samedi 17 décembre 2016

Nhật ký tháng hai (2016)
1-2
Việt Nam lại bỏ qua một cơ hội...
Tàu khu trục của Mỹ USS Curtis Wilbur hôm thứ bảy 30 tháng giêng 2016 đã thực hiện một chuyến tuần tra đi qua khu vực 12 hải lý đảo Tri Tôn (thuộc quần đảo Hoàng Sa của VN, hiện do TQ chiếm đóng). Theo tin tức của Bộ quốc phòng Mỹ, chuyến tuần tra nằm trong chương trình "Bảo vệ quyền Tự do Hàng hải" (FONOP) của Mỹ, nhằm thách thức đòi hỏi quá lố của ba nước VN, TQ và Đài loan, như hạn chế quyền tự do hàng hải, hay các việc phải thông báo, hoặc phải xin phép, khi đi qua vùng lãnh hải (của các thực thể địa lý ở Biển Đông). Theo Bộ quốc phòng Mỹ, các nước VN, TQ và Đài Loan đều có những yếu sách quá đáng, đi ngược lại tinh thần luật pháp quốc tế, điển hình là bộ Luật quốc tế về Biển 1982.
Bộ ngoại giao TQ lên tiếng mạnh mẽ chỉ trích hành vi của Mỹ. Nước này cho rằng Mỹ đã "cố tình khiêu khích" và "xâm phạm lãnh hải của TQ". Còn VN, phát ngôn nhân Bộ ngoại giao cũng đã lên tiếng :
"Việt Nam tôn trọng quyền đi qua vô hại trong lãnh hải được thực hiện phù hợp với các quy định có liên quan của luật pháp quốc tế... Việt Nam đề nghị tất cả các nước có đóng góp tích cực và thiết thực vào việc duy trì hòa bình và ổn định ở Biển Đông, tôn trọng luật pháp quốc tế.."
Hành vi của Mỹ có "phù hợp với luật quốc tế" hay không? Phản ứng của TQ có chính đáng hay không? và thái độ (chung chung) của VN có chấp nhận được hay không?
Để tìm hiểu ta cần biết thế nào là quyền tự do hàng hải trong khu vực lãnh hải của một quốc gia.
Chỉ nêu một thí dụ: Ngày 13 tháng giêng 2016, trong khu vực biển thuộc lãnh hải của Iran (Vịnh Ba Tư), 10 hải quân Mỹ (9 nam, 1 nữ) trên hai chiến thuyền nhỏ có vũ trang, đã bị hải quân Iran bắt giữ. Lý do đưa ra từ phía Iran: xâm phạm lãnh hải của Iran. Cùng lúc, có mặt cách đó không xa (thuộc hải phận quốc tế) hai chiếc hàng không mẫu hạm Trumann (Mỹ) và Charles de Gaulle (Pháp) cùng nhiều chiến hạm hộ tống khác.
10 người lính Mỹ cùng 2 chiếc tàu sau đó được trả tự do nhưng hình ảnh 10 quân lính Hoa Kỳ bị bắt quì gối trên bong tàu dưới họng súng đe dọa của hải quân Iran đã loan truyền khắp thế giới. Theo tin tức báo chí, bộ ngoại giao Iran đòi Mỹ phải xin lỗi.
Rốt cục, "tai nạn" được dàn xếp ổn thỏa. Các bên tìm được lý do thỏa đáng (để Mỹ không xin lỗi) là hai chiếc tàu của Mỹ "đi lạc" vào vùng lãnh hải của Iran vì lý do kỹ thuật: bộ phận hải hành bị hư.
Trở lại vụ chiến tàu khu trục USS Curtis Wilbur khi đi vào lãnh hải của đảo Tri Tôn, nếu so sánh với sự kiện vừa nói trên trong vịnh Ba Tư, ta thấy hai thái độ mâu thuẩn của Mỹ về khái niệm "qua lại không gây hại" của bộ Luật Biển 1982.
Xét bản đồ dưới đây. Bản đồ vẽ hệ thống đường cơ bản quần đảo Hoàng Sa (đường đỏ vẽ liên tục) cùng với đường giới hạn lãnh hải (đường đỏ gián đoạn), chiếu theo Luật Biển 1996 của TQ.
Đường đen số (1) và (2) là đường giả định tuyến hành trình của chiếc USS Curtis Wilbur.
Nếu tuyến hành trình là đường (2), tàu USS Curtis Wilbur chỉ đi vào "lãnh hải" của đảo Tri Tôn. Nếu là đường (1), tàu này không chỉ đi vào lãnh hải của đảo Tri Tôn mà còn đi vào khu vực "nội thủy" của TQ.
Theo qui định của Luật quốc tế về Biển, tàu bè có quyền "qua lại không gây hại" trong vùng lãnh hải. Ta có thể quan niệm chuyến tuần tra của chiếc khu trục hạm USS Curtis Wilbur khi đi qua vùng lãnh hải của đảo Tri Tôn là "qua lại không gây hại". Nhưng nếu so sánh với trường hợp 10 lính hải quân của Mỹ bị bắt trong vùng lãnh hải (thuộc đảo Farsi) của Iran, thì quyền "qua lại không gây hại" được giải thích một cách "vô chừng".
Còn về "nội thủy", theo Luật Biển 1982, là vùng nước bên trong đường cơ sở để tính lãnh hải, mà trong đó quốc gia có chủ quyền (như trên đất liền).
Ta thấy TQ vẽ các đường cơ sở của quần đảo Hoàng Sa, gồm 29 điểm cơ bản, biến vùng nước bên trong (quần đảo HS) thành vùng "nội thủy".
Nếu tuyến hải hành của chiếc USS Curtis Wilbur là đường (1), rõ ràng Mỹ đã thách thức đòi hỏi của TQ về hệ thống đường cơ bản (và nội thủy) ở quần đảo HS.
Ngoài ra, chiếu theo Luật Biển 1996 của TQ, việc "qua lại không gây hại trong lãnh hải" phải được sự "chuẩn nhận trước" của nhà cầm quyền TQ. Còn Luật Biển VN 2013, tàu bè qua lại "không gây hại trong lãnh hải" phải "thông báo trước". Trong hai trường hợp, tuyến hải hành (1) hay (2) đều thách thức luật biển của VN và TQ.
Thái độ của VN như vậy có hợp lý không?
Theo tôi, VN lại bỏ qua môt cơ hội để làm "nóng" lại tranh chấp Hoàng Sa đã bị phía TQ "đông lạnh" từ 42 năm nay, sau khi nước này chiếm quần đảo này trên tay của VNCH qua trận hải chiến đẩm máu ngày 17-1-1974.
Không chỉ vậy, trước dư luận quốc tế, phản ứng của VN là quá yếu ớt và mờ nhạt trước phản ứng của TQ. Trước mắt quan sát viên quốc tế, người ta tưởng rằng sự lên tiếng của VN chỉ là "bên dự thính" trong vấn đề "chủ quyền của TQ bị Mỹ xâm phạm".
Nếu đọc thêm những ý kiến của các học giả VN trên báo chí, người ta tưởng rằng vấn đề của VN tại HS chỉ tụ quanh các yêu sách của TQ về hiệu lực biển ở các đảo HS.
Không phải vậy. HS thuộc chủ quyền của VN. VN phải lên tiếng (thế nào) để cho quốc tế biết VN là một bên tranh chấp chủ quyền ở HS. Đây mới là điều căn bản để giải quyết mọi tranh chấp, mà VN không bị thiệt hai nhiều, về lãnh thổ, hay do những khác biệt của các bên về cách diễn giải bộ luật Biển 1982.

2-2
Coi chừng chơi dao hai lưỡi. Nếu VN ủng hộ "vô điều kiện" việc "qua lại không gây hại trong lãnh hải" như nội dung BBC đăng tải :
"Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Hải Bình tuyên bố "Việt Nam tôn trọng quyền đi qua vô hại trong lãnh hải" của tàu chiến Mỹ theo Công ước Liên hiệp quốc về Luật Biển năm 1982."
Thì từ nay hải quân TQ cũng có thể noi gương chiếc USS Curtis Wilbur, đi qua, rồi đi lại, thậm chí đi tới đi lui trong vùng lãnh hải của VN, thí dụ khu vực vịnh Cam Ranh (hay khu vực nhạy cảm nào đó). Mỹ ở xa, lâu lâu làm một lần. TQ ở sát vách, "qua lại không gây hại" trong lãnh hải VN hàng ngày, hoặc một ngày đôi ba bận. VN lúc đó hả miệng mắc quai.
Chiếu theo Luật Biển, trong trường hợp gặp "sự cố", như gặp người (hay tàu bè) lâm nạn lúc qua lại, tàu chiến của TQ có thể thả neo để làm các hoạt động "cứu người". (Mà các vụ dàn cảnh, kiếm cớ thì TQ là bậc thầy thiên hạ). Lúc đó những "bí mật" về quốc phòng ở Cam Ranh (hay ở địa điểm nào đó) đều bật mí hết.
Về việc "qua lại không gây hại - passage inoffensif" trong lãnh hải, luật Quốc tế có định nghĩa, nhưng không cụ thể lắm, do đó để lộ nhiều sơ hở. Việc này đưa đến các cách diễn giải khác nhau tùy theo quốc gia. Vì vậy các qui định của Luật quốc gia về việc "qua lại không gây hại trong lãnh hải" có nội dung khác nhau. Vấn đề là nội dung các điều luật (quốc gia) này có đi ngược lại tinh thần của luật quốc tế hay không ?
Theo tôi, luật Biển VN 2003 qui định tàu chiến muốn đi qua vùng lãnh hải của VN phải thông báo trước là không đi ngược với nội dung của Luật quốc tế về Biển (điều 21). Còn qui định của TQ (phải xin phép và được sự chấp thuận) thì không phù hợp.
Thực ra, nguyên văn tuyên bố của phát ngôn nhân VN, ông Lê Hải Bình :
"Là quốc gia thành viên của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, Việt Nam tôn trọng quyền đi qua vô hại trong lãnh hải được thực hiện phù hợp với các quy định có liên quan của luật pháp quốc tế, đặc biệt là điều 17 của Công ước"
Ý kiến này không nói đến việc "VN tôn trọng" chuyến hải hành của chiếc khu trục hạm USS Curtis Wilbur (nhưng người ta có thể nghĩ như vậy, trường hợp của BBC và các báo chí trong nước).
Câu hỏi đặt ra là chuyến hải hành đi qua lãnh hải của đảo Tri Tôn của chiếc USS Curtis Wilbur có phù hợp với luật quốc tế hay không? Điều nên biết là Hoa Kỳ chưa thông qua Luật quốc tế về Biển 1982.
Tôi có viết status hôm qua "VN lại bỏ lỡ một cơ hội..." để làm nóng lại hồ sơ Hoàng Sa. Có người hỏi VN phải làm gì ?
Cái hay của người học giả là nhìn thấy thế nào là một cơ hội. Còn cái hay của lãnh đạo là biết cách khai thác thế nào để cơ hội đó đem lại lợi lộc cho quốc gia mình.

6-2
Chừng nào thì VN được "dân chủ hóa"?
Hôm qua tôi có viết một status ngắn, nói về việc "dò đá qua sông" của đảng CSVN. Đại khái như sau:
"Đảng CSVN dò đá qua sông là bắt chước đảng CSTQ. Mục đích của họ là làm thế nào để giữ vững chế độ, tránh đi vào vết xe đổ của LX và các nước XHCN Đông Âu, đồng thời hội nhập vào thế giới... họ phải dò dẫm từng viên đá, vì tất cả (những gì mới) đối với họ đều có thể tiềm ẩn một đe dọa cho chế độ. Sẩy chân một bước, chế độ sụp đổ, số mạng của họ cũng tiêu vong. Họ chỉ bước đi khi thấy rằng hòn đá dưới chân đã chắc chắn. Và khi bước sai, cần thoái lui, họ cũng thoái bộ trong an toàn vì tất cả đã được tính toán từ trước..."
Điều cần bổ túc thêm là đảng CSVN đã "qua sông". Chuyến thăm Mỹ của TBT Nguyễn Phú Trọng vào tháng 7 năm ngoái đã kết thúc quá trình "dò đá" của người cộng sản VN. Thật vậy, từ nay trở đi đảng CSVN không sợ bị "thế lực thù địch" nào lật đổ nữa. Tuyên bố chung giữa hai bên Mỹ và VN có nói rõ hai bên sẽ tôn trọng thể chế chính trị của nhau. Người cộng sản VN từ nay có thể ngủ yên.
Về trí thức VN, tôi có viết như sau:
"Nhưng người "trí thức" VN thì không cần phải "dò đá qua sông". Bản thân họ không hề bị đe dọa tiêu vong. Ngược lại, chính người trí thức mới là sự đe dọa tồn vong của (tất cả các tập đoàn độc tài trên thế giới), như đảng CSVN... Sự hiểu biết như là ánh sáng mà sự độc tài là bóng tối. Trí thức VN phải ý thức rằng những người cầm quyền sợ họ chớ không phải ngược lại... Vấn đề là trí thức VN vẫn không (hay chưa) là ánh sáng để có thể tỏa chiếu xóa tan bóng tối mông muội. Bởi vì họ vẫn còn đang trong tình trạng "dò đá qua sông"."
Điều cần bổ túc là đến bây giờ trí thức VN vẫn còn đang dò dẩm từng viên đá để "qua sông". Điều khác cần làm sáng tỏ ở đây, "trí thức VN" tôi nói là "trí thức trẻ". Vấn đề là, dường như họ không biết bờ sông bên kia là gì và vì sao phải qua sông ? Những khái niệm về "dân chủ", về "pháp lý", về các mô hình xây dựng quốc gia... kho tàng của nhân loại chất đống ra đó, tất cả đều miễn phí. Trí óc (của tuổi trẻ) lẽ nào lại phí phạm trong việc "sáng tạo" lại các khái niệm này, mà thực chất chỉ nỗ lực chép lại và đặt tên khác, theo lối chép "quì hoa bảo điển" thành "tịch tà kiếm phổ". Điều tôi lo là trí thức trẻ sẽ trở thành những nhạc bất quần thời đại.
Một "biến cố" khác, không liên quan đến việc "dò đá qua sông", là "tin mừng" TS Nguyễn Quang A quyết định ra ứng cử đại biểu quốc hộ vào tháng 5 tới.
Về việc ứng cử đại biểu quốc hội, tôi đã nhiều lần khuyến cáo, ít ra từ 5, 10 năm trước. Vài dòng dẫn lại ở dưới cho thấy những gì tôi viết từ 5, 10 năm trước vẫn còn giá trị hữu dụng.
Quyết định của TS Nguyễn Quang A dĩ nhiên là tôi ủng hộ. Nhưng cách thức ra ứng cử như thế, tôi e rằng TS Quang A chưa nhận thức được các bài học trong quá khứ. Những dòng dẫn lại của tôi ở dưới không có ý đả kích ai, (viết ra từ 5, 10 năm trước nhằm mục đích khích tướng), nhưng tôi cho rằng nhắc lại là cần thiết.
Một bài viết tựa đề "Tìm hiểu quá trình dân chủ hóa Đài Loan", tôi có viết :
Đài Loan, Đại Hàn và trong chừng mực các nước Đông Nam Á như Thái Lan, Mã Lai, Phi, Nam Dương… là các thí dụ điển hình về mối quan hệ hữu cơ giữa "kinh tế" và "chính trị". Đây là các nước trước kia độc tài, nhờ phát triển kinh tế mà hệ thống chính trị độc tài ở đây chuyển đổi (thành công) sang thể chế dân chủ tự do.
Lý thuyết và thực tế chứng minh, kinh tế là hạ tầng cơ sở, là nền tảng quyết định chế độ chính trị, là kiến trúc ở thượng tầng. Kinh tế thị trường chỉ có thể hoạt động lành mạnh trong các thể chế dân chủ tự do. Các nước trên đây là các « case studies » về sự chuyển hóa thành công từ một chế độ độc tài sang chế độ dân chủ (do động lực của phát triển kinh tế).
Trường hợp Đài Loan, một cách tóm tắt, việc dân chủ hóa được thực hiện qua quyết định ngoạn mục về chính trị của những người đối lập, còn gọi là "đảng ngoại", tức người ngoài đảng (Đảng ở đây là Quốc Dân Đảng), trước cuộc bầu cử bán phần ở Viện Lập Pháp và Quốc Hội, tổ chức vào tháng 12 năm 1986. Những người "đảng ngoại" đã lấy một quyết định táo bạo : thành lập các đảng chính trị và ra ứng cử. Có ba đảng được thành lập và dịp này đảng Dân Tiến đã chiếm được 22% số phiếu. Từ các quyết định đó sinh hoạt chính trị Đài Loan bước vào khúc quanh chuyển hóa dân chủ.
Tại Việt Nam, việc cho người "ngoài đảng" tự ứng cử vào Quốc Hội đã được đảng CSVN chấp nhận từ nhiều năm trước, thấy được qua các nhiệm kỳ Quốc Hội 2001-2006 và 2006-2011. Tỉ số đắc cử của người ngoài đảng, đúng theo qui định trước đó của đảng CSVN, thông qua Mặt Trận Tổ Quốc, vào khoảng dưới 20%. Nhưng sự sinh hoạt chính trị của thành phần ngoài đảng này, ngoại trừ một thiểu số rất nhỏ đại biểu (con số ít hơn số ngón tay trên một bàn tay) đã biểu lộ được tư cách của một người "đại diện dân", làm chính trị vì quyền lợi của dân (và đất nước), thì đa phần còn lại chỉ có vai trò làm cảnh.
Nếu so sánh VN hiện nay với Đài Loan ở thập niên 80 thì sự khác nhau rất lớn, có thể là ánh sáng đóm đóm với ánh mặt trời. Đài Loan đi trước VN đã hơn 3 thập niên, xem ra vẫn là ít. Nhiệm kỳ Quốc Hội 2011-2016 có nhiều dấu diệu cho thấy sẽ còn tệ hại hơn các nhiệm kỳ trước. Không những người dân lơ là với việc bầu cử Quốc Hội, mà thành phần "ngoài đảng có quan tâm đến đất nước" cũng thể hiện một dấu hiệu chán chường. Thật là một điều đáng quan ngại cho tương lai của đất nước. Thái độ này cần được nghiên cứu một cách nghiêm túc. Có nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng nguyên nhân chủ yếu đưa đến sự mất sức hấp dẫn của sinh hoạt nghị trường là phe "ngoài đảng" chỉ là những người đơn lẻ, làm việc theo lối "đơn thân độc mã, hoặc là "đi tìm giải pháp cho cá nhân". Nhiều trường hợp tự ứng cử bị thất bại. Có người thất bại vì thua phiếu. Nhưng co rất nhiều trường hợp thất bại vì "phường, khóm" không "cho ra". Sự thất bại đã làm cho giới trí thức đối lập chùn chân, một số chán nản và việc này góp phần không nhỏ vào hiện tượng lơ là của đại đa số người dân. Đây là một tai họa lớn cho đất nước nhưng người vui mừng trước hết sẽ là đảng CSVN.
Làm sao để vượt qua các trở ngại ? Nếu sinh hoạt chính trị nghị trường không phát triển được thì vấn đề "dân chủ hóa Việt Nam" sẽ không bao giờ thực hiện được, ngoại trừ một phép lạ !
Thử đặt một giả thuyết, trí thức VN lấy từ kinh nghiệm Đài Loan :
Nếu số 20% người "ngoài đảng" trong Quốc Hội được kết hợp lại thành một, hai, thậm chí ba đảng ; sự bế tắt về chính trị độc tài đảng trị của VN có thể đã được giải tỏa. Hoặc là, những người tự động sắp ra ứng cử, thay vì đi tìm giải pháp cho cá nhân, mà phần chắc là thất bại, thử tập họp với nhau lại, tổ chức thành đảng chính trị. Nếu cá nhân tự ứng cử thất bại, sẽ là một thất vọng lớn cho bản thân và gia đình, giòng họ. Nếu thắng cử thì cá nhân cũng không vinh quang gì, những vấn đề của đất nước vẫn không được giải quyết, vì tiếng nói của cá nhân chỉ là tiếng nói đơn lẻ của một người.
Trường hợp đảng phái chính trị thì hoàn toàn khác. Ở trường hợp Việt Nam hôm nay, sự thất bại của các ứng cử viên của một đảng tương đương với một sự thành công lớn cho dân chủ, cho sự tiến bộ của cả dân tộc. Thất bại cũng có thể là một đầu tư lớn của đảng vào tương lai. Nếu thắng, chỉ cần chiếm 10% trong Quốc Hội, thì nhiều vấn nạn lâu đời của VN hiện nay, như các vấn đề về giáo dục, tham nhũng, lãng phí… có thể sẽ được chú trọng một cách đúng đắn hơn. Rốt cục toàn thể người dân trong nước được lợi.
....
Một bài viết khác, có tựa đề "Làm cách mạng hay đấu tranh chính trị nghị trường ?" tôi có viết :
Nếu lấy hứng về một cuộc cách mạng "hoa hòe" cho Việt Nam thì rõ ràng phe "dân chủ" VN lâm vào tình trạng "đi lên kẹt núi, trở lại kẹt sông". Tức bế tắt hoàn toàn. Mùi hương hoa lài cùng lắm chỉ dừng lại ở mức "gợi hứng".
Lý ra không nên so sánh VN với bất kỳ nước nào, vì tình trạng xã hội, văn hóa, lịch sử… của VN không hề giống với một nước nào, để có thể lấy các nước đó làm nguồn hứng. Cách mạng hoa lài thành công ở các nước Bắc Phi nhưng không chắc sẽ thành công tại VN nếu mọi người áp dụng nó một cách máy móc như một công thức toán học.
Trong một xã hội như Việt Nam, cơ hội "cách mạng bùng nổ" không hề thiếu. VN có thể thay đổi một cách ngoạn mục bất cứ lúc nào. Lịch sử cận đại đã ghi nhiều trường hợp sụp đổ của các chế độ độc tài, tưởng vững như bàn thạch. Điều lo ngại, những sự sụp đổ như thế đều đem lại tổn thất rất lớn cho đất nước về vật chất cũng như sự chia rẻ sâu xa của nhiều tầng lớp dân chúng trong xã hội. Mà điều này không ai muốn.
Vì thế, tại sao trí thức Việt Nam, những người có "tâm huyết" về các vấn đề văn hóa, chính trị, kinh tế, xã hội… của Việt Nam không ra ứng cử đại biểu Quốc Hội ? Nếu không xây dựng được xã hội dân sự (như ý muốn hay theo mô hình các nước Tây phương) thì tại sao không "tông cửa" chính trị, khi mà nhà cầm quyền mới hé cửa, để thực hiện những hoài bảo của mình ? Không làm được "cách mạng" thì tại sao không đấu tranh "chính trị nghị trường" để giải tỏa bế tắt ?
Sẽ là điều hay nếu giới tinh hoa Việt Nam tự động nộp đơn ra ứng cử đại biểu Quốc Hội vào tháng 5 sắp tới. Càng đông càng tốt, nộp đơn tập thể càng hay hơn. Mỗi người viết đơn nộp theo qui định của Hiến Pháp (và theo luật hiện hành) đồng thời cũng nên công bố đơn ứng cử của mình trên báo chí, trên mạng internet. Sẽ ngoạn mục hơn, cho những người có khả năng tài chính, nếu in và lưu truyền được các bích chương hay các truyền đơn vận động bầu cử trong dân chúng. Dĩ nhiên tất cả đều làm theo những qui định của "Hiến Pháp" và "luật lệ hiện hành" về thể lệ bầu cử và ứng cử. Điều nên ghi nhận, những gì hiến pháp và "luật lệ" không qui định (hay không qui định rõ ràng) thì nên hiểu điều đó luật lệ cho phép. Ý kiến này người viết đã từng đề nghị từ nhiều năm về trước.
Đâu, những nhà trí thức "bô xít" ? Muốn việc thác bô-xít bác bỏ thì không thể đơn thuần viết báo và làm thỉnh nguyện thư. Thử một lần lăn xả vào "chính trị" xem sao ? Dự án khai thác "bô xít" không phải là một dự án đơn thuần kinh tế mà là một dự án "chính trị". Không thể lấy bài toán "kinh tế", "môi trường" thuyết phục, để chống đối một ma trận chính trị.
Đâu, những nhà trí thức IDS ? Sự phá sản (gần như vậy) của Vinashin đã gợi hứng gì cho quí vị ? Rõ ràng Vinashin bị sụp đổ là do sự móc ngoặc giữa bộ ba quyền lực chính trị, thân hữu và tư bản man rợ nhằm sang đoạt của cải của toàn dân. Việc này đang lây lan ra đến Tổng công ty Dầu Khí và Tổng công ty Điện lực VN. Các "trụ cột" kinh tế này đang trong tình trạng bị "rút ruột" (như Vinashin). Chẳng bao lâu đất nước này sẽ phá sản. Các thế hệ tương lai của dân tộc này sẽ chỉ là những con trâu, bò kéo cày trả nợ. Những sự thay đổi trong chế độ ở VN hiện nay căn bản là kinh tế. Nhưng nghĩ làm sao, thời buổi này, lãnh đạo quì lạy những vật vô ý nghĩa (như con rùa Hồ Gơm), hay đi xin xâm các đền thờ… cầu nguyện cho "quốc thái dân an". Vấn đề mê tín dị đoan nổi lên cùng khắp xã hội cho thấy mặt trái xã hội : lãnh đạo bất tài. Dân bất an, tức không có niềm tin về tương lai, do đó mới mê tín. Đó là hiện tượng của các xã hội thời thuợng cổ. Lãnh đạo mà không làm cho đất nước giàu mạnh lên (quốc thái) hay dân an (thấy có tương lai) thì do bất tài, nên từ chức. Vì nếu có tài kinh bang tế thế thì không ai đi cầu nguyện vớ vẩn như thế. Giải pháp ở đây là chính trị chứ không phải kinh tế.
Đâu, những nhà trí thức khoa bảng, nhà văn hóa, nhà giáo, luật gia, nhà báo, nhà văn… ? Phải chăng về mọi phương diện, xã hội VN hiện nay đều có những "bất cập" - có người nói "bất cập" đồng nghĩa với "thất bại". Nhất là các vấn đề thuộc phạm vi giáo dục. Bao lâu nữa thì người Việt sẽ "mất nước", hay "mất gốc" ngay ở trên đất nước của mình ? Nhiều tiếng nói lương tâm của nhiều thức giả đã gióng lên, cảnh tỉnh giới lãnh đạo VN về sự phá sản của nền văn hóa, giáo dục VN. Nhưng đáp số của mọi vấn đề chủ ở chính trị.
Dĩ nhiên quí vị không có hy vọng nào thắng cử. Ai cũng cảm nhận được điều đó. Nhưng làm việc gì cũng phải có bước đầu. Vạn sự khởi đầu nan. Nhưng nhất thiết không thể há miệng chờ sung, chờ ngày được cởi trói. Nếu chờ ngày được "cởi trói" thì ngày đó sẽ không bao giờ có. Họ sẽ thả quí vị, như những con chim, từ cái lồng nhỏ sang cái lồng lớn hơn. Thực tế mấy mươi năm nay đã chứng minh.
Xã hội Việt Nam cần thay đổi để đi lên nhưng không thể với tiến độ và phẩm chất của sự thay đổi đã thấy hôm nay. VN cần một cuộc "cách mạng" lớn. Việc trí thức VN dấn thân làm chính trị là một cuộc cách mạng lớn hơn mọi cuộc cách mạng nào khác trong lịch sử của VN.

6-2
Trí thức VN không nên tiếp tục việc "dò đá qua sông".
Đảng CSVN dò đá qua sông là bắt chước đảng CSTQ. Mục đích của họ là làm thế nào để giữ vững chế độ, tránh đi vào vết xe đổ của LX và các nước XHCN Đông Âu, đồng thời hội nhập vào thế giới.
Đảng CSVN (và TQ) họ phải dò dẫm từng viên đá, vì tất cả (những gì mới) đối với họ đều có thể tiềm ẩn một đe dọa cho chế độ. Sẩy chân một bước, chế độ sụp đổ, số mạng của họ cũng tiêu vong. Họ chỉ bước đi khi thấy rằng hòn đá dưới chân đã chắc chắn. Và khi bước sai, cần thoái lui, họ cũng thoái bộ trong an toàn vì tất cả đã được tính toán từ trước.
Nhưng người "trí thức" VN thì không cần phải "dò đá qua sông". Bản thân họ không hề bị đe dọa tiêu vong. Ngược lại, chính người trí thức mới là sự đe dọa tồn vong của (tất cả các tập đoàn độc tài trên thế giới), như đảng CSVN.
Sự hiểu biết như là ánh sáng mà sự độc tài là bóng tối. Trí thức VN phải ý thức rằng những người cầm quyền sợ họ chớ không phải ngược lại.
Vấn đề là trí thức VN vẫn không (hay chưa) là ánh sáng để có thể tỏa chiếu xóa tan bóng tối mông muội. Bởi vì họ vẫn còn đang trong tình trạng "dò đá qua sông".
Sự thay đổi ngoạn mục ở Miến Điện đã gợi hứng cho trí thức VN. Nhiều người mơ ước một Thein Sein của VN.
Tôi cho rằng đây là một sai lầm lớn. Nếu không có một lực lượng dân chủ lớn mạnh, đủ để làm áp lực, và nếu cần thiết lật đổ chế độ, thì phe quân phiệt Miến Điện sẽ không bao giờ nhượng bộ.
Yếu tố cốt lõi của việc dân chủ hóa là một lực lượng dân chủ lớn mạnh. Nếu có một Thein Sein (hay Gorbachev) thì việc dân chủ hóa sẽ xảy ra trong ôn hòa. Vậy thôi.
Bà Aung San Suu Kyi đơn giản là một trí thức dũng cảm. Kiến thức (chuyên môn) của bà không khác kiến thức của trí thức VN. Bà Aung San Suu Kyi cũng không hề là một "nhà tư tưởng". Sự can đảm đã nung đúc bà trở thành một "trí thức chính trị" lỗi lạc.
Trên thế giới này có nhiều nước phát triển với mức độ khác nhau. Lý do khác biệt về lịch sử, về văn hóa, về địa chính trị... tạo nên sự khác nhau này. Nhưng điểm chung của mọi quốc gia phát triển bền vững là có cùng một mô hình chính trị.
Bà Aung San Suu Kyi trở thành một trí thức chính trị lỗi lạc vì bà không mất thì giờ "dò đá qua sông", mất thì giờ định nghĩa lại các khái niệm về chính trị, về luật... của kho tàng văn hóa chính trị thế giới. VN thất bại, không có một phong trào dân chủ lớn mạnh, vì trí thức VN cố gắng tạo "bản sắc" cho riêng mình. Họ bắt chước y như đảng CSVN, cũng tìm một mô hình chính trị riêng cho (phe phái) họ, như mô hình "kinh tế thị trường theo định hướng XHCN".
Kiến thức nhân loại có nhiều như núi. Chỉ cần ta học tập, hiểu và áp dụng nó mà thôi. Nếu mà trí thức Nhật (cũng loay hoay dò đá qua sông như trí thức VN) thì nước Nhật đã không được như ngày hôm nay. Trí thức Nam Hàn (và Đài Loan) cũng vậy. Họ đâu có mất thì giờ (như trí thức VN). Thấy Nhật thành công là họ bưng nguyên mô hình của Nhật về để áp dụng cho nước mình. Từ giáo dục cho tới kinh tế.
Trí thức VN, cũng như đảng CSVN, cứ tưởng mình là "đỉnh cao trí tuệ". Các việc "sáng chế lại", hay "tân trang lại" những tư tưởng đã hiện hữu, dưới hình thức nào, thì cũng là "bắt chước". Mà việc "ngụy trang" lên đó (như bằng một cách gọi khác), đều chỉ thể hiện sự thiếu lương thiện mà thôi.
Chưa nói đó là việc vô ích, mất thì giờ.

8-2
Năm nào đến Hoàng Sa ?
Câu "sang năm đến Hoàng Sa" không biết xuất hiện từ đâu, khi nào, nhưng khi lên mạng internet lâu lâu lại thấy nó.
Câu này chắc chắn không phải đến từ chủ trương của nhà nước CSVN rồi. Đối với nhà nước này, Hoàng Sa và Trường Sa là chủ quyền của Trung Quốc, theo đúng nội dung của công hàm (hay công thư chi đó) của ông Phạm Văn Đồng gởi Chu Ân Lai ngày 10-9-1958.
Nhà nước CSVN, qua các học giả VN, cố gắng chống chế, phủ nhận hiệu lực của văn thư này trước dân chúng. Nhưng trước dư luận quốc tế thì những hành động của nhà nước này luôn thể hiện lập trường trái ngược. Từ trước đến nay, bất kỳ hành vi nào của người dân, thể hiện trước công chúng, nhằm khẳng định chủ quyền của VN tại HS và TS, đều bị nghiêm cấm. Các cuộc tưởng niệm ngày mất HS (17,19 tháng giêng 1974), hay ngày thảm sát ở Gạc Ma (14-3-1988), của các thành phần người Việt yêu nước ở Sài gòn hay Hà Nội, luôn bị nhà nước, nếu không cho công an đàn áp bắt bớ, thì cũng cho sai nha "hồng vệ binh" ra phá phách để việc tưởng niệm không thực hiện được.
Những hành vi nói trên của nhà nước, trên phương diện công pháp quốc tế, là bằng chứng hùng hồn: nhà nước CSVN nhìn nhận, bằng văn bản và bằng hành động trên thực tế, khẳng định HS và TS thuộc chủ quyền của TQ.
Nếu HS và TS của VN, thì có nhà nước nào lại cấm đoán, bắt bớ, đàn áp... những công dân của mình tổ chức những buổi lễ tưởng niệm (oan hồn) những chiến sĩ hy sinh bảo vệ lãnh thổ của mình ?
Nếu HS và TS là của VN, thì tại sao nhà nước CSVN không gọi những tử sĩ (chết oan ức) ở Gạc Ma là những chiến sĩ hy sinh bảo vệ tổ quốc, mà đơn giản là những người chết vì "bảo vệ ổn định cho khu vực", như đã ghi trên bia đá tưởng niệm (những người lính chết trận Gạc Ma) ?.
Còn nói chi đến những người lính chết ở Hoàng Sa! Họ sống là "lính ngụy" thì chết cũng là "lính ngụy".
Vì vậy, những lần đọc câu "sang năm tới Hoàng Sa" của bạn bè nào đó "hứa hẹn" với nhau như một lời thề, nhứt là trong ngày đầu năm, lòng tôi lại dâng lên một nỗi niềm chua xót khó tả được bằng lời.
Tôi không nghĩ là thế hệ mình sẽ thấy được Hoàng Sa về lại với tổ quốc của mình. Với một nhà nước như thế, ta không có bất kỳ một hy vọng nào. Nhưng dầu thế nào chúng ta vẫn phải làm bổn phận công dân của mình: bằng mọi cách bảo vệ lãnh thổ của tổ quốc.
Dầu vậy, việc mất chủ quyền lãnh thổ Hoàng Sa (và Trường Sa - vài ki lô mét vuông đất) sẽ chỉ là một vấn đề nhỏ, nếu so với hiệu lực về biển hàng trăm ngàn, thậm chí hàng triệu ki lô mét vuông có thể sẽ phải mất cho TQ.
Đọc đâu đó một tài liệu, cho rằng trước đây ông Hồ Chí Minh có nói rằng HS và TS "ba cái đảo chim ỉa", ý nói đại khái là HS và TS không quan trọng đâu, giao cho TQ cũng không hề gì. Vào thời điểm đó (1958), ông Hồ cần sự trợ giúp súng đạn, nhân lực, vật lực... của TQ để đánh chiếm miền Nam. Thời điểm đó ông Hồ, cũng như nhân sự đảng CSVN, không ý thức được tầm quan trọng của vùng biển (và thềm lục địa) chung quanh các đảo này. Có lẽ vì vậy nên nhà nước của ông Hồ đã ký cái công hàm nhìn nhận HS và TS thuộc về TQ. Cho đến ông Nguyễn Cơ Thạch, theo một tài liệu trên net, cũng đặt ưu tiên vấn đề xâm chiếm miền Nam lên trên vấn đề chủ quyền lãnh thổ.
Bây giờ, xem những yêu sách của TQ về hải phận của họ ở HS, qua bộ Luật Biển 1996, người ta mới thấy tầm quan trọng của vấn đề chủ quyền HS (và TS).
Mất chủ quyền HS, trong chừng mực, tội trạng của đảng CSVN còn có thể chạy được. Như lý lẽ của học giả VN: HS là do VNCH làm mất. Nhưng việc (có thể) mất hàng trăm ngàn cây số vuông biển (và thềm lục địa) ở HS cho TQ là do việc nhà nước CSVN nhìn nhận chủ quyền của TQ tại HS (và TS).
Bởi vì nếu VN còn giữ được danh nghĩa chủ quyền ở Hoàng Sa, thì cho dầu lãnh thổ này mất trên thực tế, thì trên phương diện pháp lý, Hoàng Sa là "lãnh thổ có tranh chấp".
Theo tập quán quốc tế, một lãnh thổ có tranh chấp, nếu đưa ra trọng tài phân giải, thông thường là chia đôi (vùng biển vì vậy cũng chia đôi).
Ta thấy, trên thực tế (và lịch sử), TQ lên tiếng tranh chấp HS với VN từ thời VN còn là thuộc địa của Pháp. Nhà nước Pháp đã hai lần đề nghị với TQ giải quyết tranh chấp này trước một trọng tài quốc tế. Cả hai lần TQ đều từ chối.
Phía TQ từ chối vì họ không có lý lẽ nào thuyết phục, để thắng.
Sau khi TQ chiếm HS (trên tay VNCH bằng vũ lực), HS vẫn không được quốc tế nhìn nhận là lãnh thổ của TQ. Đơn giản vì tập quán quốc tế không nhìn nhận việc chiếm hữu lãnh thổ bằng vũ lực.
Nhưng HS trở thành lãnh thổ của TQ, bởi vì Việt Nam là quốc gia duy nhứt có tính pháp nhân để phản đối chủ quyền của TQ, thì quốc gia này đã "nhìn nhận" chủ quyền của TQ tại HS.
Cho đến bây giờ nhà nước CSVN, cũng như nhiều học giả VN, vẫn không thức được rằng, mất chủ quyền HS là mất hàng trăm ngàn, thậm chí hàng triệu ki lô mét vuông biển cho TQ.
Thậm chí khi TQ cho đạt giàn khoan 981 ngay trên thềm lục địa của VN, cách đảo Lý Sơn của VN là 119 hải lý, nhưng nó chỉ cách đảo Tri Tôn (thuộc quần đảo Hoàng Sa) có 18 hải lý (về phía tây nam), thì nhà nước CSVN (và giàn học giả) cũng vẫn còn đắm chìm trong mê muội.
Vừa rồi, Mỹ cho tàu chiến tuần hành xuyên qua khu vực 12 hải lý của đảo Tri Tôn. Báo chí VN đánh phèng la rùm beng, cho rằng VN "mạnh" lên nhờ có Mỹ. Cho rằng "Mỹ phá đường cơ sở thẳng phi pháp của TQ"...
Nhân dịp, nhà nước VN, qua ý kiến của học giả VN, lý luận rằng các đảo HS không có đảo nào là "đảo" để có hiệu lực về (200 hải lý vùng kinh tế độc quyền) theo bộ Luật Biển quốc tế 1982. Họ cũng lý luận rằng TQ không phải là "quốc gia quần đảo" để có thể vẽ hệ thống đường cơ bản quần đảo HS, như bộ luật 1996 của TQ.
TQ có quyền vẽ hệ thống đường cơ bản như vậy hay không, sẽ phân tích ở dưới.
Mục đích của học giả VN nhằm chứng minh chuyến đi qua đảo Tri Tôn của chiếc khu trục hạm Mỹ là phù hợp với luật quốc tế: thể hiện quyền tự do hàng hải.
Nhà nước VN, qua giàn học giả (thượng thặng) của mình, lại rút dao ra đấu với người ta. Có điều là học giả nhà mình cầm dao bằng đàng lưỡi.
Giả sử rằng chuyến hải hành của chiếc khu trục hạm Mỹ là phù hợp với luật quốc tế. Thì việc này có làm giảm đi chút nào yêu sách về "vùng nước" của quần đảo Hoàng Sa (theo luật biển 1996) của TQ hay không ?
Xin thưa rằng không. Tàu Mỹ có đi vào vùng nội hải của quần đảo Hoàng Sa, hay lãnh hải của đảo Tri Tôn, việc này không làm mất, hay giảm đi yêu sách của TQ.
VN cầm dao bằng lưỡi để đấu với người ta, bởi vì chỉ có những nước như Phi, Mã Lai, Brunei... là những nước không thể chứng minh chủ quyền của họ ở TS thì họ mới lập luận rằng các đảo TS là các đảo đá, không có đảo nào là đảo thật (như định nghĩa ở điều 121 bộ Luật biển 1982).
Lập luận như vậy, thứ nhứt, vô hình chung, các học giả đã thú nhận rằng VN không có chủ quyền tại HS.
Thứ hai, các học giả nói rằng các đảo HS không có đảo nào là "đảo" thật sự để có hiệu lực biển (200 hải lý vùng kinh tế độc quyền). Thì tranh chấp giữa VN và TQ đơn thuần là tranh chấp chồng lấn về biển, do cách diễn giải đối nghịch nhau về hiệu lực các đảo HS.
Tập quán quốc tế giải quyết vụ này ra sao ? Vụ kiện Phi-TQ trước Tòa Trọng tài sắp tới sẽ cho thấy số phận của một số bãi đá TS (mà TQ đòi hỏi chủ quyền) có hiệu lực về biển như là đảo thật sự hay không. Các đảo HS, có hiệu lực nhiều hay ít sẽ do tương quan lực lượng (quốc phòng, kinh tế, ngoại giao..) giữa các bên.
Còn hệ thống đường cơ bản của quần đảo Hoàng Sa, theo bộ Luật biển 1996 của TQ, có phù hợp với nội dung Luật quốc tế về Biển 1982 hay không ?
Phần IV của Bộ Luật quốc tế về Biển 1982 nói về "quốc gia quần đảo", trong đó có định nghĩa về "quần đảo".
"Quần đảo (archipel) là một tổng thể các đảo, kể cá các bộ phận của các đảo, các vùng nước tiếp liền và các thành phần tự nhiên khác có liên quan với nhau đến mức tạo thành về thực chất một thể thống nhất về địa lý, kinh tế và chính trị, hay được coi như thế về mựt lịch sử."
Về địa lý và lịch sử, ta không thể phản bác Hoàng Sa (gồm các đảo của nó) tạo thành một "quần đảo". Mà "quần đảo" bao gồm, dĩ nhiên các đảo, còn có "các vùng nước tiếp liền".
Vì vậy khi cho rằng hệ thống "đường cơ bản" của TQ là "không hợp pháp", như ý kiến của học giả VN, là không thuyết phục.
Trong khi nhiều nỗ lực về kinh tế, chính trị của TQ (mà VN không làm được gì) như thành lập thành phố Tam Sa, trong đó đảo Phú Lâm là trung tâm hành chánh, cho tổ chức các cuộc du lịch các đảo HS, cho khai trương đường bay dân sự Hải Nam-Phú Lâm...
Các việc này càng củng cố quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của TQ, củng cố yêu sách hệ thống đường cơ bản quần đảo HS của nước này.
Nông nỗi đến nước này, chỉ vì lý do nhà nước CSVN và giàn học giả (thượng thặng) của VN, chỉ chú trọng đến yếu tố đảo hay đá, có hiệu lực biển (kinh tế độc quyền) hay không có hiệu lực biển, chớ không đặt nặng vấn đề chủ quyền.
Lại còn có học giả khuyên VN nên từ bỏ chủ quyền (sic!) ở các đảo TS năm trong hải phận của các nước Phi, Mã Lai, Brunei...
Như vậy là VN lên đấu trường đấu dao với TQ, mà lực sĩ VN cầm dao bằng lưỡi.
Không ít, từ 15 năm nay, tôi luôn nhấn mạnh vấn đề "chủ quyền". VN cần khẳng định "chủ quyền" của mình ở HS và TS. Khẳng định bằng các hành vi có giá trị về pháp lý, chớ không phải nói khơi khơi. Hay bằng cách giải thích HS (và TS) là đảo đá, không phải đảo thật. Hay lên án khơi khơi (không chứng minh) hệ thống đường cơ bản của TQ ở HS là "phi pháp".
Bao giờ đến Hoàng Sa?
Bạn bè chuyền nhau khẩu hiệu "sang năm đến Hoàng Sa". Tôi ngậm ngùi tự hỏi lòng mình : bao giờ đến Hoàng Sa ?
Tôi sợ là không bao giờ. Một nhà nước vừa ương hèn lại còn mang tiếng bán nước. Hả miệng mắc quai. Một giàn học giả chỉ biết vuốt ve xuôi chiều, không dám nói ngược.
Tôi sợ không chỉ mất Hoàng Sa, VN còn mất hàng trăm ngàn cây số vuông biển cho TQ.
Hai bản đồ đính kèm ở đây, dẫn từ tài liệu của học giả Valencia, hai trường hợp: hiệu lực Hoàng Sa 100% và hiệu lực 0%, cho ta thấy nguy cơ hàng trăm ngàn ki lô mét vuông biển của VN bị mất cho TQ là có thật.
Và không chỉ ngừng ở HS, TS cũng sẽ cùng số phận.

9-2
Có người nói rằng dân VN có nhiều tính xấu. Điển hình là tính tham. Tôi thì thấy không phải chỉ có dân VN mới tham. Dân nào, ở đâu cũng vậy, tất cả đều tham lam. Có điều, theo tôi, dân VN hơi khác người ta một chút, là ở cái cách thỏa mãn lòng tham của mình.
Cái tham thứ nhứt là tham vọng. Ai trên đời này lại không có "tham vọng" đạt được một cái gì đó ?
Vấn đề là cái khả năng của người đó có "ngang tầm" với cái "tham vọng" (của người đó) hay không?
Vì mình đang nói về người Việt, những thí dụ vì vậy cũng nên lấy từ người Việt.
Thí dụ chức vụ tổng bí thư đảng cộng sản VN, tôi thấy hiện nay không ai xứng đáng, ngoài ông Trọng. Ông Trọng có (dư) khả năng để lãnh chức vụ này. Ông tốt nghiệp tiến sĩ "chuyên ngành xây dựng đảng", lại biết tiếng Nga. Cả cuộc đời, sự nghiệp chính trị của ông Trọng đều xoay chung quanh việc học tập "xây dựng đảng". Có thời ông làm Tổng biên tập tạp chí Cộng sản. Thì cũng là "cái miệng" của đảng, là cơ quan tuyên truyền chính thức. Vào BCH BCT, ông lãnh các phần vụ thuộc vê "lý luận".
Xứng tầm khả năng với tham vọng, không ai phê bình ông được chỗ nào.
(Về tham vọng, nếu ông Trọng không có tham vọng trở thành lãnh đạo đảng thì ông Trọng học cái ngành "xây dựng đảng" để làm chi ?)
Cái lầm lẫn (đầu tiên) của đảng là đã giao cho ông Trọng làm thành ủy Hà Nội (6 năm). Hà Nội làm như chiếc xe bị "kẹt thắng", đứng ì một chỗ, không nhít lên được. Bị Sài gòn, Đà Nẵng, Cần Thơ... ào ào qua mặt. Dân miền nam nói kháo với nhau rằng, nếu không nhờ miền nam nuôi thì dân Hà Nội chết đói rồi ! Không biết mấy ông thần miền nam có nổ hay không, mà xét lại, thấy đúng! Hà Nội làm ra cái thứ gì, sản xuất được cái gì... để đóng góp vào việc phát triển đất nước... ? Câu hỏi hơi bị khó, phải không ?.
Ông Trọng qua cầm chịch ở quốc hội 5 năm. Việc này cũng không ai phê bình, đúng với tham vọng, phù hợp với khả năng của ông Trọng. Không nói.
Sau đó, năm 2011, ông lên làm TBT đảng. Việc làm này lý ra là đúng với khả năng của ông Trọng. Cái sai lầm là chức TBT của ông Trọng lại kiêm luôn chức bí thư quân ủy trung ương, tức nắm đầu quân đội. Nắm đầu quốc phòng đâu thể để người chuyên việc cạo giấy ? Rốt cục, suốt thời kỳ ông Trọng làm TBT, quốc phòng VN, nói thiệt không sợ mích lòng, lính tráng đều cạo giấy hết.
Năm nay, đại hội 12, ông Trọng trúng cử (nghe ông nói là 100%) chức TBT. Tôi cho rằng chức TBT đảng không ai xứng đáng bằng ông Trọng. Thời mác lê suy tàn, thế giới XHCN sụp đổ... mà ông Trọng vẫn cương quyết phất cờ XHCN với lý thuyết mác lê và tư tưởng ông Hồ. Cũng thông cảm cho ông. Tốt nghiệp ngành "xây dựng đảng", tối ngày tụng kinh "mác lê" và nhơi lại tư tưởng ông Hồ, lên TBT, không làm việc này thì làm việc chi ?
Biết chuyện chi khác mà làm ?
Khả năng đáp ứng đúng với tham vọng là như vậy.
Vấn đề là đảng CSVN là "lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội". Bỏ mẹ là ở cái câu (điều 4) này.
Mà lãnh đạo nhà nước và xã hội thì cần đủ thứ chuyên môn, đòi hỏi khả năng ở tầm cao (muôn trượng cao hơn) cái nghề "xây dựng đảng".
Từ năm năm qua VN dậm chưn tại chỗ, nếu không nói là tụt hậu so với các nước láng giềng. Campuchia đang bóp kèn qua mặt. Xe đang lên dốc mà ông Trọng cứ đạp thắng, không gài số chêm ga. Xe phải tuột dốc thôi.
Cái tham lam của người VN trớ trêu ở cái chỗ này. Khả năng không có mà tham vọng tràn trề.
Mới chết mẹ cái giống dân này không chớ !
Thêm thí dụ là anh ba X. Bây giờ anh xuống rồi, dân ta có thêm người góp bàn tay xây dựng. Tài nghệ anh Ba là... thợ chích. Từ nay dân Cà Mau có thêm anh thợ chích dạo. Đóng góp nào thì cũng là đóng góp phải không ?
Đúng tầm khả năng, đáp ứng vừa khít tham vọng làm thầy Ba chích dạo.
Vấn đề là di sản của anh, mười năm anh cầm chịch hội đông bộ trưởng. Mà làm cái chức này phải biết "kinh bang tế thế", tinh thông đủ ngành. Ngoài cái chích dạo thì anh biết làm cái chi ? Anh cầm chịch đứng đầu nhà nước, làm cái gì là thất bại cái đó, đi tới đâu là suy sụp, còn không là sụp đổ tới đó. Chỉ có tư bản đỏ và tư bản nước ngoài là mập thây.
Vì thế nghe tin anh xuống, cho tới tư bản Nhật còn lên báo khóc lóc thương tiếc cho anh. (Coi BBC thì biết). Anh xuống thì mấy cái công trình (vài trăm tỉ đô) phi trường Long Thành, đường sắt bắc nam, cao tốc bắc nam... xem như đắp chiếu.
Khả năng không có mà tham vọng lại tràn trề. Dân mình chết mẹ nó hết, phải không anh ba ?
Giờ nói qua chuyện tham nhũng. Cũng là "tham", nhưng mà việc thỏa mãn cái tham này có tên gọi khác, đó là ăn cắp.
Ở VN đâu lại không có tham nhũng ? Ai có quyền là có tham nhũng. Chỉ cần xét lại tài sản mặt nổi của họ thôi, là đủ để kết luận.
Các xứ người ta làm giàu, phải đổ mồ hôi nước mắt. Phải cúi đầu xuống mới lượm được đồng tiền.
Dân mình làm ruộng, cắm đầu cả ngày dưới đất, phơi lưng cho trời, mới làm ra được hột gạo.
Làm quan thời cộng sản, người ta phải đem tiền bạc, của cải... tới quì gối cúi đầu dâng lên cho họ.
Làm quan thời cộng sản, chỉ ra tay ký không một tờ giấy, là ruộng đất, nhà cửa của dân bị truất.
Đó gọi là gì ? Ăn cướp hay ăn cắp ?
Còn tệ hơn cả ăn cắp, ăn cướp hàng trăm lần.
Quan thời cộng sản lòng tham vô đáy mà khả năng, ngoài sự độc ác, thì không có khả năng gì.
Nói tới người dân. Cần phải nói lại cho đúng là người dân VN có thói ăn cắp.
Tham nhũng là ăn cắp. Tham nhũng tràn lan, hang cùng ngõ hẻm, người dân nào cũng bị quan cộng sản ăn cắp (hay bị ăn cướp) tài sản. Có khi công khai như các vụ đổi tiền, các vụ đánh tư sản. Có khi bí mật như bán bãi lấy vàng dân đi vượt biên.
Thượng ăn cắp thì hạ cũng ăn cắp. Ra các nước Nhật, Thái, Singapour, Mã Lai, thậm chí Campuchia... trong các cửa hàng đều có bảng viết cảnh cáo việc ăn cắp bằng tiếng Việt.
Những người ăn cắp không phải họ nghèo. Họ có công ăn việc làm, như phi công, tiếp viên hàng không, cán bộ, trí thức đi học tập, đi công cán nước ngoài...
Ăn cắp là ăn cắp chớ không phải là do lòng tham.
Ăn cắp trở thành "bản sắc văn hóa". Người ta phân biệt dân nước này với dân nước kia là do "bản sắc văn hóa" của dân đó. Ăn sushi thì biết là dân Nhật. Nói tới Samsung thì người ta biết đó là dân Hàn. Nói Ankor thì biết là dân Campuchia...
Người ta viết bảng cảnh cáo bằng tiếng Việt nạn ăn cắp, thì ăn cắp là "bản sắc văn hóa" của người Việt.
Tham vọng của anh thì cao, khả năng anh không có. Anh cố gắng làm mọi cách để đạt được mục tiêu (cao hơn tham vọng của anh). Đó cũng là một thứ lừa bịp.
Lý thuyết mác lê, tư tưởng ông Hồ sẽ giúp gì để đất nước này phát triển ?
Đéo có gì cả, phải không ?
Vậy mà bọn họ nhứt quyết lãnh đạo đất nước với tư tưởng này.
Bọn họ là một đám lừa bịp, ăn cắp, phải không?.
Nhờ bọn họ lãnh đạo biết nghề ăn cắp mà đất nước 40 năm, VN có bản sắc văn hóa ăn cắp.
Chớ tham thì ai không tham ?
(chưa hết nghe bà con, mai mốt viết tiếp)


10-2
Đài Loan, Đại Hàn và trong chừng mực các nước Đông Nam Á như Thái Lan, Mã Lai, Phi, Nam Dương… là các thí dụ điển hình về mối quan hệ hữu cơ giữa "kinh tế" và "chính trị". Đây là các nước trước kia độc tài, nhờ phát triển kinh tế mà hệ thống chính trị độc tài ở đây chuyển đổi (thành công) sang thể chế dân chủ tự do.
Lý thuyết và thực tế chứng minh, kinh tế là hạ tầng cơ sở, là nền tảng quyết định chế độ chính trị, là kiến trúc ở thượng tầng. Kinh tế thị trường chỉ có thể hoạt động lành mạnh trong các thể chế dân chủ tự do. Các nước trên đây là các « case studies » về sự chuyển hóa thành công từ một chế độ độc tài sang chế độ dân chủ (do động lực của phát triển kinh tế).
Trường hợp Đài Loan, một cách tóm tắt, việc dân chủ hóa được thực hiện qua quyết định ngoạn mục về chính trị của những người đối lập, còn gọi là "đảng ngoại", tức người ngoài đảng (Đảng ở đây là Quốc Dân Đảng), trước cuộc bầu cử bán phần ở Viện Lập Pháp và Quốc Hội, tổ chức vào tháng 12 năm 1986. Những người "đảng ngoại" đã lấy một quyết định táo bạo : thành lập các đảng chính trị và ra ứng cử. Có ba đảng được thành lập và dịp này đảng Dân Tiến đã chiếm được 22% số phiếu. Từ các quyết định đó sinh hoạt chính trị Đài Loan bước vào khúc quanh chuyển hóa dân chủ.
Tại Việt Nam, việc cho người "ngoài đảng" tự ứng cử vào Quốc Hội đã được đảng CSVN chấp nhận từ nhiều năm trước, thấy được qua các nhiệm kỳ Quốc Hội 2001-2006 và 2006-2011. Tỉ số đắc cử của người ngoài đảng, đúng theo qui định trước đó của đảng CSVN, thông qua Mặt Trận Tổ Quốc, vào khoảng dưới 20%. Nhưng sự sinh hoạt chính trị của thành phần ngoài đảng này, ngoại trừ một thiểu số rất nhỏ đại biểu (con số ít hơn số ngón tay trên một bàn tay) đã biểu lộ được tư cách của một người "đại diện dân", làm chính trị vì quyền lợi của dân (và đất nước), thì đa phần còn lại chỉ có vai trò làm cảnh.
Nếu so sánh VN hiện nay với Đài Loan ở thập niên 80 thì sự khác nhau rất lớn, có thể là ánh sáng đóm đóm với ánh mặt trời. Đài Loan đi trước VN đã hơn 3 thập niên, xem ra vẫn là ít. Nhiệm kỳ Quốc Hội 2011-2016 có nhiều dấu diệu cho thấy sẽ còn tệ hại hơn các nhiệm kỳ trước. Không những người dân lơ là với việc bầu cử Quốc Hội, mà thành phần "ngoài đảng có quan tâm đến đất nước" cũng thể hiện một dấu hiệu chán chường. Thật là một điều đáng quan ngại cho tương lai của đất nước. Thái độ này cần được nghiên cứu một cách nghiêm túc. Có nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng nguyên nhân chủ yếu đưa đến sự mất sức hấp dẫn của sinh hoạt nghị trường là phe "ngoài đảng" chỉ là những người đơn lẻ, làm việc theo lối "đơn thân độc mã, hoặc là "đi tìm giải pháp cho cá nhân". Nhiều trường hợp tự ứng cử bị thất bại. Có người thất bại vì thua phiếu. Nhưng co rất nhiều trường hợp thất bại vì "phường, khóm" không "cho ra". Sự thất bại đã làm cho giới trí thức đối lập chùn chân, một số chán nản và việc này góp phần không nhỏ vào hiện tượng lơ là của đại đa số người dân. Đây là một tai họa lớn cho đất nước nhưng người vui mừng trước hết sẽ là đảng CSVN.
Làm sao để vượt qua các trở ngại ? Nếu sinh hoạt chính trị nghị trường không phát triển được thì vấn đề "dân chủ hóa Việt Nam" sẽ không bao giờ thực hiện được, ngoại trừ một phép lạ !
Thử đặt một giả thuyết, trí thức VN lấy từ kinh nghiệm Đài Loan :
Nếu số 20% người "ngoài đảng" trong Quốc Hội được kết hợp lại thành một, hai, thậm chí ba đảng ; sự bế tắt về chính trị độc tài đảng trị của VN có thể đã được giải tỏa. Hoặc là, những người tự động sắp ra ứng cử, thay vì đi tìm giải pháp cho cá nhân, mà phần chắc là thất bại, thử tập họp với nhau lại, tổ chức thành đảng chính trị. Nếu cá nhân tự ứng cử thất bại, sẽ là một thất vọng lớn cho bản thân và gia đình, giòng họ. Nếu thắng cử thì cá nhân cũng không vinh quang gì, những vấn đề của đất nước vẫn không được giải quyết, vì tiếng nói của cá nhân chỉ là tiếng nói đơn lẻ của một người.
Trường hợp đảng phái chính trị thì hoàn toàn khác. Ở trường hợp Việt Nam hôm nay, sự thất bại của các ứng cử viên của một đảng tương đương với một sự thành công lớn cho dân chủ, cho sự tiến bộ của cả dân tộc. Thất bại cũng có thể là một đầu tư lớn của đảng vào tương lai. Nếu thắng, chỉ cần chiếm 10% trong Quốc Hội, thì nhiều vấn nạn lâu đời của VN hiện nay, như các vấn đề về giáo dục, tham nhũng, lãng phí… có thể sẽ được chú trọng một cách đúng đắn hơn. Rốt cục toàn thể người dân trong nước được lợi.
Dẫn từ bài "Tìm hiểu quá trình dân chủ hóa Đài Loan", năm 2011 (thì phải)

14-2
Người có "tư cách" để ra ứng cử "tự do" (mà tôi biết hiện nay) là bà Cấn Thị Thêu. Bà ta có mục tiêu rõ rệt là bênh vực khối "dân oan" chống lại sự áp bức của CSVN. Bà Cấn Thị Thêu có "chính danh", vì bà được đa số dân oan ủng hộ như là thủ lãnh. Tiếc là tôi không quen với bà.
Về lý do lập đảng chính trị mà CSVN không có lý do để cấm, hay đàn áp, là "đảng Xanh". Phong trào bảo vệ cây xanh đã bùng lên ở Hà Nội, đã tranh đấu và đã thành công. Phía cầm quyền phải nhượng bộ. Phong trào bảo vệ môi trường cũng là khyunh hướng của thế giới văn minh hôm nay. Dưới sự lãnh đạo (và phá hoại) của đảng CSVN từ mấy thập niên nay, môi trường, môi sinh của đất nước VN đã bị phá hoại mà hàng thế kỷ không thể xây dựng lại được. Sự hiện hữu của một đảng Xanh ở VN là chính đáng. Tôi thấy có nhiều người năng nổ, xứng đáng để lãnh đạo đảng này đó chớ. Vấn đề là quí vị này có biết cách tổ chức để phân bổ người ra tranh cử hay không?
Nếu chịu khó suy nghĩ ta sẽ tìm ra nhiều kẻ hở pháp lý, cũng như tính chính đáng để lập đảng mà đảng CSVN không có lý do gì để cấm.
Chớ còn ra ứng cử mà ra bản cương lĩnh nội dung y chang những điều mà CSVN đã nói (mà không làm được) thì ra làm gì ? Đảng CSVN không đủ người hay sao vậy ?
Ra ứng cử là vì mình không đồng ý với chính sách hiện tại của đảng cầm quyền. Mục đích chính trị của mình rõ rệt là lãnh đạo nhà nước và đưa đảng CSVN về tư thế đối lập. Mà muốn giành được các nhiệm vụ lãnh đạo nhà nước thì phải có đảng chính trị.
Nếu không vậy thì ra làm chi ?


14-2
Một cá nhân "ứng cử tự do" vừa công bố "cương lĩnh tranh cử". Tôi nghĩ rằng với vai trò "đại biểu quốc hội" đã được qui định trong hiến pháp, hay xác định rõ rệt trong bộ luật bầu cử và ứng cử (2015), cương lĩnh tranh cử này vô phương thực hiện. Đơn giản vì các "hứa hẹn hành động trong cương lĩnh" không thuộc thẩm quyền của đại biểu quốc hội.
Cương lĩnh chính trị là vấn đề thuộc về đảng chính trị.
Trong các bài viết từ 5 (hay 10 năm) trước đây, tôi đã từng khuyến cáo trí thức VN tập họp với nhau lại, bắt chước trí thức ĐÀi Loan thành lập đảng và ra ứng cử.
Trong sinh hoạt chính trị, nếu có không quá một đảng phái chính trị, sinh hoạt này không phải là dân chủ..
Đảng chính trị là gạch nối giữa nhân dân và nhà nước nhằm bảo vệ quyền lợi của nhân dân và đất nước. Chỉ có đảng chính trị mới soạn thảo những chương trình (kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục...), cam kết sẽ thực hiện nếu thắng cử. Trong vai trò đối lập, đảng phái chính trị có thể đề nghị những giải pháp khác với đảng cầm quyền...
Một đại biểu quốc hội không đảng phái sẽ không làm được gì, ngoài việc giơ tay biểu quyết, hay chống đối.
Đó chỉ là dân chủ hình thức.
Bài viết từ 3 năm trước, đăng lại để góp ý.
Vấn đề Dân chủ : Dân chủ thực chất và dân chủ hình thức
Nhiều người chưa từng sống tại miền Nam trước 1975 thường hay đề cao nền « dân chủ cộng hòa » ở miền Bắc đồng thời chỉ trích rằng nền dân chủ ở miền Nam chỉ là một thứ « dân chủ kiểu Mỹ ». Lời chê bai này, xét trên lý thuyết Mác-Xít, dĩ nhiên phải đúng.
Trên quan điểm của Mác, thực chất của « dân chủ nhân dân" thì « dân chủ » gấp triệu lần thứ « dân chủ tư sản » (tức dân chủ kiểu Mỹ). Thua hơn đến một triệu lần thì cái thứ « dân chủ kiểu Mỹ » này có ra gì !
Nhưng tiếc thay chủ nghĩa Mác đã sụp đổ. Thế giới bây giờ không còn ai mất thì giờ bàn cãi việc « ai thắng ai », mọi người đều thấy nền dân chủ Mỹ đã đánh gục « nền dân chủ gấp triệu lần » của Liên Xô và khối cộng sản. Đến nay ai cũng nhìn nhận rằng món hàng có giá trị nhứt nước Mỹ, không phải phi thuyền hay vũ khí tối tân, mà là bản « hiến pháp dân chủ ». Giá trị nhứt vì tất cả các nước áp dụng đều thành công rực rỡ trong việc phát triển đất nước.
Một vài mô hình dân chủ cóp py mô hình hiến pháp dân chủ kiểu Mỹ : các nước Mỹ, Canada, Tây Âu, Nhật, Đại Hàn… nước nào cũng là cường quốc.
Vì vậy, khi chê bai nền dân chủ ở miền Nam trước 1975 là nền dân chủ theo kiểu Mỹ, lại trở thành một lời tán dương quá trớn. Rõ ràng lãnh đạo miền Nam bất tài, thiếu viễn kiến, trí thức miền Nam bất lực và thiển cận. « Nền dân chủ kiểu Mỹ » thật không xứng đáng. Đáng lẽ miền Nam nên áp dụng một chế độ thích ứng cho tình trạng chiến tranh, tương tự như ở Nam Hàn hay Đài Loan cùng thời kỳ có lẽ thành công hơn. Lãnh đạo và trí thức miền Nam, bất tài và bất trí, đã phung phí « vốn liếng dân chủ » sẵn có, làm sụp đổ nền dân chủ non trẻ này. Dầu vậy, nền dân chủ yểu số này cũng sinh sản ra được nhiều sản phẩm có giá trị, ít ra về các mặt văn hóa, giáo dục, kinh tế, đạo đức xã hội… Trịnh Công Sơn, cũng như nhiều nghệ sĩ tài hoa khác, trong và ngoài nước không hết lời ca ngợi, là sản phẩm của nền dân chủ yểu số đó.
Hôm nay mọi người nhìn nhận sự cần thiết về một nền dân chủ cho VN. Việc này sẽ là công việc dã tràng xe cát nếu ta không hiểu được thực chất cái « dân chủ » mà mình muốn xây dựng đó là cái gì ? Một thành phần không nhỏ trí thức trong nước (nhứt là một vài trí thức phản chiến thời trước 75), do quá khứ chống Mỹ, do đó vẫn nghi kỵ với « dân chủ kiểu Mỹ ».
Thử so sánh « nền dân chủ kiểu Mỹ » với nền dân chủ gấp triệu lần đang áp dụng tại VN, ta thấy khác nhau chỗ nào và giống nhau chỗ nào ?
Mô hình dân chủ được áp dụng tại Mỹ và tại hầu hết các nước trên thế giới, thực ra là nền dân chủ tự do. Đó là loại dân chủ được người dân (ở các nước áp dụng) sử dụng như là một phương tiện để tuyển chọn, trao quyền lực của người dân cho (những) người được tuyển chọn để lãnh đạo nhà nước.
Tổng thống (hay thủ tướng ở các nước dân chủ đại nghị), tức người lãnh đạo tối cao của nhà nước, được tuyển chọn qua các cuộc đầu phiếu trực tiếp hay gián tiếp, mọi người dân được quyền sử dụng lá phiếu của mình trong việc tuyển chọn. Đại biểu Quốc hội, nhân sự Hội đồng Hành tỉnh… cũng được người dân trong khu vực tuyển chọn bằng phương pháp bầu cử.
Phương pháp thể hiện dân chủ ở đây là thể thức đầu phiếu. Pháp luật các nước theo dân chủ tự do bảo đảm cho mọi người có quyền và cơ hội như nhau trong vấn đề bầu cử và ứng cử.
Dân chủ này là dân chủ thực chất.
Trong khi loại dân chủ gấp triệu lần ở VN không nhằm để tuyển chọn người lãnh đạo nhà nước, cũng không nhằm để người dân tham gia vào công việc nhà nước…
Quan niệm về dân chủ Mác-Lê nin là dân chủ của giai cấp vô sản, còn gọi là dân chủ nhân dân. Về nhà nước, quan niệm Mác Lê Nin cho rằng đó là dụng cụ bóc lột của giai cấp tư sản. Vì vậy chủ nghĩa Mác-Lê chủ trương sử dụng bạo lực để cướp chính quyền (chứ không thông qua thể thức bầu cử). Khi giai cấp vô sản cướp được chính quyền, lập thành nhà nước chuyên chính vô sản, để tiến tới mục tiêu cuối cùng là thủ tiêu nhà nước.
Trong thời kỳ quá độ, nhà nước là một nhà nước chuyên chính vô sản (chuyên chính có nghĩa là độc tài). Thời kỳ này giai cấp vô sản lãnh đạo nhà nước, mà đại diện của nó là đảng Cộng sản. Quyền lực thuộc về nhân dân nhưng nhân dân thuộc giai cấp vô sản.
Hiện nay ta thấy tại VN, đảng đưa người (đảng viên) ra ứng cử Quốc hội. Dân bỏ phiếu cho người nào thì cũng là người của đảng (hay của đảng đưa ra).
Các đại biểu đắc cử (đa số là đảng viên) bầu Chủ tịch nước, sau đó các chức vụ Thủ tướng và các bộ trưởng. Tức người dân có bầu ai, bầu thế nào thì nhân sự đảng CSVN cũng lãnh đạo đất nước. Mà việc bầu bán này cũng chỉ là « hình thức », vì nhân sự lãnh đạo đều được TW đảng quyết định trước. Quốc hội chỉ thông qua cho có lệ.
CSVN thường hay khoe khoang rằng nền dân chủ ở VN xuyên suốt như một sợi chỉ đỏ, đến khắp nơi trong xã hội. Mọi sinh hoạt của người dân đều áp dụng thể thức « dân chủ ». Trong các buổi họp về đường lối, hình thức thì dân chủ, nhưng thực chất chỉ nhằm vào việc bàn luận lãnh đạo sẽ « làm gì và làm thế nào ». « Sợi chỉ đỏ » dân chủ còn là vũ khí lợi hại kiểm soát tư tưởng của người dân. Vụ góp ý dự thảo Hiến pháp 1992 và Kiến nghị 72 cho ta thí dụ điển hình.
Ta còn thấy rằng nội dung của các bản hiến pháp, thật ra chỉ là « cương lĩnh » của đảng CSVN. Hiện nay đảng CSVN hô hào mọi người góp ý sửa đổi hiến pháp. Việc này thể hiện tính « hình thức » của dân chủ vì việc bàn luận ở đây chỉ nhằm vào việc xác định đảng CSVN sẽ làm điều gì và thực hiện điều đó như thế nào, chứ không nhằm vào việc xác định thể chế chính trị và đặt lại vấn đề đảng lãnh đạo. Một số đông đảng viên CSVN còn chủ trương quân đội (và dĩ nhiên công an) phải trung thành trước tiên với đảng, sau đó mới trung thành với nhân dân và tổ quốc.
Nền dân chủ gấp triệu lần này rõ ràng là dân chủ hình thức.
Vậy hai nền dân chủ đó khác nhau chỉ ở một điều : dân chủ kiểu Mỹ (dân chủ tự do) nhằm bầu lãnh đạo điều khiển bộ máy nhà nước trong khi nền dân chủ nhân dân nhằm vào việc bàn thảo đảng lãnh đạo làm cái gì và làm thế nào. (Mà việc bàn thảo này cũng hình thức vì việc gì đảng cũng đã định trước. Sợi « chỉ đỏ dân chủ » xuyên suốt trong xã hội chỉ nhằm vào việc kiểm soát tư tưởng người dân trong lúc phát biểu mà thôi).
Cũng nên nói qua về « dân chủ xã hội ». Cũng như « dân chủ », « dân chủ xã hội » cũng có những nhập nhằng lớn. Các nước Bắc Âu và một số nước Tây Âu là các nước theo nền dân chủ xã hội. Nhà nước các nước này còn gọi là « nhà nước phúc lợi – état providence ». Nguồn gốc « xã hội » ở đây bắt nguồn từ quan niệm về xã hội của Thiên chúa giáo và chủ trương về xã hội của chủ nghĩa xã hội không tưởng. Nền tảng dân chủ ở đây là « dân chủ tự do », tức quyền lực thuộc về người dân và việc lựa chọn người lãnh đạo thể hiện qua thể thức bầu cử. Trong khi các nước « chủ nghĩa xã hội » Mác-Lê, thể thức tuyển chọn người lãnh đạo không do bầu cử mà do sắp xếp của đảng CS. Đồng thời chủ nghĩa xã hội Mác-Lê chủ trương bạo lực cách mạng để cướp chính quyền cũng như áp dụng chuyên chính vô sản.
(Trường hợp chủ nghĩa xã hội của Hugo Chavez ở Vénézuela cũng có nhiều nhận định sai lầm. Xã hội ở đây có nhiều điểm khác biệt với XHCN Mác-Lê. Chavez được người dân bầu lên làm tổng thống qua một cuộc bầu cử dân chủ tự do. Sau đó Chavez tuyên bố áp dụng đường lối « xã hội » theo lý tưởng của mình (và lấy hứng từ Simon Bolivar) để thành lập một nhà nước phúc lợi. Thể thức bầu cử tự do vẫn được duy trì, mặc dầu hiến pháp bị thay đổi vài điều để Chavez được phép ra ứng cử nhiều lần, nhưng vấn đề chuyên chính vô sản bị bác bỏ và cách mạng bạo lực bị nghiêm cấm. Nền tảng dân chủ ở Vénézuela thực chất vẫn là nền tảng dân chủ kiẻu Mỹ, tức dân chủ tự do.)
Ta thấy các nước Tây phương, đảng Cộng sản vẫn đuọc phép hoạt động chính trị như các đảng phái khác. Điều mà các đảng CS này phải tuân theo (để được phép sinh hoạt chính trị) là phải từ bỏ bạo lực cách mạng và chuyên chính vô sản.
Dân chủ đơn giản như vậy nhưng không phải ai cũng hiểu. Để dễ dàng, không nên chấp nhứt ở cái tên, quan trọng là thực chất của dân chủ. Nền dân chủ đó gọi tên gì cũng được. Miễn sao dân chủ này không chấp nhận bạo lực cách mạng và chuyên chính vô sản.

15-2
Về các luật sự đã tuyên bố ra ứng cử tự do, tôi cũng không thấy rõ rệt mục tiêu ra ứng cử của những người này. Nên nhớ là thẩm quyền của một đại biểu quốc hội rất là hạn hẹp, nếu không nói là không có gì.
Chỉ khi mình đại diện cho một tầng lớp dân chúng bị áp bức nào đó (như bà Cấn Thị Thêu và lớp dân oan), thì vị trí của mình ở quốc hội là nói lên tiếng nói của lớp dân oan này. Tiếng nói của mình "chính đáng" và có trọng lượng chính trị.
Một luật sư, hay một trí thức ra ứng cử độc lập, nếu không có một mục tiêu (chính trị) rõ rệt, sự hiện diện của họ ở quốc hội là thừa thãi.
Nhưng nếu một luật sư hay một trí thức ra ứng cử với tư thế "đối lập chính trị" với đảng CSVN, với một chương trình chính trị rõ rệt, nói lên những cái sai của đảng CSVN, từ mọi mặt kinh tế, giáo dục, văn hóa, môi trường... đồng thời đề ra một giải pháp khác. Thì những người này có sự "chính danh" về chính trị. Nhưng để đạt thắng lợi những người này phải liên kết với nhau thành lập "khối đối lập" ở QH, trước hết đề cử người đứng đầu hành pháp của phe mình, sau đó để biểu quyết chống mọi đề nghị của đảng CSVN. Mà cách hay nhứt là thành lập đảng phái để mọi người thống nhứt mục tiêu chính trị trước khi ra ứng cử. Không phải xuyên tạc, trí thức à luật gia VN nên học hỏi các đảng đối lập ở Campuchia cho trường hợp của mình. Myanmar hay Đài Loan đã đi trước VN hàng triệu năm án sáng rồi, đuổi theo vô vọng.
Nếu cương quyết ứng cử độc lập, một luật sư chỉ có thể tạo nên thế chính đáng (về chính trị), khi mục tiêu đặt ra là sửa đổi hiến pháp. Bước đầu là đặt lại tư cách pháp nhân của đảng CSVN. ĐẢng CSVN phải có trách nhiệm trước pháp luật chớ không phải chịu trách hiệm trước nhân dân (trớt quớt) như hiện nay.

16-2
Nói về việc lập đảng, đưa người ra ứng cử, có người nói tôi "hiến kế". Vậy thì tôi "hiến kế", trước hết cho những người dân oan thấp cổ bé miệng.
Theo tôi, nếu ông Nguyễn Phú Trọng có "lương tâm" của người cộng sản thì nên trao chức tổng bí thư của ông lại cho bà Cấn Thị Thêu, người phụ nữ vốn là dân oan, đại diện cho một nhóm dân oan VN.
Dân oan là gì? Dân oan là tầng lớp người dân bị nhà nước lấy lại đất một cách oan ức. Đất đai của họ là nguồn sống của họ. Là thửa ruộng, là vườn rau, là căn nhà lá lụp xụp mà bao nhiêu đời họ, tổ tiên họ... đã sinh sống ở đó. Nhân danh sự "phát triển", nhà nước CSVN đã đoạt lấy đất, nhà... của những người dân cùng khổ này để trao cho những tên đầu nậu. Những tay đầu nậu này xây cất trên những mãnh đất ăn cướp đó những tòa nhà cao cấp, những biệt thự trị giá triệu đô. Những người này trở thành trọc phú đỏ và những đảng viên cầm quyền được họ móc nối cũng trở thành tài phiệt đỏ. Riêng những người dân oan thì trắng tay, trở thành những người vô sản chân chất.
Nhưng thành quả của "phát triển" không thấy đến tay những người vô sản cùng khổ này. Cũng không thấy thành quả đó đã đóng góp, xây dựng gì cho xã hội, cho đất nước. Tất cả các công trình xây dựng ở VN đều đến từ vay nợ. Nợ công đến nay đã vượt mức báo động từ lâu, lên đến trên 200% GDP.
Tức là những người dân oan vô sản, cũng như hậu duệ con cháu họ, nay mang một gánh nợ trên đầu, tương đương 2.000 đô la.
Đảng cộng sản được sinh ra, và được nuôi dưỡng lớn lên từ những người vô sản. Đảng cộng sản là đảng của những người vô sản.
Đảng CSVN bây giờ không còn là đảng của những người vô sản mà đảng của những tên tài phiệt đỏ. Vấn đề là nguồn gốc của tài sản của họ là bất minh. Họ đã làm những lao động (trí tuệ và tay chân) nào để có được những tài sản đó?
Tài sản đó họ có được là do ăn cắp (tham nhũng), ăn cướp đất đai của dân nghèo.
Họ đã trở thành những trọc phú. Họ không thể là đảng viên đảng cộng sản được nữa.
Vì vậy, hỡi những người cộng sản có lương tâm, hãy trả lại hai từ "vô sản" mà quí vị đã lạm dụng từ 4 thập niên nay để bóc lột, để làm giàu bất chánh... cho người dân cùng khổ.
Vì vậy, "hiến kế", tôi thấy bà Cấn Thị Thêu xứng đáng làm tổng bí thư đảng cộng sản chân chính. Đảng cộng sản hiện nay đang cầm quyền là đảng ngụy. Ngụy vì đội lốt những người vô sản.
Hãy thành lập đảng cộng sản chân chính, không phải để thiết lập nền vô sản chuyên chính, mà để đòi lại công lý, để bảo vệ quyền lợi của bản thân và đồng bào.

18-2
cậu nhỏ Joshua Wong đang tính chuyện lập đảng chính trị đây.
tôi đã nói ít ra từ 10 năm rồi, trí thức VN nên học tập trí thức "đảng ngoại" Đài Loan lập đảng để ra tranh cử. Nhưng mà, trí thức VN, cũng như lãnh đạo VN, ai cũng là "đỉnh cao trí tuệ". Không nghe.
Ra ứng cử "độc lập" như các luật sư, các trí thức... , nói thật không sợ mất lòng, là lẫn lộn giải pháp cá nhân với giải pháp cho đất nước.
Không ai ủng hộ một giải pháp cá nhân nhưng người ta (nhân dân) sẵn sàng ủng hộ, nếu không nói là hy sinh, cho lợi ích (giải pháp) của đất nước.
Tôi nghĩ là cậu J. Wong và bạn bè của cậu sẽ thắng.

19-2
Sai lầm của VN ở cuộc chiến 1979.
Binh thư ngày xưa của Tàu, lãnh đạo tài ba là thắng địch không cần chiến tranh. Quan niệm thế giới bây giờ cũng không khác: lãnh đạo giỏi là làm sao đạt kết quả mà chiến tranh không xảy ra.
Khi chiến tranh xảy ra, kể cả phía chiến thắng, phía sau vòng nguyệt quế là tang tóc và sự đổ vỡ.
Lãnh đạo CSVN, trong một thời gian (tương đối ngắn so với thời gian lập quốc của Việt Nam), đã liên tục mở ra bốn cuộc chiến tranh: đánh Pháp (1945-1954), đánh Mỹ (1954-1975), đánh Campuchia (1977-1988) và cuối cùng là đánh Trung Cộng (tháng 2-1979, trên lý thuyết là quân TQ rút về vào tháng 3 năm 1979 nhưng trên vùng biên giới chiến cuộc vẫn tiếp tục cho đến cuối thập niên 80).
Phía CSVN hãnh diện đã chiến thắng ở 4 cuộc chiến đó. Nhưng hệ quả của nó đất nước tan hoang, dân tình đồ thán. Hơn 4 triệu người chết.
Mỗi năm đảng CSVN làm lễ linh đình mừng chiến thắng đánh Pháp, đánh Mỹ, tán dương tài lãnh đạo của đảng.
Nhưng những người đã đổ máu cũng cho chiến thắng, là các cuộc chiến biên giới Việt-Trung, Campuchia thì bị lãng quên. Những người lính chết trận 1979 hay chết ở chiến trường Campuchia không hề được lãnh đạo CSVN nhắc đến. Mặc dầu xương máu của họ đã chồng chất dưới bệ ghế ngồi của những người từ tổng bí thư, thủ tướng, bộ trưởng... cho tới tỉnh ủy, huyện ủy, công an các cấp...
Lịch sử hiện đại của VN đã bỏ quên đến hai cuộc chiến này.
Một góc tư thế kỷ dứt tiếng súng, hệ quả chiến tranh đã làm cho đất nước bị tàn phá, con người VN bị tật nguyền, từ thể xác đến tinh thần.
Ngoài ra còn di sản của lịch sử: Những người lính chết trận bị lãng quên.
Nguyên nhân nào đã đưa đến cuộc chiến 1979 ?
Tổng hợp một số dữ kiện về cuộc chiến, không phải để trả lời, mà để đặt một câu hỏi cho lịch sử.
1/ Nguyên nhân cuộc chiến biên giới tháng hai năm 1979.
Cuộc chiến biên giới hai nước Việt-Trung bắt đầu từ 17 tháng 2 năm 1979. Cuộc chiến được giới hạn ở không gian và thời gian, do Đặng Tiểu Bình làm "kiến trúc sư". Đặng Tiểu Bình tuyên bố trước quốc tế, vài ngày trước khi đem quân vượt biên giới, nhằm "dạy cho VN một bài học". Họ Đặng tự đặt giới hạn không quá một tháng và chiến trường là các tỉnh của VN trên vùng biên giới. (Cuộc chiến vì vậy còn gọi là cuộc chiến biên giới 1979).
Nếu hiểu đơn thuần như vậy thì nguyên nhân cuộc chiến là Đặng Tiểu Bình.
Nhưng vấn đề không đơn giản như vậy. Tiên trách kỷ, hậu trách nhân.
Nếu xét lại cho kỹ, chính những sai lầm chồng chất của lãnh đạo VN trong thời kỳ mà thế giới quay lưng với VN và Đặng Tiểu Bình có lý do để đánh Việt Nam.
Để có một cái nhìn khách quan, thử đặt Obama (hay một lãnh đạo của nước Tây phương nào đó) vào vị trí Đặng Tiểu Bình. Đặt các vấn đề như sau :
VN ra chính sách tập trung người Hoa, từ nam ra bắc, tịch thu toàn bộ gia sản của những người này, sau đó bắt họ "hồi tịch" (trong đó nhiều người sinh ra và lớn lên ở VN từ nhiều đời, không biết nói tiếng Hoa), buộc họ rời khỏi VN với hai bàn tay trắng. Trên cương vị lãnh đạo, Obama sẽ làm gì ?
Theo các tài liệu của CIA vừa bạch hóa gần đây, VN đã có hành vi lấn đất của TQ (chứ không phải ngược lại), diện tích khoảng 60 km². Nếu dữ kiện này là thật, Obama sẽ phải làm gì để bảo toàn lãnh thổ của TQ ?
Lãnh đạo VN từ năm 1958 đã nhìn nhận hai quần đảo HS và TS là của TQ, trước là để đền ơn các viện trợ của TQ cho cuộc chiến chống Pháp, sau là trả nợ các viện trợ cho cuộc chiến chống Mỹ. Bây giờ VN dựa vào Liên Xô, một thế lực thù nghịch khác của TQ, để chống lại TQ rồi tuyên bố ngược lại HS và TS là của VN. Thái độ của Obama sẽ ra sao ?
Chắc chắn Obama (hay ai đó) sẽ làm không khác Đặng Tiểu Bình.
Vấn đề "nạn kiều" là lý do quan trọng để họ Đặng hạ quyết tâm "dạy VN một bài học".
Hãy thử làm tương tự với một người Mỹ, xem thái độ của lãnh đạo và dân nước này ra sao ? Thế giới văn minh không ai làm theo lối "man rợ" như lãnh đạo CSVN đã làm. Theo công pháp quốc tế, một quốc gia có quyền can thiệp vào nội bộ quốc gia khác để bảo vệ kiều dân của mình (nếu những người này bị bức hại).
Về vấn đề lãnh thổ, Bị Vong Lục của VN công bố năm 1979 tố cáo TQ chiếm đất của VN. Các chi tiết trong đó một số không thể kiểm chứng, một vài điểm thì đúng nhưng cũng có vài điểm sai. Nhiều tài liệu (như của CIA) cho thấy phía VN chiếm đất của TQ. Nguyên nhân phía VN không chấp nhận công ước Pháp-Thanh về biên giới 1885-1897. Nếu việc VN lấn đất có thật, thì chính VN đã tạo ra lý do để TQ đánh VN. Thử suy nghĩ, nếu nhà nước Mể không tôn trọng hiệp ước nhượng đất đã ký với HK trước đây, cho quân qua chiếm đất của California hay Dallas, Obama có "phản công tự vệ" không ?
TQ gọi việc đánh VN là cuộc chiến tự vệ (phản công tự vệ chiến).
Về công hàm 1958 của Phạm Văn Đồng, phía VN có phản bác thế nào thì cũng không thể phủ nhận hiệu quả của nó trước dư luận quốc tế (nhứt là hiệu quả ràng buộc trước luật quốc tế).
Đặng Tiểu Bình là nhân vật chính trong cuộc đánh chiếm HS năm 1974. TQ đánh với danh nghĩa "giải phóng lãnh thổ bị kẻ địch chiếm đóng". TQ có thể nhân danh tương tự để đánh TS bất kỳ lúc nào mà họ thấy nắm chắc phần thắng.
Trong khi đó, cuộc chiến Việt-Campuchia 1978 đáng lẽ cũng đã không xảy ra. Lãnh đạo CSVN đã ra tuyên bố "tôn trọng đường biên giới hiện trạng của Campuchia" với Sihanouk để ông này cho mở đường mòn Hồ Chí Minh trên đất Miên. Mà "đường biên giới hiện trạng" theo Sihanouk (có đệ trình lên LHQ) bao gồm các đảo trong vịnh Thái Lan và biên giới theo bộ bản đồ Indochine 1/100.000 trước 1958.
Theo tài liệu khác (của Nayan Chanda trong Brother Enemy), một lãnh đạo MTGPMN cũng hứa hẹn trả đảo Phú Quốc và Thổ Chu lại cho Campuchia để được Sihanouk cho đặt bản doanh MT trên đất Miên. Sihanouk bị Lonnol lật đổ, nhưng sau đó Campuchia về tay Khmer đỏ. Dầu vậy lời hứa của lãnh đạo CSVN vẫn còn. VN không giữ lời, do đó Khmer đỏ mới đánh phá và giết chóc, tạo ra cuộc chiến Việt-Miên 1978.
Nguyên nhân cuộc chiến Việt-Campuchia 1978 là do Khmer đỏ hay do lãnh đạo CSVN ?
VN can thiệp sâu vào nội bộ Campuchia cũng là một lý do để TQ đánh VN. VN can thiệp vào Campuchia, dưới mắt của quan sát viên thế giới, là hành vi "xâm lăng". Điều này đi ngược lại các nguyên tắc của thế giới là phải tôn trọng độc lập, chủ quyền của các quốc gia khác.
Là người VN, dĩ nhiên ai cũng phẫn nộ trước sự bạo tàn của quân lính TQ. Để chống lại sự xâm lăng của TQ, vài hàng chục ngàn thanh niên VN đã đổ máu, chưa tính tới vài chục ngàn nạn nhân vô tội khác, là người dân sinh sống ở các tỉnh trên biên giới.
Nhưng suy nghĩ sâu xa, cuộc chiến này có thể tránh được, nếu lãnh đạo CSVN đã không có những hành động và tính toán sai lầm. Chính lãnh đạo CSVN sai lầm đã tạo lý do chính đáng để họ Đặng đánh VN.
Điều tệ nhứt, những người lãnh đạo CSVN hiện nay đã thấy sai lầm này. Thay vì tìm ra những chính sách hòa giải để hàn gắn các vết thuơng quá khứ, thì họ chọn phương cách quay lưng lại với lịch sử. Họ đã lãng quên vong linh của hàng chục vạn người đã chết vì những sai lầm của họ.
2/ Việt Nam có bị bất ngờ trước cuộc chiến 1979?
Một số ý kiến cho rằng "Việt Nam hoàn toàn bị bất ngờ trước cuộc chiến", "VN không chuẩn bị trước", là hoàn toàn không đúng.
Trên thực tế chứng minh, ở mặt trận Lạng Sơn, phía VN đã đào sẵn hơn 60 cây số chiến hào phòng thủ cùng với khoảng 2.000 cứ điểm chiến đấu.
Nếu không "chuẩn bị trước" việc TQ xâm lăng thì làm sao có các cơ sở phòng thủ này ?
Vài tuần trước khi chiến sự xảy ra, phía VN đã tố cáo trước Hội đồng Bảo an LHQ phía Trung Quốc tập trung quân tại biên giới. Nếu không "biết trước" thì làm sao có việc tố cáo ?
Diễn biến cuộc chiến, tài liệu từ hai phía, cho thấy khi quân TQ vượt qua biên giới là tức khắc bị sa lầy, mặc dầu với quân số đông hơn gấp 8 lần, với hàng ngàn xe tăng yểm trợ. Các cứ điểm phòng thủ biên giới của VN cho thấy rất hữu hiệu.
Việc này chỉ có thể giải thích là phía VN đã được chuẩn bị chu đáo, gài quân sẵn để "tiếp đón" đoàn quân của TQ.
Trong cuộc chiến, vũ khí phía VN vượt trội, quân đội huấn luyện tinh thục, tinh thần chiến đấu của dân quân không kém gì quân đội chính qui.
Theo các tài liệu đã công bố, trước khi đánh VN, Đặng Tiểu Bình có thông báo trước cho HK. Thái độ của HK là không ủng hộ nhưng lại cung cấp tin tức tình báo cho TQ. Theo các không ảnh của tình báo HK, phía LX không tăng thêm quân đóng ở vùng biên giới, ngoài 50 sư đoàn (thiếu trang bị) đã đóng trước.
Đặng Tiểu Bình quả quyết đánh VN là do thái độ mập mờ, nếu không là ưng thuận ngầm của HK.
Về phía LX, có thể Kremlin không chuẩn bị cho cuộc chiến VN, hoặc đánh giá thấp lực lượng của quân TQ. Nhưng cũng có thể đây là âm mưu của LX và VN, gài TQ để cho đế quốc này một bài học. Khi chiến sự bắt đầu, thái độ của LX cho thấy nước này có thể làm nhiều việc ngoài dự liệu của TQ để cứu VN, nếu thấy VN thất thế.
Về thời điểm mở cuộc chiến, tháng hai, trên vùng biên giới là mùa khô.
VN cũng đã chuẩn bị cho tình huống tệ nhứt, là mất Hà Nội. Bộ đầu não của VN đã bí mật chuyển về Nha Trang trước đó khá lâu. Tại sao Nha Trang ? là ở kế Cam Ranh, quân cảng dành cho hải quân LX sử dụng. Nha Trang, lúc đó là nơi được phòng thủ chu đáo nhứt về cả ba mặt : trên không, trên bộ và mặt biển.
Như vậy, VN đã chuẩn bị chu đáo cho cuộc chiến biên giới 1979.
3/ Kết luận: Sai lầm của CSVN là đi với nước này chống lại nước kia.
VN không chỉ đi với LX chống TQ mà còn chống cả thế giới. VN bị cô lập cho đến đầu thập niên 90. Tình thế bắt buộc, VN phải sang qui phục TQ.
Sau khi thắng quân Thanh năm Kỷ dậu 1789, vua Quang Trung sai sứ sang Tàu cầu hòa. Thái độ của vua Quang Trung được người đời sau cho là khôn ngoan. Cầu hòa với kẻ địch với tư thế kẻ chiến thắng. Việc này đã đem lại cho VN hòa bình lâu dài với đế quốc láng giềng.
Sau 1975, với sự huênh hoang háo thắng, CSVN từ chối thiết lập bang giao với Mỹ. Hệ quả Mỹ cấm vận VN cho đến đầu thập niên 90. Lúc VN làm hòa với Hoa Kỳ thì VN ở thế yếu.
Sau 1979 VN không tìm cách hòa hoãn với TQ, chờ cho đến lúc thế giới XHCN sụp đổ khắp nơi mới bắt đầu làm hòa. Làm hòa với TQ ở thế yếu. Hội nghị Thành Đô, nói theo Nguyễn Cơ Thạch, đã đưa VN vào làm chư hầu cho TQ.
Lãnh đạo VN đã không học các bài học lịch sử. Lúc cần có một đồng minh để hợp sức bảo vệ mình thì chủ trương "không đi với nước này để chống nước kia". Điều này có thể đúng ở thời kỳ 1979, mà CSVN không thực hiện, để xảy ra chiến tranh, gây thù hận cho đến bây giờ.
Khi cần thì lại áp dụng nó một cách máy móc.
Những động thái của TQ, như cho giàn khoan 981 đặt trên thềm lục địa của VN, cho xây dựng đảo nhân tạo các bãi đá (chiếm được của VN), mở phi trường, củng cố công sự chiến đấu ở các nơi đây, các việc quân sự hóa các đảo thuộc HS... cho thấy sắp tới TQ sẽ mở vùng "ADIZ - nhận diện phòng không" ở Biển Đông. Đến lúc đó VN không chỉ an ninh bị đe dọa, mà lãnh thổ bị mất mà hải phận cũng không được bảo toàn.
VN không đi với nước này chống nước kia, nhưng đâu ai có thể cấm VN liên minh với một cường quốc để bảo vệ an ninh và quyền lợi của mình ?


21-2
Nói về ông Dũng và hội nghị thượng đỉnh Sunnylands.

Hội nghị thượng đỉnh ASEAN-Hoa Kỳ tổ chức vừa qua (15,16-2-2016) tại Sunnylands, California, báo chí (lẫn học giả) trong nước ca ngợi hết lời VN thắng lớn, mặc dầu bản Tuyên bố chung không có một lời nhắc đến TQ. Còn ông Nguyễn Tấn Dũng thì đặc biệt được tán dương vì đã yêu cầu Mỹ "có tiếng nói mạnh mẽ và hành động thiết thực hơn ở Biển Đông". Vấn đề là VN thắng cái gì và yêu cầu của ông Dũng, Mỹ có thể nói (hay làm) được cái gì?
Về chuyến đi của ông Dũng, một người bị "trợt đài" quyền lực trong Đại hội 12, đáng lẽ không còn tư cách để được đảng CSVN ủy nhiệm đi tham dự Hội nghị Sunnylands. Có người nói rằng ông Dũng được đi là do vận động của cả hai phía, Việt Nam và Hoa Kỳ. Nếu đọc nội dung Tuyên bố chung được công bố (khoản 17), theo tôi, ông Dũng được đi là do áp lực của Hoa Kỳ chớ không do áp lực của phe thân ông Dũng trong đảng.
Bởi vì Hội nghị Sunnylands là hội nghị "cấp cao", ở cấp "lãnh đạo nhà nước hay chính phủ". Ban đầu Phạm Bình Minh được đảng ủy nhiệm cầm đầu phái đoàn đi tham dự. Nhưng ông này chỉ là "bộ trưởng bộ ngoại giao", không phải là người đứng đầu nhà nước (hay chính phủ). Ông Dũng ở thời điểm này tuy rớt đài quyền lực, nhưng danh nghĩa vẫn còn ở cương vị thủ tướng (cho đến hết tháng 5-2016). Dĩ nhiên phía Hoa Kỳ không thể chấp nhận ông Minh, do nghi thức ngoại giao, buộc VN phải cho ông Dũng đi tham dự.
Lời lẽ của ông Dũng phát biểu trong hội nghị, hay trong buổi gặp mặt Obama, cũng như nội dung bài viết của ông này được đưa lên báo chí, cho thấy việc thiếu chuẩn bị của ông Dũng.
Trong nước, hiện tượng "nhổ cỏ tận gốc" của phe Bắc kỳ do ông Trọng cầm đầu đang có khuynh hướng trỗi lên. Cứ địa Phú Quốc mà con trai ông Dũng là lãnh chúa, hiện đang bị "chiếu tướng". Các bài báo, phóng sự... có tầm ảnh hưởng xuyên quốc gia như việc phá hoại môi trường, hay việc cẩu thả ở cách thức nuôi thú làm hàng loạt cả ngàn con thú (hiếm) chết...
Rõ ràng phe Bắc kỳ của ông Trọng muốn lấy lại miếng bánh đang ở trong miệng của con trai ông Dũng.
Trong khi phe thân ông Dũng (nếu còn lại một nhóm nào đó gọi là thân ông Dũng) thì không thấy lên tiếng (hay có phản ứng đáp trả).
Vì vậy khi nói rằng ông Dũng được tham dự Hội nghị thượng đỉnh ASEAN-Hoa kỳ ở Sunnylands là do áp lực của phe thân Dũng trong nước là không có cơ sở.
Về nội dung Tuyên bố chung, nhà báo (và học giả) VN tán dương rằng VN "thắng lớn".
Vấn đề là Tuyên bố không đề cập một dòng về TQ.
Khoản 8 của Tuyên bố nói "mập mờ" về việc "cam kết duy trì hòa bình an ninh và ổn định trong khu vực... phi quân sự hóa và tự kềm chế trong các hoạt động".
Vấn đề là TQ đã quân sự hóa đảo Phú Lâm (Hoàng Sa), đã xây dựng các đảo nhân tạo ở Trường Sa, tương lai gần sẽ củng cố các đảo nhân tạo này như các căn cứ quân sự (hải và không quân). Các việc này đã làm thay đổi hiện trạng và đe dọa an ninh khu vực.
Báo chí nước ngoài cảnh báo rằng, một tình huống như chiếc MH 317 của hàng không Mã Lai có thể sẽ xảy ra trên vùng trời Hoàng Sa.
Về câu chữ, việc "tự kềm chế" không có ý nghĩa cụ thể, giải thích sao cũng được. Lại còn không nói đến đối tượng là ai (phải phi quân sự hóa và tự kềm chế?)
Vì vậy người ta hiểu rằng nội dung tuyên bố là cam kết giữa HK và các nước ASEAN hơn là có mục tiêu (hay ám chỉ) Trung Quốc.
Ngược lại, theo tôi, Tuyên bố Sunnylands phần nhiều là ám chỉ cho Việt Nam.
Thật vậy, mặc dầu trước khi Hội nghị khai mạc, báo chí Mỹ đã lên tiếng rằng Obama đón tiếp 10 tên độc tài. Phê bình này thái quá vì dầu sao các nước Mã Lai, Phi, Indonesia, Miến Điện... đã là các nước dân chủ. Mặc dầu không thể so sánh vởi Mỹ hay các nước Châu Âu, nhưng thực chất chế độ các nước này có nền tảng dân chủ. Nhưng phê bình lại đúng cho trường hợp VN.
VN hiện nay là con "chiên ghẻ" trong bầy chiên ASEAN.
Khoản 4 của Tuyên bố hiển nhiên dành cho VN.
"4. Chúng tôi cam kết đảm bảo cơ hội cho tất cả người dân chúng ta, thông qua tăng cường dân chủ, quản trị tốt và tuân thủ các quy định của pháp luật, thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền và quyền tự do cơ bản, khuyến khích tinh thần khoan dung, ôn hòa, và bảo vệ môi trường;"
Các nước ASEAN, ngoài Việt Nam (Brunei và Lào), đều ít nhiều tôn trọng khoản 4.
Về dân chủ, VN là nước độc tài tệ hại nhứt, vì là nền độc tài cộng sản công an trị. Người dân VN không có một cơ hội nào, vì pháp luật không bảo đảm sự công bằng về quyền (tức mọi người bình đẳng trước pháp luật).
Đường vào đồn công an là đường ngắn nhứt để vào nhà thương hay nghĩa địa.
Còn về nhân quyền và các quyền tự do cơ bản ? VN luôn đứng đầu sổ trong các bản thống kê của thế giới về chà đạp, vi phạm nhân quyền. Còn tự do, mỗi người VN đều ở trong tù, khác biệt là tù nhỏ hay tù lớn.
Khoan dung ? cuộc chiến đã qua gần 1/2 thế kỷ, đến nay việc phân biệt bắc-nam, phân biệt hồ sơ lý lịch vẫn còn tồn tại trong các cách đối xử ở cấp lãnh đạo cao nhứt.
Cho đến các bản nhạc (vốn vô tội) viết trước 75 đến nay vẫn còn cấm hát. Một cậu nhỏ mặc quần áo "giống như" quần áo lính VNCH cũng bị kết án ở tù. Huống chi đến các việc khác liên quan đến chế độ cũ...
Còn về môi trường, trong khu vực chỉ có VN là nước mà môi trường bị tàn phá hơn hết. Cái gì bán được là CSVN bán hết, từ rừng gỗ cho đến hầm mỏ, bất kể việc khai thác có tác hại cho môi trường đến mức nào.
Vấn đề đặt ra là VN có tôn trọng và thực thi Tuyên bố này hay không ?
Đây là một tuyên bố về "ý định" hay một tuyên bố mang tính bó buộc pháp lý ?
Người ta sẽ xem xét thái độ của nhà nước CSVN đối với những người tự ứng cử quốc hội vào tháng 5 tới để kết luận.
Những nhà tranh đấu trong nước từ nay cảm thấy yên tâm khi dấn thân ra ứng cử.
Nếu đây là một "tuyên bố" có giá trị pháp lý ràng buộc thì dĩ nhiên nó có giá trị cao hơn là hiến pháp của VN.
Người đã đặt số 4 cho khoản này là có thâm ý ám chỉ điều 4 của HP VN.
Khoản 2 và 3 bản Tuyên bố dĩ nhiên cũng ám chỉ VN. Nhưng hai khoản này chỉ là "ghi nhận" mà không phải là "cam kết". Dầu vậy cũng nên nhắc tới, nếu có dịp.
Về yêu cầu của ông Dũng, Mỹ cần có "có tiếng nói mạnh mẽ và hành động thiết thực hơn ở Biển Đông", cũng không có giá trị thực sự.
Những gì Mỹ có thể nói (ở Biển Đông) Mỹ đã nói. Và Mỹ cũng đã làm những gì có thể làm.
Nguyên tắc cơ bản tạo thành nền tảng của luật lệ quốc tế (và nguyên tắc bang giao quốc tế) là "bình đẳng về chủ quyền giữa các nước".
Hoa Kỳ không thể cho tàu hải quân làm hơn các việc mà luật quốc tế cho phép.
Ông Dũng muốn Mỹ can thiệp để TQ ngưng làm thay đổi hiện trạng cũng như ngưng việc quân sự hóa Biển Đông.
Mỹ chỉ có thể làm các việc này khi (các nước) chứng minh được các hành vi của TQ là sai luật.
Mỹ lên tiếng cảnh cáo TQ phải tôn trọng phán quyết của Tòa Trọng tài trong vụ kiện Phi-TQ. Đây là việc làm "tối đa" mà Mỹ có thể làm để giúp đồng minh Phi của họ.
VN là gì để Mỹ phải giúp ? Và TQ làm gì sai luật (với VN) để Mỹ có thể can thiệp ?
Câu trả lời là không là gì cả (và không có gì cả).
Trước luật quốc tế, các hành vi của TQ là phù hợp, ngoại trừ khi VN thuyết phục được dư luận thế giới ủng hộ chủ quyền của mình ở HS và TS.
Nhà nước CSVN hiện nay chỉ có thể thuyết phục được dân chúng và các học giả (dễ dạy) của mình chớ không thuyết phục được ai.
Trong khi HS và TS hiển nhiên là của VN. Lịch sử chủ quyền của VN, từ thời các chúa Nguyễn cho tới thời bảo hộ Pháp, sang đến VNCH thì được chứng minh. Sự liên tục chủ quyền của VN chỉ bị gián đoạn sau khi CSVN nắm quyền cả nước.
Tức là VN hiện nay vẫn có thể thuyết phục được Mỹ (và dư luận quốc tế) ủng hộ VN nếu vấn đề kế thừa VNCH được thể hiện. Điều này đã nói nhiều lần, không nhắc lại.
Tức là Mỹ chỉ có thể can thiệp sâu xa hơn trong vấn đề HS và TS, như trường hợp Mỹ ủng hộ vụ Phi kiện TQ, nếu vấn đề kế thừa VNCH được CSVN nghiêm túc thực hiện.
Về nội dung bài viết của ông Dũng, rõ ràng đã nói lên việc thiếu chuẩn bị của ông này. Tức là ông Dũng đi tham dự Hội nghị Sunnylands là do áp lực của Mỹ chớ không phải áp lực của phe thân ông này trong nội bộ đảng.
Bài viết có điều gì đáng chú ý?
Theo tôi chỉ có hai điểm. Thứ nhứt là "hoàn thiện hệ thống pháp luật đến đào tạo nguồn nhân lực" để VN có thể "tự vệ" khi gia nhập TPP.
Điều này tôi đã khuyến cáo, sau khi đọc tin "rò rỉ" của wikileaks về nội dung hiệp định TPP. Ý kiến của tôi như sau:
"Về phạm vi pháp quyền (juridiction – quyền xét xử, quyền tài phán), trước đây xí nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ (do cán bộ lãnh đạo thiếu khả năng) thì "trời mưa có đất chịu", theo luật rừng XHCN, người dân nai lưng trả nợ. Bây giờ, xí nghiệp nhà nước làm ăn "cà chớn" (thí dụ vi phạm các điều khoản về sở hữu trí tuệ, về "hàng nhái", về vệ sinh an toàn thực phẩm…) việc phân xử sẽ do một "tòa án của TPP", tức là tòa án "tư nhân" đảm trách. Tức là "chủ quyền" của quốc gia bị mất vào tay tập đoàn tư nhân. Trong lâu dài, nếu VN vẫn không kịp đào tạo những chuyên gia luật học, chủ quyền quốc gia sẽ chuyển sang các tập đoàn luật gia quốc tế."
Điều thứ hai là "hoàn thiện nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân và thượng tôn luật pháp".
Điều này tôi cũng đã khuyến cáo từ lâu "nhà nước pháp trị" và việc "thượng tôn pháp luật".
Khi ông Dũng nói "hoàn thiện nhà nước pháp quyền", tức là "nhà nước" này có vấn đề. Và khi nói "thượng tôn pháp luật" là nói đến "nhà nước pháp trị".
Tức là, những điều quan trọng trong bài viết của ông Dũng đều lấy từ ý kiến của tôi.
Không phải nói điều này là chê trách ông Dũng, nhưng khen ngợi ông Dũng là người biết nghe lời phải.
Vấn đề là sự việc quá trễ để làm thay đổi hiện trạng.
Lúc còn tại chức, quyền lực trong tay, nịnh thần chung quanh tung hô lên tận mây. Ông Dũng đâu có ngó ngàng gì tới những ý kiến đúng đắn, có lợi cho đất nước.
Hồ sơ Biển Đông, nếu ông nghe tôi thì vấn đề (Biển Đông) VN đã không bị lâm vào thế tiến thoái lưỡng nan. (Mà số phận của ông cũng không đến đỗi). Ông chỉ nghe gian thần và kẻ nịnh.
Như là thói quen, các lãnh đạo VN chỉ "nói hay, nói đúng" khi không còn nắm quyền lực.
Mà tương lai ông Dũng thì bất định. Ra nước ngoài thì ông Hà Vũ, Điếu Cày, bà Phong Tần có thể kiện ông vì những hành vi bức hại (thể xác và tinh thần). Kiện nhà nước thì khó nhưng kiện ông Dũng thì dễ.
Trong nước thì con cái ông thì đang bị phe Bắc Kỳ tìm cách bứng gốc.
Âu đó cũng là do "tầm nhìn" mà thôi.
Ca ngợi ông Dũng quá, hay đánh giá cao thực lực của ông Dũng còn mạnh trong đảng là không đúng. Ở đời người ta phù thịnh chớ không ai phù suy. Ông Dũng qui tụ được quần hùng là nhờ miếng mồi "quyền lợi và quyền lực", thì bây giờ cũng vì "quyền lợi và quyền lực" mà những người này trở áo với ông.
Bài học cho các lãnh tụ tương lai: hãy nghe lời đúng chớ đừng bao giờ nghe lời nịnh bợ.

22-2
Bà Phạm Chi Lan nói là "gốc rể của vấn đề rượu bia là văn hóa tiêu dùng".
Theo tôi là không phải. Văn hóa không có tội tình gì ở đây hết.
Nguyên nhân là do di sản chính trị của ông Nguyễn Tấn Dũng.
Mỗi năm người (đàn ông) Việt Nam uống 3 tỉ đô rượu bia, là do nhà nước VN không có chính sách kiểm soát, hạn chế việc tiêu thụ các loại thức uống có nồng độ rượu.
Ở VN, đi đâu cũng thấy quán nhậu, tỉnh nào cũng mở nhà máy bia. Việc thả giàn này chỉ có ở VN mà thôi.
Do thiếu hụt ngân sách ông Dũng đã cho phép các tỉnh mở nhà máy bia, sản xuất không hạn chế, khuyến khích dân chúng uống bia không hạn chế.
Hệ quả việc này sẽ thấy trong mười, hai mươi năm nữa. Lúc đó một xã hội đầy dẫy những bợm nhậu, người nghiện rượu, người bệnh tật vì rượu...
Lúc đó gánh nặng các tệ nạn này sẽ đè lên ngân sách quốc gia, không có phát triển nào cứu vãn được.
Ngay bây giờ đã thấy các vụ đánh lộn, đâm chém, tai nạn xe cộ... do uống rượu đã ngập tràn nhà thương trong những ngày tết.
Mà di sản của ông Dũng không phải chỉ ở vấn đề bia rượu.

23-2
VN um sùm hổm rày, theo nội dung tuyên bố Sunnylands, yêu cầu Mỹ áp lực TQ không được "quân sự hóa Biển Đông". Vấn đề là VN cũng cam kết, theo nội dung Tuyên bố, là phải "mở rộng dân chủ" nhằm bảo đảm công bằng về cơ hội cho mọi người dân. Những gì mà CSVN đang làm cho cuộc bầu cử quốc hội sắp tới, rõ ràng là VN đang ngồi xổm lên văn bản mình vừa ký kết.
Muốn Mỹ ép TQ chuyện này chuyện kia, thì trước hết VN phải "thủ tín" với Mỹ (và các nước ASEAN) đi chớ ?

23-2
Việt Nam đã cam kết với Hoa Kỳ và Cộng đồng ASEAN bảo đảm cơ hội cho tất cả mọi người dân, thông qua tăng cường dân chủ.
Ý nghĩa việc này là gì nếu không phải là mọi người dân đều có cơ hội (như nhau) để ra tranh cử quốc hội ?
Ông Hùng (hói) có thể lên tiếng gì về nội dung này?
Với vai trò và thẩm quyền "Chủ tịch Quốc hội", nhiều lần ông Hùng lên tiếng phê bình "nhà nước" làm cản trở (hay ngăn cản) việc làm luật và thông qua các bộ luật cần thiết để VN hội nhập vào Cộng đồng ASEAN (hay chuẩn bị tham gia sân chơi TPP), như các bộ luật về biểu tình, luật về báo chí...
Về luật báo chí, hôm trước ông Hùng nói vầy: “Quyền tự do ngôn luận là quyền hiến định. Vì vậy các đồng chí định cấm cái gì thì đưa vào đây, chứ để trong nghị định là không được đâu... Các đồng chí nhớ rằng quyền mở mồm ra là quyền của mỗi người dân”.
Sáng nay, nghe ông Hùng phê phán : "Thủ tục hành chính đối với dân giờ cay nghiệt, độc ác lắm".
Nghe cũng "sướng lỗ tai", phải không?
Vấn đề là ông Hùng chỉ nói mà không thấy làm được gì. Luật biểu tình, lý ra phải được thông qua từ cuối năm ngoái, hôm qua vẫn còn nghe bàn tới bàn lui ở quốc hội.
Hôm trước, VN (đứng trong khối ASEAN) cam kết với Hoa Kỳ trong bản Tuyên bố chung, khoản 4 qui định như sau:
"4. Chúng tôi cam kết đảm bảo cơ hội cho tất cả người dân chúng ta, thông qua tăng cường dân chủ, quản trị tốt và tuân thủ các quy định của pháp luật, thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền và quyền tự do cơ bản, khuyến khích tinh thần khoan dung, ôn hòa, và bảo vệ môi trường;"
Khi ký Tuyên bố này VN cam kết với hai bên: Hoa Kỳ và các nước trong Cộng đồng ASEAN.
Cộng đồng ASEAN đã được thành hình từ năm ngoái. VN là một nước lớn trong khối, cũng là một ngoại lệ, mà người dân ở đây không (hay chưa) được luật pháp bảo đảm quyền công bằng về cơ hội.
Từ khoản 4 bản Tuyên bố, ta thấy VN đã long trọng "cam kết bảo đảm cơ hội cho tất cả người dân".
Nhưng việc "hiệp thương giới thiệu người ra ứng cử", đã thấy trong những ngày qua, đã đi ngược lại nội dung cam kết của VN trước Hoa Kỳ và Cộng Đồng ASEAN.
Thẩm quyền của ông Hùng (hình như) chỉ ngừng ở việc "nói". Dầu vậy, người dân mong mõi ý kiến của ông Hùng về cam kết này của VN.
Hay là, cũng là ngoại lệ của VN, (cũng như luật biểu tình), vụ này sẽ "bán cái" lại cho Quốc hội khóa tới ?
Một quốc gia chớ đâu phải là tay bạc bịp. Ký đó, cam kết đó rồi nhổ toẹt vào đó.
Chơi như vậy đâu có được, phải không ông Hùng ?

24-2
Tự do bán thuốc lá, tự do bán rượu, tự do luyến ái, tự do đái đường (như người Tràng An)... mới đây VN còn cho ra bộ luật bảo vệ người đồng tính.
Còn cái mà xứ người họ gọi là "désir", tức là "thèm khát", thì xứ mình đã trở thành "quyền". Từ nay người phụ nữ "có quyền" hưởng thụ tình dục.
Tự do như vầy thì VN trở thành "đế quốc tự do", không nước nào qua mặt. Tượng thần Tự do bên Mỹ nên dời qua để ở giữa Hồ Gươm. Mà trước khi dời phải thoát y tượng để phù hợp với văn hóa đỉnh cao.
Thiệt tình, không biết VN đang lên "thiên đàng" hay đang xuống "địa ngục" ?

25-2
Báo trong nước đăng bài có tựa đề là một câu hỏi (theo lối làm thống kê) như vầy:
"Bạn nghĩ gì khi chủ tịch thành phố Hà Nội yêu cầu cử cán bộ ra nước ngoài học trồng cây xanh?"
Câu trả lời của tôi là vầy:
Tôi nghĩ là ông chủ tịch thành phố này có vấn đề.
Vấn đề thứ nhứt là đã giao nhiệm vụ bảo vệ và trồng cây xanh ở Hà Nội cho những người không biết việc. Vì không biết việc nên mới cho đi nước ngoài học hỏi. Còn biết việc cho cho đi làm chi, phải không?
Vấn đề thứ hai, quan trọng hơn, nói lên nhiều sự "bất cập" trong việc tuyển chọn người làm công chức của vị chủ tịch thành phố. Có hay không có tham nhũng trong việc này ?
Thứ ba, phí phạm ngân sách thành phố.
Dân VN là dân chuyên về nông nghiệp, trồng trọt. Không lẽ không tìm ra được người thạo nghề hay sao ?

25-2
Đại Hội 12, ông Lú đặt tiêu chuẩn cho tổng bí thư phải là người miền bắc, phải biết "ný nuận".
Ban đầu người ta nghĩ rằng tiêu chuẩn "người miền bắc" và biết "ný nuận", ngoài nhân vật "Quang Nùn" nổi tiếng như cồn trên net, thì không còn ai khác.
Không phải vậy, ngoài ông Quang Nùn còn có ông Nú, cũng trứ danh người bắc kỳ biết ný nuận.
Người miền bắc thì ai cũng biết rồi. Cả một tháng giêng lễ hội là suốt một tháng văn hóa bắc kỳ được trình diễn, mà các nét đặc trung là "hỗn loạn", "ấu đả" và "chặt chém"...
Báo trong nước đăng những tin như vầy:
“ Hỗn loạn ở lễ hội cướp phết Hiền Quan ”, “ Hỗn chiến ở lễ hội cướp phết ”, “ Dân cướp phết, quan tranh lộc ”, "Rùng mình với những hình ảnh xấu ở lễ hội tháng Giêng ”, “ Ẩu đả hỗn loạn trong lễ hội cướp phết lấy may ”, “Cảnh giẫm đạp tại lễ hội cướp phết ở Vĩnh Phúc”, “ Hình ảnh hỗn chiến kinh hoàng trong lễ hội cướp phết ”, “ Giẫm đạp kinh hoàng trong lễ hội cướp phết lấy may ”, “ Giẫm đạp, đổ máu cướp Phết ở lễ hội cầu may mắn ”, “ Lại hỗn loạn tại lễ hội” “Đả cầu cướp phết” …
Và:
'Chặt chém' đang xảy ra tại lễ hội Đền Trần”, “Ẩu đả, chặt chém trong lễ hội Phết ở Phú Thọ”, “Chặt chém mùa lễ hội”, "Chặt chém" ở chùa Hương mùa lễ hội”, “ Nạn "chặt chém" du khách mùa lễ hội đầu năm ”…
Cả miền bắc tháng giêng, đâu đâu cũng thấy cảnh chặt, chém, cướp, ấu đả, hỗn chiến, hỗn loạn, giẩm đạp...
Đó là chưa nói tới các cảnh máu me chém heo, chọi trâu...
Đó là chưa nói tới cảnh mỗi năm thịt 1 triệu con chó, nhậu ba tỉ lít bia (phì phào bao nhiêu tỉ điếu thuốc lào, thuốc lá?)......
Miền bắc cũng là nơi (duy nhứt) có nhà hàng bún mắng cháo chửi...
Và cũng là nơi (duy nhứt) có người tự do trỏ c. đứng đái trên đường...
Chọn ông Lú làm TBT vậy là đúng thôi. Nói xuôi cũng được, nói ngược cũng xong...
Mới là dân bắc kỳ biết "ný luận".
Vậy cách nào làm gương cho dân nam cờ đây? Bọn này tuy thiệt thà (là cha thằng dại), nhưng lộ liễu quá, lâu ngày bọn nó cũng biết.

26-2
Bây giớ, mỗi lần bật máy lên đọc báo, thấy những bài viết về Hoàng Sa, nào là TQ đặt hỏa tiễn địa không trên đảo Phú Lâm, nào là TQ đưa phi cơ chiến đấu ra đảo v.v... tự nhiên thấy ngán, không muốn đọc.
Chỉ cách đây vài mươi năm, có lẽ năm 1965, nhà nước VNDCCH lên tiếng trên các cơ quan ngôn luận của mình rằng, vùng biển mà Đệ thất hạm đội của Mỹ đang hoạt động là thuộc về Trung quốc.
Vùng biển mà nhà nước VNDCCH nói (của TQ) đó là vùng biển giữa HS và bờ biển VN.
Bây giờ hả miệng mắc quai! đâu thể lên tiếng trách ai Trọng thủy, ai Mỵ châu được nữa, phải không ?


26-2
ở một số nước tư bản giẫy chết, các cửa hàng tư nhân (bar, cây xăng, siêu thị...) trong thành phố không được phép từ chối người lỡ đường sử dụng WC. Các cửa hàng tư nhân này có thể đòi hỏi người sử dụng WC một số tiền thù lao (để làm vệ sinh) tượng trưng. Nhưng họ không thể từ chối.
Ông Chung thử làm luật này cho dân Hà Nội cái coi. Không chừng trị được thói đái bậy của các công tử Hà thành.

26-2
Ngân sách của Hà Nội, theo các tài liệu công bố (không chính thức), chiếm 50% ngân sách quốc gia dành cho các tỉnh. Đây là một con số lớn kinh khủng.
Hà Nội có "trọng lượng" ngân sách bằng 33 tỉnh thành của đất nước Việt Nam (gồm 63 tỉnh và 5 thành phố).
Hà Nội là "trung ương" nên muốn gì cũng được, xài bao nhiêu cũng được ?
Vấn đề là, 50% nhân dân cả nước còm lưng đóng thuế, chỉ riêng cho Hà Nội xài.
Với ngân sách đó lãnh đạo Hà Nội đã xây dựng được cái gì ở nơi gọi là ngàn năm văn vật này ?
Không cần phải là "lão làng" ở đây mới có thể trả lời. Một du khách "cỡi ngựa xem hoa" cũng có thể thấy bề mặt Hà Nội ra sao.
Người ta thấy một thế giới Hà Nội mê tín dị đoan, một không gian kiến trúc Hà Nội màu sắc nham nhở vô trật tự, một đời sống Hà Nội hỗn mang vô phép tắc. Người ta cũng thấy một Hà Nội chặt chém, bún mắng cháo chưởi và cũng thấy một Hà Nội đặc sắc man rợ với những gian hàng bán thịt chó lộ thiên lớn nhứt thế giới...
Văn miếu, Quốc tử giám, đền Quán thánh, chùa Trấn quốc, đền Ngọc sơn… là những tiêu biểu của văn hóa và văn minh Việt, thực ra chỉ là những khu chợ chồm hổm bán chữ, bán thần, bán thánh…. Những ngày tết, khói hương những nơi đây bốc lên như nhà cháy, mà là thứ khói độc do các chất hóa học làm nhang. Không biết mấy ông từ giữ đền ở đây là ai? công việc là giữ đền hay giữ... thùng tiền? Những tấm hoành phi, những bức tượng chỉ sạch sẻ, bóng loáng ở bề mặt. Nhìn phía sau loan lổ đến mức nham nhở, bụi bặm, gián nhện bám đầy. Còn dưới sạp thờ, được che nửa kín nửa hở tấm vải điều đỏ, mấy chai bia (hay rượu?) trống không nằm lăn lóc.
Thiện nam tín nữ Hà thành cúi đầu vái lạy những thứ nham nhở trần tục đó. Những bức tượng mặt xanh mặt đỏ vô tri mà tay nắm đầy tiền.
Người ta thấy một Hà Nội tín ngưỡng với con rùa già ghẻ lở, lặn ngụp trong vũng nước thối gọi là Hồ Gươm. Có năm người ta làm xe hoa, làm kiệu rước con rùa, tôn nó lên làm linh vật.
Thiêng liêng gì ở những thứ đó?
Người ta thấy một Hà Nội ăn sổi ở thì, bức tường gốm sứ, sau vài năm xuống cấp trở thành bức tường gớm ghiết. Ở Hà Nội người ta làm để cho có, trọng về hình thức bề ngoài hơn là sự bền vững lâu dài.
Người ta cũng thấy một Hà Nội xe cộ chen chúc kẹt đường. Người ta chen nhau, chẳng ai nhường ai, đèn xanh mặc kệ đèn xanh. Xe ông bảng xanh thì ông ưu tiên vượt đèn đỏ. Hà Nội là trung ương nên cũng đúng thôi. Mỗi ông đầy tớ là mỗi chiếc xe. Số lượng xe của mấy ông đầy tớ nối đuôi nhau sẽ dài hơn tất cả những con đường ở Hà Nội gộp lại. Không kẹt xe mới là điều lạ.
Mà khi ra đường, mọi thứ mặt nạ đều rớt xuống. Đạo đức con người thể hiện qua tính cách lái xe.
Đâu rồi cái thanh lịch của người Tràng An?
Những thứ gọi là "lịch sự", là "tinh túy văn hóa", trước kia làm nên nét "thanh lịch của người Tràng An", chắc hẵn là đã di cư vô nam năm 54. Lớp người này còn gọi là bắc cờ 54, vô nam hai bàn tay trắng.
Nhờ ở cái "tinh túy văn hóa, lịch sự Tràng An", không bao lâu lớp người di cư này trở thành lớp thượng lưu, không giàu nhưng có học, nắm hầu hết các guồng máy chính trị và văn hóa VNCH. Thử đọc lại các tác phẩm văn học nổi tiếng, hay các tập giáo trình của VNCH ngày xưa, tác giả phần lớn là bắc cờ 54.
Bây giờ Hà Nội chuẩn bị cho người sang Bắc Kinh (hay Singappour) học cách trồng cây xanh.
Tiền Hà Nội nhiều quá, xài không hết thì giao cho các tỉnh vùng cao, vùng sâu để xây cầu, xây nhà, xây trường học...
Ngày xưa, khi bắt đầu mở mang, miền Nam cho người sang các nước nông nghiệp tiên phong (như Phi, Đài Loan...) để học kỹ thuật cải giống lúa. Các trường kỹ sư "Nông Lâm Súc" cũng được dựng lên cùng thời. Nhờ đó mà VN bây giờ sản xuất gạo đứng đầu thế giới.
Nhưng sau 75, VN chỉ chú trọng phần "nông" mà bỏ lơ phần "lâm" và "súc". Việc Hà Nội dự tính gởi người đi học trồng cây cho thấy sự thất bại của việc giáo dục.
Nhưng dầu vậy, chuyên gia VN về cây xanh chắc chắn là tài ba hơn chuyên gia Bắc Kinh và Singapour.
Vùng Camargue của nước Pháp (hạ nguồn sông Rhone), trước kia là vùng đầm lầy, một số nông dân VN được Pháp tuyển chọn đưa sang đây để biến vùng đất này thành đồng ruộng. Vùng Camargue hiện nay đã trở thành đồng ruộng phì nhiêu.
Tây còn học kinh nghiệm ở nông dân VN. Việc trồng cây xanh dân ở Hà Nội bây giờ (dự tính ) gởi chuyên gia đi học nước ngoài, đúng là chuyện chuối trồng ngược.
Hà Nội còn chuyện cầu Long Biên, còn chuyện tháp truyền hình...
Chuyện nào đọc qua "kế hoạch" thấy đều "oải". Dân đóng thuế (để mấy ông Hà Nội xài bậy) có nước chết.

27-2
theo tôi, ông Chung, chủ tịch UBND Hà Nội, không nên phát biểu linh tinh ở những thứ mà mình không biết. Ông nên đặt ra chỉ tiêu cụ thể nào đó để đạt tới trong nhiệm kỳ của mình.
Ông sẽ xứng đáng được 10 điểm, nếu trong nhiệm kỳ của ông, Hồ Gươm được sạch, đẹp... (nước có thể tắm, thậm chí uống...), nạn kẹt xe được giải quyết, hay tinh thần "thuợng tôn pháp luật" được "chấp hành" từ quan cho tới người dân...
Ba cái thứ nặng phần trình diễn như đầu năm đi cày, thắp nhang chỗ này chỗ kia... đều là giả dối, mị dân, chỉ gạt được người thiếu hiểu biết.

27-2
Ông Chủ tịch UBND Hà Nội Nguyễn Đức Chung vừa được một nhà báo "chấm điểm 10" sau khi ông lên tiếng về vụ dự án xây tháp truyền hình cao nhứt thế giới 636 mét tại Hà Nội. Ý kiến của ông Chung như vầy:
“Tôi nghe nhiều người nói rằng, công nghệ thông tin đang hiện đại, họ sử dụng vệ tinh thì có cần thiết xây tháp không? Theo tôi hiểu, ở đây còn là tổ hợp bao gồm cả khách sạn, nhà hàng… nếu vậy thì cũng phải nghiên cứu tới tính khả thi, tính hiệu quả của dự án như thế nào…?
Đọc báo chí trong nước thấy nhiều giáo sư, tiến sĩ cũng lên tiếng về dự án này. Ý kiến tương tự như ông Chung, cũng cho rằng khuynh hướng "hiện đại" là không dùng trụ phát sóng nữa mà là cáp và vệ tinh.
Ngoài điểm 10 của tác giả bài báo, trên mạng còn có nhiều ý kiến ủng hộ (ông Chung) của một số facebookers (nổi tiếng).
Dự án xây dựng tháp truyền hình ở Hà Nội không phải là mới. Tôi đã nói qua (một số chi tiết kỹ thuật) từ năm ngoái, nhân việc một số trí thức miền bắc làm kiến nghị đặt vấn đề về dự án làm tháp truyền hình.
Ý kiến của ông Chung và ý kiến của một số giáo sư tiến sĩ hiện nay là trùng hợp với kiến nghi ngày 30-3-2015 của các trí thức. Ý kiến này đại khái cho rằng, khuynh hướng "hiện đại" là người ta phát sóng truyền hình từ vệ tinh, hay theo dây cáp, chớ không còn sử dụng phát sóng theo lối xưa (analog).
Điều này hoàn toàn sai.
Tùy theo hoàn cảnh địa lý của thành phố, đất nước... mà việc lựa chọn phát sóng truyền hình (cáp, sóng vô tuyến hay sóng vệ tinh) được đặt ra. Một số nước như Mỹ (hình thể địa lý quá rộng lớn), Đức... từ những thập niên 80 hệ thống cáp dẫn đã đặt hoàn tất phần lớn trên lãnh thổ, vì vậy các nước này có khuynh hướng ưu tiên cho kỹ thuật truyền hình cáp. Những vùng hẻo lánh, chưa kéo cáp, thì buộc phải dùng vệ tinh. Mà thực ra chi phí cho việc đặt cáp rất lớn, những thành phố có kiến trúc cổ kính như Paris, Roma, Milano, London... thì khó đặt cáp cho tất cả. Các nước khác thì ưu tiên cho kỹ thuật sóng vô tuyến.
Trên phương diện kinh tế và kỹ thuật, dĩ nhiên truyền hình theo sóng vô tuyến có lợi hơn rất nhiều. Tương tự điện thoại (hay internet wifi), ngày xưa phải kéo dây điện thoại vừa lôi thôi vừa tốn kém, bây giờ chỉ tốn một thẻ sim mà có thể gọi ở đâu cũng được.
Dĩ nhiên điện thoại bây giờ "sướng" hơn điện thoại ngày xưa rất nhiều. Internet cũng vậy.
So sánh với truyền hình, về căn bản kỹ thuật, hai thứ đề tương tự như vậy.
Ngoài ra, tháp phát sóng còn có thể sử dụng cho giao dịch chứng khoán (High Frequency Trading). Dữ kiện truyền đi theo cáp sẽ chậm hơn lối truyền theo sóng vô tuyến (vận tốc ánh sáng).
Dẫn lại ý kiến của tôi ngày 31-3-2015:
...
Truyền hình kỹ thuật số (DVB - Digital Video Broadcasting) có thể truyền theo nhiều dạng sóng khác nhau, phát từ mặt đất (DVB-T, modulation QAM) hoặc phát từ vệ tinh (DVB-S, modulation QPSK).
Phương pháp modulation QAM (Quadrature Amplitude Modulation) phát sóng từ mặt đất không khác chi nhiều cách modulation của truyền hình cũ analog ngày xưa. Những tháp truyền hình cũ (analog) đều có thể sử dụng để xài cho truyền hình kỹ thuật số (DVB-T).
...
Ý kiến ngày 2 tháng 4-2015:
Tháp truyền hình Hà Nội cần xây cao bao nhiêu thì đủ ?
Giả sử rằng VN chọn tiêu chuẩn DVB-T (tiêu chuẩn phổ biến nhứt hiện nay), phát trên băng tầng UHF.Ta có thể tính được (một cách đơn giản, theo công thức Fresnel) bán kính phủ sóng của tháp truyền hình tùy theo độ cao của tháp.
Trường hợp ăn ten thâu sóng sát đặt mặt đất (chiều cao 0 mét, điều này không có trên thực tế). Giữa ăn ten và tháp truyền hình giả sử không có vật cản (cây cối, núi non, nhà cửa, thời tiết xấu…) :
Tháp cao 634m, bán kính phủ sóng là 88km.
Tháp cao 500m, bán kính phủ sóng là 78km.
Tháp cao 400m, bán kính phủ sóng là 70km.
Trường hợp ăn ten thâu sóng đặt trên nóc nhà, cao độ trung bình 10m (phần lớn), bán kính phủ sóng lần lượt sẽ là 99km, 89km và 81km.
Tức là tháp truyền hình càng cao (hoặc ăng ten thâu sóng càng cao) thì sóng phát càng xa.
Vì vậy, phần lớn các tháp truyền hình được xây trên các đỉnh núi.
Hà Nội cần xây tháp bao cao để phủ sóng (tất cả các tỉnh miền bắc) ?
Dĩ nhiên ta không thể xây tháp truyền hình 3 ngàn mét để có bán kính phủ sóng là 191km (cũng chưa phủ hết các tỉnh). Để thoát ra khỏi vấn nạn « chiều cao », ta có thể dựng các trạm chuyển tiếp (antennes relais) để phát sóng cho những vùng chưa phủ sóng.
Chung quanh Hà Nội (khoảng 100km đến 150km) có nhiều ngọn núi khá cao (trên 1.000m), phía bắc và phía nam, có thể chọn làm nơi đặt ăn ten chuyển tiếp.
Giả sử ta xây tháp truyền hình Hà Nội cao 400m, sóng ở đây sẽ phủ ngọn núi cao 1000m cách 180km. Tức tháp cao 400 mét là đủ để cung ứng cho các trạm phát sóng trung chuyển phủ sóng tất cả các tỉnh miền bắc.
Vì vậy, theo tôi, không cần phải xây tháp cao đến 634m, mà chỉ cần xây tháp cao khoảng 314m là đủ.
Bởi vì, tháp cao 634 mét, hay 314 mét, ta cũng phải xây các trạm trung chuyển như nhau.
Điều quan trọng là tháp cao 634m sẽ tốn tiền nhiều lần hơn tháp cao 314m.
Ý kiến của tôi ngày 3 tháng 4:
Theo tôi thì tháp truyền hình không nên để cho tư nhân khai thác và làm chủ.
Bởi vì lãnh vực "sóng vô tuyến" thuộc công chúng, cũng như lãnh thổ, bầu trời, không gian, vùng nước...
Sóng vô tuyến tuy có vài băng tầng có thể cho phép tư nhân hóa sử dụng, được phép khai thác kinh tế, nhưng nó thuộc phạm trù kinh tế chiến lược và an ninh, quốc phòng.
Trong tương lai rất gần, sóng vô tuyến có những áp dụng về internet (wimax), cho phép dân chúng một vùng (chưa được kéo dây điện thoại hay cáp) tiếp cận với internet wifi với vận tốc adsl. Tức là, trên phương diện kỹ thuật, VN có thể "nhảy qua" một giai đoạn (kéo dây điện thoại hay cáp) - tương tự các việc nhảy qua giai đoạn điện thoại cầm tay.
Cũng trong tương lai rất gần, thế hệ thứ tư điện thoại cầm tay (4G) sẽ cho phép điện thoại cầm tay bắt các chương trình truyền hình HD.
Trong khi ở các nước Châu Âu, truyền hình kỹ thuật số phát trên mặt đất, đang thay thế truyền hình cáp và truyền hình vệ tinh.
Giao cho tư nhân khai thác là nhà nước mất kiểm soát (về an ninh quốc phòng), cũng như mất đi tư thế đầu tàu chiến lược phát triển.
Vì vậy, tháp truyền hình (sắp xây ở Hà Nội), theo tôi không nên giao cho tư nhân đầu tư. Chiều cao, (đã nói) khoảng chừng 400 mét là đủ.
"Đón đầu" là phải nhìn như vậy. Nhà nước kiểm soát ở những thứ cần kiểm soát. Lãnh vực "sóng vô tuyến" vốn đã thuộc của quốc gia rồi. Các đài truyền hình hãy để cho tư nhân. Cũng như nội dung chương trình. Việc kiểm soát chỉ cần một bộ luật là đủ. Nhà nước đâu cần phải "quản lý" lung tung, mà hệ quả là cản trở hơn là phát triển.
Trở lại ý kiến của ông Nguyễn Đức Chung (mà báo chí và dư luận cho 10 điểm), cá nhân tôi cho điểm dê rô.
Ý kiến của ông Chung cho thấy ông không nắm vững hồ sơ (mà ông có trách nhiệm). Ông không biết tí gì về chuyên môn (đã đành) mà các giáo sư tiến sĩ của VN, có lẽ làm cố vấn cho ông Chung, cũng không biết luôn.
Việt Nam đã nát bét từ mấy chục năm nay, nguyên nhân là giao quyền lãnh đạo cho những người không biết việc.
Bây giờ, tiêu chuẩn mới của ông TBT Nguyễn Phú Trọng, "phải là bắc kỳ, phải biết lý luận". Tôi sợ đất nước này bị tụt thêm vài chục năm nữa.
Người ta cần lãnh đạo biết làm việc chớ không cần người biết "lý luận".
Trường hợp ông Chung, lý luận còn chưa thông, thì làm cái gì?
28-2
Bây giờ học giả "hàm vụ trưởng vụ khoa học" VN đổ thừa mất Hoàng Sa là do Mỹ "bật đèn xanh cho Trung Quốc".
Xin thưa, quí ngài coi "thằng Mỹ" là "giặc". Quí ngài đốt cháy dãy Trường Sơn để "đánh cho Mỹ cút". Lúc TQ chiếm Hoàng Sa năm 1974 thì Mỹ đã "cút" rồi. Hiệp định Paris 1973, thắng lợi lớn cũng là vụ bịp bợm lớn nhứt thế kỷ của quí ngài, là bằng chứng.
Lãnh thổ Hoàng Sa của VN lúc bị giặc đánh chiếm, quí ngài không lên tiếng phản đối, lại còn gọi giặc xâm lăng là "ông": Ông Liên Xô, ông Trung Quốc.
Lúc còn "chống Mỹ cứu nước", khi mà tàu Mỹ lãng vãng trong vùng biển giữa Hoàng Sa và bờ biển VN, thì quí ngài tuyên bố vùng biển đó là của Trung Quốc.
Muốn đuổi Mỹ để chiếm miền Nam quí ngài không từ bỏ phương cách, thủ đoạn nào, kể cả cách bán đất đai, biển đảo cho Trung Quốc.
Vì vậy trên trường quốc tế, bọn giặc chiếm HS của VN nó đâu có nhắc vụ Mỹ "bật đèn xanh", mà nó nhắc công hàm 1958, bản đồ, các bài báo trên tờ Nhân Dân... Trước diễn đàn LHQ nó trưng bằng chứng cho mọi người thấy là quí ngài đã nhìn nhận HS và TS là của chúng.
Bây giờ quí ngài lật lọng, đổ thừa mất Hoàng Sa là do Mỹ (chớ không phải do quí ngài).
Đúng là giọng điệu, nói theo ông tổng Nú: "bắc kỳ biết ní nuận", nói xuôi cũng được nói ngược cũng xong.
Quí ngài chỉ lừa gạt được bọn dân ngu khu đen chớ không lừa được người hiểu biết.

28-2
Việt Nam có thể kiện Trung Quốc về cái gì ?
Vấn đề quân sự hóa Biển Đông đã không còn là những lời răn đe suông. TQ từ khoảng hai năm nay đã đẩy mạnh những hoạt động ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Tại đảo Phú Lâm (thuộc Hoàng Sa), TQ đã đặt các giàn ra đa, các ụ phòng không cũng như đưa các loại phi cơ chiến đấu. Tại Trường Sa, TQ đã ráo riết mở rộng các đảo nhân tạo trên các bãi cạn (Chữ Thập, Gạc Ma, Vành Khăn, Châu Viên, Su Bi, Ga Ven...), gấp rút xây dựng trên các bãi Chữ Thập, Su Bi... những phi đạo (dài trên 3000 mét). Những gì TQ đã và đang làm ở đảo Phú Lâm (Hoàng Sa) chắc chắn sẽ được thực hành cho các đảo nhân tạo ở Trường Sa.
Ta có thể khẳng định rằng TQ đã và đang "quân sự hóa Biển Đông", bất chấp những phản đối của các đại cường Hoa Kỳ, Nhật, Ấn Độ, Úc... hay các nước có liên hệ trong khu vực.
Nhìn động thái củng cố quốc phòng của các nước "lớn" có quan hệ đến khu vực, như Mỹ, Nhật, Ấn, Úc... để đối trọng với việc "quân sự hóa Biển Đông" của TQ, ta thấy khả năng giải quyết tranh chấp Biển Đông bằng một giải pháp hòa bình trở thành viễn ảnh xa xôi.
Lập trường của TQ, từ khoảng 100 năm nay, đã trở thành nguyên tắc đối ngoại, là không chấp nhận việc giải quyết tranh chấp bằng một trọng tài quốc tế. Tình hình kinh tế đình trệ hiện thời của TQ, cũng như những rối loạn nội bộ do những khủng hoảng xã hội bắt nguồn từ việc suy thoái, đã khiến lãnh đạo Bắc Kinh cứng rắn trong lập trường, không chỉ ở Biển Đông, mà còn đối với Đài loan. Những người này cố gắng biến cuộc khủng hoảng xã hội thành một phong trào dân tộc chủ nghĩa.
Tức là lãnh đạo Bắc Kinh, ngay từ thời điểm hiện tại, chủ trương giải quyết mọi tranh chấp bằng chiến tranh chớ không bằng các nguyên tắc hòa bình theo Hiến chương LHQ.
Đối với Đài Loan (và Hồng Kông), Bắc Kinh sẽ vịn vào "luật chống ly khai" và nguyên tắc "một nước Trung Hoa" để răn đe các khuynh hướng ly khai, như của tân tổng thống Đài Loan Thái Anh Văn hay các phong trào sinh viên ở Hồng Kông.
Đối với Biển Đông, TQ tuần tự "khẳng định chủ quyền" của họ ở HS và TS. Bước đầu TQ sẽ thực hiện những công trình ở những vùng mà không ai có thể phản đối họ được, vì lý do mập mờ về pháp lý. Đó là tường hợp quân sự hóa đảo Phú Lâm, mở rộng các đảo (như Quang Hòa) ở Hoàng Sa. Hoặc mở rộng các bãi cạn ở TS trở thành các đảo nhân tạo, sau đó xây dựng trên các đảo đó những phi trường, bến cảng, ụ phòng không, đài ra đa... cuối cùng "quân sự hóa" để chúng trở thành các căn cứ hải-không quân.
Các hành vi cho tàu bè hay phi cơ tiếp cận các đảo này của hải quân Hoa Kỳ sẽ không làm cản trở các hoạt động của TQ. Hành vi của TQ là khẳng định chủ quyền, còn của Hoa Kỳ là giữ quyền "tự do hàng hải". Nếu hai bên nhượng bộ và thỏa mãn yêu sách của nhau, hai bên sẽ không xảy ra xung đột.
Thời gian tới, sau khi các công trình xây dựng đảo và việc "quân sự hóa" hoàn tất, TQ sẽ mở các hoạt động ở các khu vực khác, có thể gây tranh chấp, như xây dựng và mở rộng các đảo như Tri Tôn, bãi cạn Hoàng Nham... cuối cùng "quân sự hóa" các địa điểm này.
Người ta hình dung trong tương lai ngắn, TQ sẽ mở vùng nhận dạng phòng không (ADIZ) trên Biển Đông, giới hạn phía nam ở khoảng vĩ tuyến 8°30' bắc.
Trong bối cảnh như vậy nhiều người VN lên tiếng thúc hối nhà nước CSVN "kiện TQ ra trước một Tòa án quốc tế".
Câu hỏi đặt ra là VN có thể kiện TQ về cái gì? ở Tòa án nào?
Muốn kiện một đối tượng, điều cần thiết là xác định được đối tượng đã "phạm luật" ở điều gì ?
Những động thái của TQ ở khu vực Hoàng Sa, như vụ đặt giàn khoan 981 trên thềm lục địa của VN vào tháng 5 năm 2014, hay việc quân sự hóa đảo Phú Lâm, cho bồi đắp, mở rộng đảo Quang Hòa... đều có thể là những "lý cớ" để nhà nước VN đơn phương đi kiện TQ trước một Tòa án quốc tế.
Thực tế cho thấy nhà nước CSVN đã không làm điều gì hữu hiệu để ngăn chặn các hành vi của TQ.
Nhà nước CSVN không làm các việc này vì họ có lý do của họ.
Ngay cả việc hải quân Hoa Kỳ thực hiện công tác bảo vệ quyền tự do hàng hải qui định theo luật quốc tế, VN còn không dám lên tiếng công khai ủng hộ, huống chi đến việc hưởng ứng.
Hành vi của hải quân VN tháp tùng cùng hải quân Hoa Kỳ tuần tiễu (như trong khu vực biển Hoàng Sa) là cơ hội để VN khẳng định chủ quyền của mình tại HS, cũng như khẳng định quyền lợi hợp pháp của VN trong vùng biển này.
Bởi vì từ lâu nhà nước VNDCCH đã nhìn nhận Hoàng Sa thuộc chủ quyền của TQ. Đồng thời nhà nước này cũng nhìn nhận khu vực biển (mà hải quân Hoa Kỳ tuần hành) là thuộc về Trung Quốc.
Sự "bất lực" của nhà nước CHXHCNVN hiện nay là "hệ quả" của sự "liên tục quốc gia": nhà nước CHXHCNVN là nhà nước "tiếp nối" nhà nước VNDCCH.
Tức là nhà nước CSVN hôm nay phải tôn trọng và thi hành những hứa hẹn về lãnh thổ, hải phận của nhà nước tiền nhiệm VNDCCH.
Nếu áp lực của người dân có hiệu quả, nhà nước CSVN vác đơn đi kiện TQ. Thì với thực tế pháp lý như vậy, kiện là để thua. CHXHCNVN không có tư cách pháp nhân để đứng ra kiện Trung Quốc.
Giả sử VN làm đơn kiện TQ ở Hoàng Sa. Vấn đề là Trung Quốc chiếm Hoàng Sa trên tay của VNCH chứ không phải trên tay CHXHCNVN.
Nhà nước CSVN hôm nay vẫn còn xem thực thể VNCH là "ngụy". Vụ TT Nguyễn Tấn Dũng bị hạ bệ vì lý do có con gái lấy chồng "con lính ngụy" cho thấy chính sách kỳ thị lý lịch của lãnh đạo CSVN.
Gọi VNCH là "ngụy", tức là "không thật", thì làm sao có thể kế thừa di sản ở một thực thể "không thật"?
Lý do khác, lúc TQ chiếm Hoàng Sa, nhà nước VNDCCH không lên tiếng phản đối, cũng không ký tên vào bản tuyên bố lên án TQ của VNCH.
Theo tập quán quốc tế, ở những tình huống bắt buộc quốc gia phải lên tiếng để bày tỏ lập trường, nếu quốc gia này im lặng thì sự im lặng này có nghĩa là sự đồng thuận. Thì bây giờ nhà nước CHXHCNVN lấy lý do gì để phản đối, chưa nói tới việc đi kiện?
Hay là đi kiện về việc chồng lấn vùng biển do có quan điểm khác nhau về Luật Biển?
Thí dụ TQ chủ trương các đảo HS (như đảo Tri Tôn) có hiệu lực của "đảo", còn VN chủ trương các đảo này là "đá", thì phán quyết của Tòa cách nào cũng đem lại thiệt hại cho VN.
Thứ nhứt là VN nhìn nhận HS thuộc chủ quyền của TQ.
Thứ hai, về hiệu lực các đảo HS, phán quyết của Tòa nhiều hay ít gì thì VN cũng mất biển.
Trong khi vùng biển HS (trên lý thuyết) là của VN.
Còn ở Trường Sa, VN có thể kiện về cái gì ?
Ở đây cũng vậy, với tình hình hiện tại, kiện là để được thua.
VN cũng không thể bắt chước Phi đi kiện TQ về việc mâu thuẩn về cách diễn giải luật biển.
Bởi vì, bề ngoài, hình thức kiện là đường chữ U, nhưng bề trong lại là chủ quyền các đảo.
Làm điều này VN cũng nhìn nhận các đảo TQ thuộc chủ quyền của TQ.
Tức là, việc kêu gọi mọi người ký tên làm áp lực buộc nhà nước VN đi kiện TQ là "phiêu lưu", là bất định. Nếu không nói là để thua.
Trở ngại trong vấn đề kiện tụng là việc kế thừa di sản VNCH.
Nước CHXHCNVN hiện nay không có chính danh ở HS và TS. Họ vẫn xem VNCH là ngụy, vẫn chủ trương lãnh đạo phải là "người bắc kỳ, biết lý luận"...
Thay vì kêu gọi mọi người ký tên để yêu sách nhà nước kiện TQ, hợp lý là kêu gọi nhà nước CSVN thực thi chính sách hòa giải dân tộc, mục tiêu là kế thừa danh nghĩa VNCH.
Xong việc này rồi thì mới có (một chút) hy vọng về kiện tụng.
Như trên đã nói, viễn tượng TQ sẽ giải quyết tranh chấp bằng vũ lực. Trong bất kỳ cuộc chiến tranh hiện đại, lý do gây chiến tranh là điều cực kỳ trọng yếu.
Kiện TQ đôi khi không phải để thắng, (vì TQ không chấp nhận giải quyết tranh chấp bằng một trọng tài), mà kiện để VN có được "quyền tự vệ chính đáng".

Trong chiến tranh hiện đại, bên nào dành được quyền "tự vệ chính đáng" thì bên đó sẽ thắng.

Aucun commentaire:

Enregistrer un commentaire

Remarque : Seul un membre de ce blog est autorisé à enregistrer un commentaire.