩ bất biến ứng vạn biến".
Giáo dân, nạn nhân Formosa, người ta xuống đường, xếp hàng đi kiện Formosa. Đi đòi công lý không phải là "chống đảng".
Vấn đề là không thấy ông thầy nào dẫn Phật tử đi kiện. Phật tử nhờ tụng kinh mà đạt được "kim cương hộ thể thần công" ?
Đất nước ngày càng xác xơ. Dân tình ngày càng đói kém. Trí thức Phật tử ơi làm ơn tỉnh dùm.

28-9
Nếu chữ "cực đoan" được sử dụng bất kỳ như vậy, "mưa cực đoan", thay vì "mưa lớn, mưa cực lớn, mưa như thác đổ..." thì cái ngu, cái dốt... cũng có thể gọi là "ngu cực đoan", "dốt cực đoan" thay vì "ngu thầy chạy", "dốt đặc"....

28-9
Sài gòn bị ngập mưa, năm nào lãnh đạo cũng gọi là "cơn mưa lịch sử". Điệp khúc "triều cường", "biến đổi khí hậu", "địa cầu hâm nóng".... là những lý do "khách quan" để lãnh đạo vịn vào chạy tội của mình. Đã không biết bao nhiêu dự án "chống ngập" đã thực hiện. Tính gom sơ sơ, từ hai đời bí thư thành ủy, là trên trăm ngàn tỉ đồng. Tiền mồ hôi nước mắt của dân đổ ra lãnh đạo xài như vàng mả, vỏ sò... không thuơng tiếc. Năm nào cũng ngập. Năm sau ngập cao hơn năm trước. Lãnh đạo họp bàn, hết dự án này lại đến dự án kia. Không có dự án đem lại kết quả "thoát nước" mà chỉ "thoát tiền". Hệ thống cống vừa làm xong, thoát nước không hiệu quả. Không nơi nào chịu trách nhiệm. Chỉ có người dân tiền mất tật mang. Sau mỗi trận mưa, nhiều gia đình xem như phá sản.
Lại còn thêm tập đoàn "nhà khoa học" nghiên cứu ra những kết quả "cực đoan", theo kiểu lụt là do người dân "thiếu ý thức, xả rác lấp kênh, rạch".
Điều này tố cáo thêm sự vô trách nhiệm của lãnh đạo và thiếu chuyên môn của nhà khoa học. Công việc "làm vệ sinh" đường xá, kênh rạch... là việc của lãnh đạo thành phố chớ đâu phải của dân.
Sài gòn ngập, Đà Lạt ngập... là do con người. Con người ở đây không phải người dân mà là người lãnh đạo.
Ngập lụt ở Đà Lạt thì không thể đổ cho "triều cường", hay do "thời tiết cực đoan". Nước biển dâng lên 1000 m cũng chưa chắc ngập được Đà Lạt.
Làm cho Đà Lạt ngập mưa, lãnh đạo ở đây chắc đã làm những chuyện mà những kẻ ngu xuẩn nhứt cũng không dám làm. Phá rừng, lấp suối, xẻ núi, xẻ đồi... để gây "quĩ đất", làm giàu cho bản thân, cho bè phái, cho đảng... Chuyện gì "có lợi cho cách mạng" thì họ làm thôi.
Sài gòn cũng vậy. Thử nhìn phi trường Tân Sơn Nhứt. Phải nói đây là một trong những phi trường "nguy hiểm" nhứt khu vực, không phải vì mực độ không lưu, mà vì... các giàn hỏa tiễn của quân đội đặt trong sân golf. Đúng là chuyện "tề thiên đại thánh", tưởng người dân đều là con nít. Chuyện này nên để những chuyên gia về quân đội.
Phi trường này lụt thường xuyên, mưa là lụt, không cần mưa lớn. "Quĩ đất" của quân đội bán ra bừa bãi, nhà cửa xây cất bừa bãi. Phi trường trở thành khu đất trũng, nước khắp nơi đổ về.
Đứng trước bài toán ngập lụt, lại có nhà khoa học đưa "đáp số" là người dân chuẩn bị "sống bền vững" với ngập lụt. Trận mưa "cực đoan" thì đáp số cũng "cực đoan".
Sài gòn không phải là Đồng tháp mười để nói chuyện "ngập mặn" với "triều cường". Cũng không thể đem Paris hay Bangkok ra so sánh. Trận lụt Paris năm 1910 đến nay chưa thấy Paris bị lụt lại. Bangkok (cũng như Tokyo) là thành phố bị lún, có nơi thấp hơn nước biển. Nhưng chỉ bị một hai trận lụt, là họ có giải pháp chống lụt. Ngay cả Hòa Lan, một quốc gia sống dưới mặt nước biển, cũng không bị "năm nào cũng lụt" như Sài gòn.
Nguyên nhân là do lãnh đạo. Hãy thử một lần giao thành phố này lại cho một người ngoài đảng quản trị, những người có kiến thức và trách nhiệm. 10 năm thôi, chuyện lụt hàng năm sẽ không còn.

29-9
Đọc báo thấy ông Nguyễn Xuân Niểng cùng bộ sậu "thị sát chợ Long Biên", thăm vườn rau... mở đầu cho "hội nghị toàn quốc về an toàn thực phẩm. Báo chí nêu quyết tâm của thủ tướng "xóa bỏ con đường ngắn nhất ở Việt Nam là từ dạ dày đến nghĩa địa...".
Trật lất rồi ông Niểng. Nơi đó không phải là điểm "xuất phát" của con đường ngắn nhứt "từ dạ dày đến nghĩa địa".
Điểm xuất phát là Formosa, là cá, muối biển và các phó sản đến từ cá và muối như khô, mắm v.v...
Dựa lên kết luận các cuộc thử nghiệm của cơ quan nhà nước, gần đây nhứt, cho rằng cá ở khu vực biển Hà Tĩnh vẫn chưa ăn được. Tức là, khi cá, mắm, muối... ở khu vực này vào dạ dày người dân, thời gian đến nghĩa địa chỉ đếm bằng ngày.
Và không phải chỉ có Formosa, thực phẩm ô nhiễm... mới là nguyên nhân đẩy người ta đi vào con đường ngắn nhứt ra nghĩa địa. Còn có con đường ngắn hơn, xuất phát từ trụ sở công an. Công an xã, công an phường... cho tới công an huyện, công an tỉnh... trụ sở nào cũng có "cửa hậu" dẫn ra hai con đường: một là tới nhà thương, hai là ra nghĩa địa.
Và cũng có vô số con đường khác, rất ngắn, dẫn ra nghĩa địa. Con số người trực tiếp ra nghĩa địa, hay vào nhà thương... vì tai nạn xe cộ còn nhiều hơn số thương vong hai miền trong thời kỳ chiến tranh.
Ngay cả việc ngập lụt phố thị cũng góp phần không nhỏ giúp người dân sớm lên đường ra nghĩa địa. Các vũng nước, ao tù... là ổ vi trùng các loại bệnh dịch cấp tính...
Vì vậy, thay vì ra chợ lo chuyện rau cải, thịt thà... tốt nhứt ông Niểng cùng bộ sậu nên ra Hà Tĩnh để thanh lý cá và thép. Chuyện cấp bách, đơn kiện chất chồng không người xử lý. Ở đây, dân nghèo đang ngữa cổ chờ tiền bồi thường để tính kế khác sinh nhai.
Ông Niểng và bộ sậu có thể "mãnh long quá giang" chuyến du lịch Formosa "cá thép hóa rồng" của nữ khoa học gia tên gì quên mất đang tổ chức để biết thêm sự tình.
Theo nhà nữ khoa học kia thì "Cá có thể chết đi nhưng linh hồn của cá thì sẽ còn tồn tại mãi mãi". Sau đó còn có màn kịch "chàng thép" gặp "nàng cá" để rồi "cá thép hóa rồng".
Xin thưa cùng nhà khoa học, "Chàng thép" của cô nương còn nằm trong bụng Formosa, chưa đẻ. Formosa chưa hoạt động, chưa cho ra kí lô thép nào cả.
Chắc là cô nương làm khoa học (dổm), lấy cứt Tàu cho là "chàng thép". Cứt Tàu đổ ra biển, cả gia tộc họ hàng "nàng cá" chết phơi bụng, trắng cả bãi biểni.
Tôi không nghĩ là nhà khoa học đang sỉ nhục trí thông minh của người ta mà đang đang "hợp tấu" với ông Xuân Niểng trong vỡ kịch "đại hí trường", bịp bợm nhân dân, đánh lừa dư luận, quần chúng.
Con cá mà có linh hồn thì chúng đã hiện về dẫn mấy người ra nghĩa địa rồi.

29-9
Không biết có phải là ông Gia Cát Trọng muốn tạo dựng lại "niềm tin" của người dân cho đảng của ông hay không ? các động thái "chống tham nhũng" như vụ TXT, hay mới đây các bài viết của ông Huy Đức về A#, cho ta cảm tưởng rằng ông Trọng đang đi theo chiều hướng như vậy.
Chống tham nhũng là điều tiên khởi để một quốc gia có thể phát triển. Mọi người dân đều ủng hộ một nhà nước trong sạch, minh bạch, với những thành viên có khả năng đồng thời quyền lực nhà nước được kiểm soát bằng luật lệ.
Nhưng tôi e rằng, cái cách chống tham nhũng này (nếu là do ông Trọng khởi xướng), là có vấn đề về pháp lý.
Một bài viết của Huy Đức nói về ông A#, rõ ràng mang tính "buộc tội", như một bản "luận tội" của công tố viện. Vấn đề là công tố viện, trước tòa luận tội, có bằng chứng đinh kèm. Còn bài viết của Huy Đức thì không.
Dưới khía cạnh pháp lý, ở một xứ sở pháp trị, (tác giả) bài viết này có thể phải trả lời trước pháp luật về một số vấn đề. Thứ nhứt, có phải là công tố viện đã sơ hở để lộ tài liệu (cấu thành tội phạm của A#) cho Huy Đức để ông này viết báo ? Nếu đúng vậy thì đây là một lỗi "hình sự" vì không giữ bí mật (bằng chứng tội phạm) cho tới khi ra tòa. Hoặc là tác giả Huy Đức "nghe nồi chõ", rồi viết (không có chứng cớ) ? Nếu vậy thì coi chừng phía A# phản pháo. Lý lẽ của bài viết đủ để kết tội hình sự vì "bôi nhọ lãnh đạo".
Chống tham nhũng là một hình thức thiết lập lại công lý. Kẻ "ăn cắp" phải trả lời trước pháp luật về tội "ăn cắp". Khi "kẻ cắp" là cán bộ lãnh đạo, tội phải nặng gấp đôi, vì phải làm gương.
Nhưng niềm tin chỉ tạo dựng lại nếu công lý được thực thi bằng pháp luật, (và chỉ bằng luật pháp mà thôi).
Vấn đề là "phát súng lệnh" của Huy Đức bắn ra đã vi phạm pháp luật. Việc chống tham nhũng của ông Trọng xem chừng đã trở thành vô nghĩa.

29-9
Trên BBC vừa cho biết lý do vì sao Duterte chủ trương "đàm phán song phương với TQ". Vầy:
“Thỏa thuận song phương với Trung Quốc là cần thiết vì quyết định của tòa không có khả năng hay cơ chế thi hành,”
Vấn đề là phán quyết của Tòa CPA ngày 12-7 không phải là một bản án thông thường, bên thắng bên thua, bên được bên mất. Đây là một phiên tòa nhằm giải thích về các điều trong bộ "luật Biển, tức UNCLOS".
Tức là, thí dụ điều 121. Tòa giải thích, dựa theo tinh thần của luật biển, các đảo ở Trường Sa không có cái nào hội đủ điều kiện để được xem là "đảo" thực sự.
Thí dụ khác, về các bãi cạn lúc nổi lúc chìm. Tòa giải thích rằng các thực thể địa lý này không phải là "lãnh thổ" để có thể tuyên bố chủ quyền. Chúng thuộc về "thềm lục địa".
Thí dụ khác nữa, Tòa giải thích là Luật Biển không công nhận "quyền lịch sử".
Tức là, nội dung phán quyết, tự nó cũng là "luật", là một phần bất khả phân chia với bộ Luật Biển 1982 (UNCLOS).
Nếu là "luật", TQ đã ký nhận Luật Biển năm 1996, vì vậy TQ có nghĩa vụ phải thi hành.
Mọi đàm phán nhằm thay đổi nội dung, hay nhằm hủy bỏ phán quyết đều vô ích. Đơn giản vì nó là "luật".

30-9
Vấn đề kiện Formosa.
Từ lúc nhà nước VN chấp nhận số tiền bồi thường 500 triệu đô la của Formosa, tôi có nói rằng nếu muốn kiện Formosa, trước hết là kiện nhà nước VN. Sau đó kiện Formosa tại Đài Loan, nếu không được, kiện Formosa ra một Tòa án quốc tế.
Hôm qua, trả lời báo chí nước ngoài về vụ dân Hà Tĩnh đi kiện, đại diện Formosa nói rằng "vấn đề đó sẽ do chính phủ VN giải quyết".
Điều này cho thấy rằng, "hợp đồng" bồi thường giữa nhà nước VN và Formosa bao hàm điều khoản xí nghiệp này "phủi tay" mọi trách nhiệm, được "miễn nhiễm" đối với pháp luật VN.
Chiếu theo Luật về Tổ chức chính phủ, ta thấy đại diện chính phủ (có thể là một hay nhiều bộ trưởng) có thẩm quyền đại diện để thỏa thuận với Formosa để đòi bồi thường. Tức là, dựa theo luật này thì những lý lẽ "nhà nước không có thẩm quyền đại diện quyền lợi của nhân dân" phải xét lại.
Vì vậy, tôi e ngại là những đơn kiện hôm qua của bà con mình ở Hà Tĩnh sẽ "đi vào ngõ cụt pháp lý".
Nhưng nếu chiếu theo Luật về Trách nhiệm Bồi thường của nhà nước, khi nhà nước làm sai thủ tục "giải quyết bồi thường thiệt hại", thì người dân có quyền đi kiện để đòi nhà nước bồi thường.
Rõ ràng đại diện nhà nước đã sai trong vụ Formosa. Thương lượng để được bồi thường 500 triệu đô la, trong khi chính cửa miệng của một vị bộ trưởng, là thành viên trong nhóm đại diện nhà nước thương lượng với Formosa, cũng nói là số tiền này "quá nhỏ" so với thiệt hại. Trong khi những thiệt hai chưa hề được tính toán kỹ lưỡng, đúng mức. Vì thiệt hại lên môi trường hàng vài chục năm, lên sức khỏe của người dân cũng vài chục năm, lên nền kinh tế ít ra cũng 10 năm... đại diện nhà nước làm sao kiểm toán được ?
Theo tôi, có hai con đường:
Một là yêu cầu Quốc hội tuyên bố vô giá trị các thỏa thuận giữa đại diện chính phủ và Formosa. Sau đó thì mọi người có quyền đi kiện Formosa tại các tòa án của VN.
Tức là phải làm cho Formosa chịu chi phối dưới pháp quyền (tức là quyền tài phán - juridiction) của VN, thay vì pháp quyền của một nhà nước khác (như Đài Loan hay Cayman).

Hai là phải kiện nhà nước VN, chiếu theo Luật về "Trách nhiệm bồi thường của nhà nước". Đồng thời kiện Formosa tại tòa Đài Loan. Nhưng về lâu dài là phải nghiên cứu hồ sơ kiện Formosa ra một Tòa Quốc tế.

Aucun commentaire:

Enregistrer un commentaire

Remarque : Seul un membre de ce blog est autorisé à enregistrer un commentaire.