samedi 24 décembre 2016

Nhật ký tháng tám 2016

1-8
(BBC 1-8-2016)
Hội nghị Ngoại trưởng của các nước ASEAN được tổ chức ở Vientiane (Lào), bế mạc hôm 25/7 với một bản Tuyên bố chung được công bố, trong đó nội dung phán quyết ngày 12/7 của Tòa Trọng tài Thường trực (PCA) đã không được nhắc đến.
Theo tin tức báo chí, nguyên nhân đến từ việc cản trở của thành viên Campuchia.
Nhân họp báo, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Chum Sounry của nước này cho biết: "Tranh chấp Biển Đông là tranh chấp giữa Philippines và Trung Quốc chứ không phải giữa ASEAN và Trung Quốc. Vì vậy, không nên đưa cả khối ASEAN vào vấn đề này, Campuchia không muốn dính dáng đến vấn đề này".
Trước đây không lâu, báo chí cũng đăng tải tin tức về ông Hun Sen, Thủ tướng Campuchia. Ông này cho rằng sẽ không ủng hộ phán quyết sắp tới của Tòa PCA tại La Haye, Hà Lan. Theo ông Hun Sen, vụ Philippines kiện Trung Quốc về việc diễn giải và áp dụng sai Công ước 1982 về Luật Biển, là "một âm mưu chính trị". Ông cũng cho rằng vấn đề này là chuyện riêng của hai nước, không liên quan đến ASEAN.
Vấn đề là Philippines là một thành viên sáng lập khối ASEAN. Tranh chấp Biển Đông liên quan trực tiếp đến nhiều nước ở Biển Đông, như Philippines, Việt Nam, Malaysia, Brunei. Tức tranh chấp Biển Đông cũng là một vấn đề trọng tâm của ASEAN. (Và cả thế giới, do quyền tự do hàng hải, vì Biển Đông là hải lộ quan trọng, luân lưu trên 50% hàng hóa thế giới).
Phán quyết của tòa PCA hôm 12/7 thực ra là việc "diễn giải và áp dụng các điều trong bộ Luật Quốc tế về Biển 1982". Tức nhằm giải thích cách áp dụng luật. Trong chừng mực, phán quyết cũng là "luật".
'Quyền lịch sử'
Trung Quốc tự tiện diễn giải và áp dụng bộ Luật Biển 1982 theo cách của họ, chỉ có lợi cho họ, bất chấp những thiệt thòi của các nước chung quanh.
Trung Quốc áp dụng "quyền lịch sử", yêu sách 80% vùng Biển Đông. Tòa cho rằng việc áp dụng "quyền lịch sử" đã không còn phù hợp với Luật biển 1982. Tức là, ngay cả khi Trung Quốc chứng minh được rằng họ có "quyền lịch sử", thì khi Trung Quốc ký nhận công ước Luật Quốc Tế về Biển 1982, quyền này cũng bị mất đi.
Hơn thế, Trung Quốc chưa hề có cái gọi là "quyền lịch sử" ở Biển Đông. Tòa đã chứng minh rằng Trung Quốc qua bao thời đại, chưa hề kiểm soát trên thực tế vùng biển này.
Từ vấn đề "quyền lịch sử" ta mới hiểu lý do khác, (ngoài lý do viện trợ tiền bạc của Trung Quốc), vì sao Campuchia không ủng hộ phán quyết của Tòa PCA.
Đến nay một số đông chính trị gia Campuchia vẫn còn ủng hộ lập trường của ông Hoàng Sihanouk, là đòi "quyền lịch sử" của Campuchia ở Việt Nam (như đòi quyền sử dụng cảng Sài Gòn, sử dụng các thủy lộ Cửu Long... để về Phnom Penh).
Trường hợp Trung Quốc, khi ký vào Công ước Luật Biển 1982, quyền lịch sử (nếu có) của Trung Quốc bị mất đi. Trường hợp Campuchia (và Việt Nam), sau khi độc lập, thoát ách thực dân,"quyền lịch sử" của Campuchia (trên lãnh thổ Nam Kỳ) cũng bị mất đi.
Công pháp quốc tế không nhìn nhận hiệu lực của "quyền lịch sử". "Quyền" bị thay thế bằng khái niệm luật học "uti possidetis". Khái niệm này có nghĩa là: nếu (trước khi độc lập) anh có (kiểm soát) vùng lãnh thổ đó, thì sau khi độc lập anh tiếp tục giữ vùng lãnh thổ này.
Phía Trung Quốc tẩy chay, không tham dự phiên Tòa, điều này không làm cho thẩm quyền của Tòa PCA bị giảm sút. Cũng như các vận động rầm rộ của Trung Quốc nhằm "chính trị hóa" phán quyết, cũng sẽ không giúp cho việc giải thích "Luật" của Trung Quốc có giá trị hơn Tòa PCA.
Nhưng quan điểm của các lãnh đạo Campuchia về phán quyết của Tòa rõ ràng đã phủ nhận nền "quốc tế pháp trị", đã được thiết lập từ hệ quả của hai cuộc Thế chiến. Theo đó mọi tranh chấp giữa các nước sẽ được giải quyết bằng luật lệ, thay vì bằng vũ lực. Điều này có thể sẽ làm tổn hại đến quyền lợi của Vương quốc Campuchia, một nước nhỏ, còn hiện hữu được là nhờ sự bảo vệ của Luật Quốc tế.
Lịch sử chứng minh, đã hai lần Campuchia bảo vệ được sự toàn vẹn lãnh thổ của mình là nhờ "pháp luật quốc tế".
Tiền lệ trong ASEAN
Khoảng năm 2011, tranh chấp giữa Thái Lan và Campuchia về chủ quyền vùng đất (khoảng 4,5km²) chung quanh ngôi đền Preah Vihear khiến hai nước căng thẳng, ngấp nghé bên bờ chiến tranh. Campuchia đệ đơn lên tòa Công lý Quốc tế (ICJ)ngày 28/4/2011 yêu cầu Tòa "giải thích lại phán quyết 1962".
Tranh chấp ngôi đền này giữa hai nước đã từng được Tòa ICJ phân xử năm 1962, theo đó ngôi đền này thuộc về Campuchia.
Việc phân xử thời đó "đầy kịch tính", vì theo nội dung Công ước phân định Biên giới Thái-Miên do Pháp và Thái lan thực hiện những năm 1897 và 1904, ngôi đền Preah Vihear thuộc về chủ quyền của Thái Lan. Nhưng trên bản đồ (do Pháp thực hiện sau đó vài năm) thì ngôi đền lại thuộc về Campuchia.
Cuối cùng Tòa xử Thái Lan bị "estoppel", vì nước này đã không phản đối (các tấm bản đồ vẽ sai) trong một thời gian dài. Tòa cho rằng, việc không lên tiếng phản đối đồng nghĩa với việc chấp nhận. Dĩ nhiên là quần chúng Thái Lan không đồng tình về phán quyết này.
Ngày 11/11/2013 Tòa ICJ nhóm họp lại và ra phán quyết, cho rằng khu đất 4,5km² đất chung quanh ngôi đền cũng thuộc về Campuchia.
Phán quyết cũng hết sức "kịch tính", vì nếu ta xét đến các tấm bản đồ phân định biên giới, thì rõ ràng vùng đất này thuộc về Thái Lan. Và dĩ nhiên, dư luận Thái Lan phản đối, không đồng ý với phán quyết này.
Trong vụ tranh chấp này quan điểm "trọng luật" của ASEAN là rõ rệt.
Thông cáo chung của các nước ASEAN có nội dung: "Tôn trọng phán quyết của Tòa và yêu cầu các bên thi hành án lệnh của Tòa tùy theo luật pháp của mỗi quốc gia".
Thì hôm nay, không có lý do nào để Campuchia ngăn cản khối ASEAN ra một tuyên bố yêu cầu các bên "tôn trọng phán quyết của Tòa PCA". Philippines là một thành viên sáng lập ASEAN và phán quyết của Tòa PCA là giải thích luật, tức là "luật".
Cả hai lần Tòa Công lý Quốc tế đều "xử ép" Thái Lan về chủ quyền ngôi đền Preah Vihear. Dầu vậy Thái lan không phản đối, ngăn cản ASEAN ra thông cáo chung.
Campuchia là một nước nhỏ, nhờ "luật quốc tế" bảo vệ mà lãnh thổ nước này mới được "toàn vẹn" ngày hôm nay. Bây giờ, lãnh đạo Campuchia, có thể vì được sự trợ giúp (hay hứa hẹn trợ giúp) tiền bạc từ phía Trung Quốc, lại có chủ trương ủng hộ việc bất tuân luật lệ.
Đây là một tiền lệ nguy hiểm cho Campuchia.
Phía Thái Lan, dân chúng vốn từ lâu bất mãn với các phán quyết của ICJ (1962 và 2013), có thể nhân việc Campuchia ủng hộ việc không tôn trọng luật pháp, sẽ đặt lại việc thi hành hai án lệnh này.
Điều tệ hơn nữa là lãnh thổ của Campuchia hiện nay khoảng 50% diện tích đã được Pháp lấy lại từ Thái Lan qua những kết ước quốc tế.
Mà nền tảng của "quốc tế công pháp" là gì nếu không phải là những kết ước quốc tế?
Sẽ không có điều gì cấm cản Thái Lan phủ nhận mọi kết ước có liên quan đến biên giới đã ký kết (dưới áp lực của Pháp) từ đầu thế kỷ 20.
Campuchia lúc đó sẽ không thể phản biện lại Thái Lan. Bởi vì chính Campuchia đã ủng hộ cho việc phủ nhận công lý quốc tế.
Trật tự pháp lý quốc tế đảo lộn
Trật tự pháp lý quốc tế, được dựng lên từ Thế chiến II nếu không được các nước trong khu vực tuân thủ, nó sẽ thay thế bằng trật tự mới do Trung Quốc áp đặt.
Trật tự pháp lý cũ đặt nền tảng trên sự "bình đẳng về chủ quyền". Mọi quốc gia, bất kể lớn nhỏ, mạnh yếu, dân đông hay dân ít... đều bình đẳng như nhau về "chủ quyền".
Sự bình đẳng về chủ quyền đã được thể hiện trong bộ Luật Quốc tế về Biển 1982. Theo đó, một nước ven biển, bất kỳ lớn nhỏ, dân đông dân ít, được hưởng như nhau 12 hải lý (tính từ bờ, hay đường cơ bản) hải phận gọi là "lãnh hải" và 200 hải lý hải phận gọi là "kinh tế độc quyền".
Bộ Luật Quốc tế về Biển 1982 là "trật tự về biển" mà các nước trên thế giới đã ký kết và tuân thủ.
Phán quyết của Tòa PCA ngày 12/7 là việc giải thích luật, là "trật tự về biển", áp dụng cho Biển Đông.
Trung Quốc đã ký Công ước này. Bây giờ Trung Quốc tuyên bố không nhìn nhận thẩm quyền của Tòa (vốn được LHQ chỉ định) và cho biết sẽ không tuân thủ thi hành phán quyết này.
Ta thấy bóng dáng một "trật tự pháp lý mới", do Trung Quốc áp đặt. Theo đó "chủ quyền" không còn là đơn vị tối thượng và bình đẳng trong luật biển, mà "nước lớn" quyết định việc phân chia biển.
Vấn đề là các những "nước lớn" khác, đã khai sinh ra "trật tự pháp lý" cũ, có chấp nhận việc này hay không?


2-8
"Quyền lịch sử" và "chủ quyền lịch sử".
Hai thuật ngữ "chủ quyền lịch sử" và "quyền lịch sử" có ý nghĩa khác nhau.
"Chủ quyền" là quyền lực chủ tể, hay quyền lực tối thượng trong một cộng đồng dân sự, sinh sống trong một vùng lãnh thổ nhứt định (gọi là quốc gia). Chủ quyền còn bao hàm ý nghĩa "độc lập" và "tự chủ".
"Chủ quyền" là quyền lực chủ tể, do đó có thể ban phát ra "quyền", cũng như có thể truất bỏ "quyền". (Thí dụ quyền sở hữu đất đai. Trường hợp các nước cộng hòa không cộng sản, chủ quyền thuộc về Quốc Hội. QH có thể ban hành luật để truất hữu, hay ban phát, quyền sở hữu đất đai cho một người hay một nhóm người nào đó).
Chủ quyền lịch sử (trên một vùng lãnh thổ) có nghĩa là vùng đất đó đã thuộc về dân tộc đó từ thời xa xưa, không ai có thể phản bác hay thách thức "chủ quyền" này. Thí dụ Hà Nội, địa bàn sinh sống của dân Việt từ lâu đời. Dân VN có "chủ quyền lịch sử" tại vùng đất này. Đây là một sự thật không ai có thể phản bác.
Dầu vậy "chủ quyền lịch sử" (của một dân tộc trên một vùng lãnh thổ) có thể bị mất vào một quốc gia khác. Đây là trường hợp thường thấy ở các nước Phi Châu. Nhiều bộ tộc ở đây sinh sống tại khu vực đó, uống nước tại nguồn sông đó, săn bắn, chăn nuôi tại đồng cỏ đó... từ bao đời nay. Nhưng sau đó, vì một cuộc "phân định biên giới" giữa các thế lực thực dân, bộ tộc này bị mất vùng lãnh thổ đó vào một "quốc gia" khác.
Vì tranh dành quyền sống, chiến tranh có thể xảy ra. Bộ tộc (bị mất chủ quyền) lên tiếng đòi lại các quyền (săn bắn, chăn nuôi, sử dụng nguồn nước...) trước kia. Quyền đó gọi là "quyền lịch sử".
Bài viết sau đây của tôi đã đăng trên blog từ nhiều năm trước, sau đó nhuận sắc lại, nói về "quyền lịch sử của TQ ở Biển Đông". Đăng lại sau đây, để thấy rằng yêu sách "quyền lịch sử" của TQ ở Biển Đông là không có căn cứ, đúng như phán quyết 12-7 của tòa Trọng Tài La Haye (Hòa Lan) vừa rồi.
Quyền lịch sử nào của Trung Quốc tại biển Đông ?
Những tuyên bố chính thức của TQ về chủ quyền Biển Đông, lập luận thường xuyên được nhắc đi nhắc lại là : « TQ có chủ quyền bất khả tư nghị ở hai quần đảo Tây Sa và Nam Sa và vùng biển chung quanh ». Tây Sa và Nam Sa là Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Vùng biển chung quanh tức vùng biển được giới hạn bởi 9 đoạn có hình chữ U, gọi là « đường chữ U », chiếm đến 90% diện tích Biển Đông.
Trên mặt báo chí, truyền thông, văn từ chính thức… của TQ mới đây cũng đã tuyên bố như thế.
Về chủ quyền hai quần đảo Tây Sa và Nam Sa (tức Hoàng Sa và Trường Sa của VN), những lập luận của TQ dầu ngang ngược nhưng người ta có thể hiểu. Nhưng « vùng biển chung quanh », TQ đã sử dụng những lý lẽ nào để chứng minh, hay thuyết phục dư luận thế giới rằng nó thuộc « chủ quyền » của TQ ?.
Theo tinh thần Luật Quốc tế về Biển 1982 (UNCLOS), một quốc gia có danh nghĩa « chủ quyền » ở một vùng biển, nếu và chỉ nếu biển này thuộc nội hải của quốc gia đó. Trong vùng nội hải quốc gia có đầy đủ thẩm quyền như trên đất liền. Lấy thí dụ đảo Hải Nam, vùng biển chung quanh đảo này không hề thuộc « chủ quyền » của TQ, ngoại trừ vùng biển phía trong đường cơ bản. Từ đường cơ bản tính ra 12 hải lý là « lãnh hải », quốc gia có « chủ quyền » (tương đối) ở vùng trời, nước và đất trong vùng lãnh hải. Tương đối vì bị hạn chế do việc phải nhượng quyền « qua lại không gây hại » cho tàu bè các nước. Vùng biển có bề rộng 200 hải lý, tính từ đường cơ bản, gọi là vùng kinh tế độc quyền. Trong khu vực biển này quốc gia chỉ có « quyền chủ quyền » về kinh tế mà thôi.
Lập luận của TQ thường thấy các học giả dẫn ra để biện hộ cho yêu sách « chủ quyền » về « vùng biển đường chữ U » là « Quyền lịch sử - droit historique ».
Vấn đề là UNCLOS không nhìn nhận « quyền lịch sử » của bất kỳ quốc gia nào ở một vùng biển nào đó. Luật Biển 1958 có nhắc về « vịnh lịch sử », nhưng Biển Đông rộng lớn như thế không thể gọi là một « vịnh ». Một số trường hợp ngoại lệ, « vùng biển lịch sử » giữa VN và Kampuchia, được hai bên đồng thuận xác định chung quanh đảo Phú Quốc và bờ biển hai nước. Không nước nào phản đối vùng biển lịch sử này của VN và Kampuchia. Hình thể địa lý, biển này chỉ quan hệ giữa hai nước mà không có tàu bè nước ngoài vãng lai. Trong khi Biển Đông là một biển chung, có đến 7 nước bao bọc chung quanh. Nơi đây cũng là một hải đạo quan trọng, chiếm đến hơn 40% trọng lượng hàng hóa lưu thông trên thế giới. Biển Đông vì vậy còn mang yếu tố quốc tế.
TQ sẽ không bao giờ thuyết phục được quốc gia nào nhìn nhận lý lẽ « quyền lịch sử » của họ. Nhưng dầu vậy ta cần tìm hiểu nguyên nhân xuất phát (lịch sử) và hiệu quả pháp lý của « quyền lịch sử » để có thể phản biện được lập luận của TQ một cách hữu hiệu.
1/ Quyền lịch sử.
Thuật ngữ « quyền lịch sử » có lẽ lần đầu sử dụng tại một số nước Châu Phi sau khi Thế chiến thứ II chấm dứt. Nguyên nhân bắt nguồn từ hậu quả các cuộc phân định biên giới tự tiện nhằm phân chia vùng ảnh hưởng giữa các đế quốc thực dân như Anh, Pháp.
Lục địa Phi Châu, ngoại trừ một phần nhỏ vùng Cận và Trung Đông (biên giới giữa Ba Tư và đế quốc Ottoman được phân định từ năm 1639), biên giới tại đây hầu hết chỉ được phân định trong khoản thời gian ngắn ngũi từ năm 1885 đến năm 1914. Việc phân định này được hoạch định giữa đại diện các cường quốc trong phòng giấy, thế nào để thuận tiện cho việc phòng thủ quân sự, hay cho việc quản lý hành chánh thuộc địa của các bên, mà không để ý đến địa bàn sinh hoạt của các bộ lạc dân tộc sinh sống trong vùng. Đường biên giới vì thế phần nhiều là các đường thẳng như kinh tuyến, vĩ tuyến, đường theo sống núi, đường phân thủy, đường theo trung tuyến con sông… Hậu quả việc này làm cho nhiều bộ tộc bị phân chia làm hai, làm ba… ngăn cách nhau bằng một đường gạch vô hình gọi là đường biên giới. Nhiều bộ tộc lớn lại không có lãnh thổ, hay nhiều bộ tộc khác nhau, thậm chí thù nghịch với nhau, bị gộp lại chung sống trong một quốc gia. Nhiều nơi chính quyền quốc gia lại do một bộ tộc thiểu số lãnh đạo. Các việc này là đầu mối của các xung đột đẫm máu về lãnh thổ hay chủng tộc trong thế kỷ qua tại lục địa Châu Phi.
Biên giới này gọi là biên giới theo tinh thần Hội nghị Berlin (1884-1885). Đế quốc Anh phân định khoảng 27,5% tổng số chiều dài đường biên giới trên thế giới, trong khi đế quốc Pháp trên 17%. Biên giới này còn gọi là biên giới thuộc địa.
Sau Thế chiến Thứ II, các cường quốc Đức, Ý thua trận phải từ bỏ các thuộc địa của họ tại Châu Á, Châu Phi… theo như nội dung các Hòa ước Hòa bình năm 1948. Biên giới lục địa Châu Phi lần nữa lại xáo trộn. Biên giới được phân chia lại, lần này theo tinh thần mật ước « Yalta » tháng 2-1945. Đó là biên giới « ý thức hệ », nhằm phân chia thế giới thành hai cực « tư bản – cộng sản ».
Sau khi các nước Châu Phi được trả độc lập, đường biên giới do các cường quốc thực dân thành lập trước kia lại được « luật quốc tế » công nhận. Các cường quốc trên thế giới e ngại việc đặt lại đường biên giới sẽ làm bùng nổ một cuộc chiến khác : cuộc chiến giữa các chủng tộc, hay giữa hai nước thuộc địa cũ, nhằm tranh dành lãnh thổ. Nguyên tắc « uti possidetis » (bắt nguồn từ Nam Mỹ) trở thành tập quán quốc tế, được các Tòa án quốc tế áp dụng trong mọi trường hợp giải quyết tranh chấp biên giới. Ý nghĩa nguyên tắc này là « trước (khi độc lập) anh làm chủ nó thì bây giờ anh tiếp tục làm chủ nó ».
Nhưng, trong vài trường hợp, một dân tộc đã sinh sống, đã chăn nuôi trên đồng cỏ, uống nước ở nguồn nước, trên một vùng đất từ bao ngàn năm nay. Bây giờ họ bị ngăn cấm không được đến nơi đó, với lý do mà họ khó có thể chấp nhận, là đất đó nay thuộc về một quốc gia khác. Trong khi vùng « đất mới » dành cho họ lại không có đồng cỏ, nguồn nước nào để họ sinh sống. Họ sẽ sống bằng cái gì ? Những xung đột như thế đưa đến đổ máu. Các bộ tộc đó lên tiếng đòi lại « quyền » của họ : « quyền lịch sử ».
Thuật ngữ « quyền lịch sử » từ đó ra đời.
Nhưng đối với công pháp quốc tế, « quyền lịch sử » không được nhìn nhận như là một « quyền », hay một « lý thuyết pháp lý », để có bất kỳ một hiệu lực pháp lý nào.
Một số trường hợp tranh chấp lãnh thổ Tòa quốc tế phân xử sau đây, « quyền lịch sử » được một bên nhắc đến như không được chấp nhận.
Vụ xử tranh chấp biên giới Burkina-Faso – Mali (CIJ ngày 22-12-1986). Tranh chấp hai bên là chủ quyền các ao hồ và các đồng cỏ chăn nuôi. Lý lẽ của Burkina-Faso dựa lên « quyền lịch sử ». Từ ngàn đời dân chúng của quốc gia này đã sống trên vùng đất đó. Tòa bác lý lẽ « quyền lịch sử » của Burkina-Faso nhưng Tòa phân xử rằng vùng đất đó thuộc về Burkina-Faso vì lý do dựa lên nguyên tắc « effectivité », (chứ không do « quyền lịch sử »). Trước Tòa phía Burkina-Faso đã dẫn ra những chứng cứ chứng tỏ được các hành vi thể hiện thẩm quyền quốc gia (thuế má, cảnh sát, các thủ tục hành chánh…) tại các vùng đất đó.
Thí dụ khác, trong vụ xử tranh chấp giữa Ấn Độ và Pakistan, một vùng khoảng 10% vùng tranh chấp được xem thuộc Pakistan do « quyền lịch sử ». Tòa Trọng tài (PCA, 19-12-1968) quyết định giao khoảng 10% vùng tranh chấp này cho Pakistan, cũng lý do « effectivité ». Nhưng thực ra vùng đất này không thể giao cho Ấn Độ. Từ bao đời nay dân phía (Pakistan) đã sinh sống và khai thác ở đó. Nguyên tắc « uti possodetis » ở đây được tòa áp dụng nhưng có điều chỉnh khéo léo để tránh gây xung đột cho đôi bên.
Ta có thể nhắc trường hợp của VN với nhóm dân tộc thiểu số Khmer sống ở miền Nam hay chủ quyền của VN tại một số đảo trong vịnh Thái Lan. Theo nguyên tắc « uti possidetis », sau khi độc lập, lãnh thổ của VN là lãnh thổ do hành chánh thuộc địa Pháp để lại. Dầu vậy, một đảng chính trị Khmer, nhân danh « quyền lịch sử » lên tiếng đòi lại các lãnh thổ hay đòi tự trị khu « Khmer Khrom ». Mặc dầu, phía Thái Lan cũng có thể nhân danh « quyền lịch sử » như vậy để đòi lại các tỉnh phía hữu ngạn sông Cửu Long, bao gồm khoảng ½ diện tích nước Kampuchia.
Ta cũng có thể nhắc thí dụ tranh chấp giữa Bolivie và Chili về đòi hỏi một « hành lang ra biển » cho Bolivie. Nguyên nhân, khoảng một thế kỷ rưởi trước, vùng đất phía bắc Chili thuộc Bolivie. Nhưng nước này thua trận phải bỏ vùng đất này cho Chili, do đó mất phần đất giáp biển. Hiện nay Bolivie nhân danh « quyền lịch sử » để đòi Chili nhượng một hành lang để nước này có đường thông ra biển.
2/ Trung Quốc có quyền lịch sử ở biển Đông ?
Để biện hộ « quyền lịch sử » của TQ trên biển Đông, các học giả TQ thường nhắc đến các yếu tố : 1/ quan hệ thuợng quốc - chư hầu giữa VN và TQ. 2/ từ ngàn năm nay, ngư dân người Hoa vẫn đánh cá ở khu vực biển Đông. 3/ đường 9 đoạn chữ U, kế thừa từ chính phủ Trung Hoa Dân quốc. 4/ TQ có chủ quyền tại HS và TS do nội dung của hòa ước tháng 4-1952 ký kết với Nhật. Các học giả TQ cho rằng những sự kiện này chứng minh TQ có « quyền lịch sử » ở vùng biển này.
2.1 Do quan hệ thượng quốc – chư hầu giữa TQ và VN.
Trên phương diện pháp lý, quan hệ « thuợng quốc – chư hầu » giữa VN và TQ đã chấm dứt sauHiệp ước 15 tháng 3 năm 1874, còn gọi là hiệp ước « Hoà Bình và Liên Minh », ký kết giữa đại diện triều đình nhà Nguyễn với đại diện nước Pháp quốc. Điều 2 của Hiệp ước, phía VN đơn phương tuyên bố không còn thần phục TH nữa. Đến năm 1885, một Hiệp ước khác được ký giữa Pháp và nhà Thanh, còn gọi là Hiệp ước Thiên tân, nước TH chính thức từ bỏ quyền thượng quốc ở VN cho Pháp.
Về ý nghĩa của quan hệ « thuợng quốc – chư hầu », các học giả đương đại TQ thổi phồng quá lố về tính pháp lý của nó.
Lần đầu tiên phía Trung Hoa chính thức nhắc đến quan hệ « thuợng quốc – chư hầu » trước các cường quốc Tây Phương là ông Tăng Kỷ Trạch, đang nhiệm-sở ở St Péterbourg. Ông này nhân việc vua Tự Đức, sau khi đã ký hòa ước 1874 với Pháp, vẫn tiếp tục sai sứ triều cống, lên tiếng trước giới ngoại giao Tây Phương rằng hình thức « thượng quốc – chư hầu » giữa Trung Hoa và Việt Nam tương tự như hình thức bảo hộ (protectorat).
Việc so sánh này hoàn toàn sai. Trên thực tế, Trung Hoa chưa bao giờ có thể can thiệp trực tiếp hay ảnh hưởng vào nội bộ VN trong tất cả mọi lãnh vực, từ kinh tế, quân sự đến việc liên hệ ngoại giao với các nước khác. Việt Nam hành sử thực tế như một nước độc lập. Trong khi quan hệ "bảo hộ", phía bảo hộ có toàn quyền cai trị, từ pháp luật, kinh tế cho đến quân sự, ngoại giao...
Trên quan điểm công pháp quốc tế, việc triều cống (thể hiện quan hệ thuợng quốc – chư hầu) không nói lên được tính « effectivité », tức những hành vi hành sử quyền chủ tể của đế quốc trên vùng lãnh thổ của nước chư hầu.
2.2 Về lý do từ ngàn năm nay ngư dân người Hoa vẫn đánh cá ở khu vực biển Đông,
Các học giả TQ quên mất một điều là ngư dân các nước khác đồng thời cũng đánh cá ở đó. Vịn vào yếu tố này, phía TQ có thể « chơi dao hai lưỡi ». Vì nếu tính lùi thời gian, đâu phải lúc nào đất của TQ cũng mở rộng như vậy ? Trong khi lãnh thổ của VN có lúc mở ra giáp đến Phúc Kiến. Mặt khác, các vùng Nội Mông, Tây Tạng, Tân Cương... thậm chí Đài loan, hay các tỉnh Hoa Nam... đều có thể nhân danh « quyền lịch sử » để lên tiếng đòi độc lập. Nếu VN và các nước có tranh chấp với TQ, ủng hộ các đòi hỏi này thì TQ sẽ rất lúng túng.
2.3 Do kế thừa đường 9 đoạn chữ U do nhà nước Quốc Dân thành lập năm 1947.
Điều này có nhiều phần miễn cưỡng và thiếu minh bạch.
Nhà nước Quốc Dân đặt trên nền tảng lý thuyết Tam Dân của Tôn Dật Tiên, được thành hình qua 3 giai đoạn: giai đoạn một là giai đoạn quân quản (1925-1927), thời kỳ chinh phục lãnh thổ từ các lãnh chúa địa phương. Giai đoạn hai là giai đoạn giám hộ, là giai đoạn giáo dục người dân để chuẩn bị cho sinh hoạt dân chủ. Giai đoạn ba là giai đoạn hiến định. Giai đoạn Hiến định bắt đầu do bản Hiến pháp được thành lập tháng 12 năm 1946 và có hiệu lực năm sau, tháng 12 năm 1947.
Theo tài liệu từ nguồn văn khố Pháp quốc, bầu cử Quốc hội Trung Hoa Dân quốc được tổ chức, từ 21 đến 23 tháng 11 năm 1947, trong 32 tỉnh, huyện trên tổng số 47 (vì các nơi khác do cộng sản kiểm soát). Cứ 500.000 dân thì một đại biểu được bầu. Mặt khác, các thành phần dân tộc Mông, Tạng, Hồi hay các hội đại diện phụ nữ, các liên đoàn công nhân, các tổ chức nghề nghiệp, các dân tộc thiểu số cũng được ưu tiên có đại diện tại quốc hội. Riêng ở những vùng bị CS chiếm đóng, các đại biểu được chỉ định.
Báo chí phía CS của Mao Tạch Đông chỉ trích, cho rằng đây là cuộc bầu bán “giả tạo”.
Quốc hội nhóm họp ngày 29-3, nhân ngày kỹ niệm 72 liệt sĩ Hoàng Hoa Cương (Quảng Đông) năm 1911. Buổi họp này biểu lộ đúng như bản chất mà báo CS đã phê bình. Tranh chấp quyền hành đã biểu lộ ngay từ ngày đầu. Hai đảng Thanh Hoa (Jeune Chine) và đảng Dân chủ Xã hội đảng (social-démocrate) đã được bảo đảm mỗi đảng được dành cho một số ghế, nhưng các đảng viên Quốc Dân đảng ở địa phương lại không tuân theo chỉ thị, do đó sinh ra việc đại biểu đắc cử nhưng không được tham gia vào quốc hội. Các đảng kia do đó tố cáo « việc bầu cử không hợp pháp ».
Dầu vậy, quốc hội này cũng làm được một số công việc, trong đó có việc khẳng định « các quyền bất khả thời hiệu (droits imprescriptibles) của TQ tại Hoàng Sa ». Hoàn toàn không hề nhắc đến « bản đồ 9 đoạn chữ U » cũng như không hề đề cập đến chủ quyền quần đảo Trường sa ở phía nam.
Như thế nhà nước TQ ở Bắc Kinh hiện nay « kế thừa » bản đồ chữ U (và quần đảo TS) là kế thừa từ ai ?
Một số học giả cho rằng nguồn gốc bản đồ chín đoạn chữ U đến từ sáng kiến của một tư nhân.
Theo công pháp quốc tế, một nhà nước chỉ có thể kế thừa các hành vi thuộc về lãnh thổ từ một nhà nước tiền nhiệm, chứ không thể kế thừa từ một « sáng kiến » của tư nhân.
Về lý do theo nội dung Hòa ước Nhật-Hoa ngày 24-4-1952, hai quần đảo HS và TS đã được Nhật trả cho TQ.
Điều này hoàn toàn không đúng. (Xem thêm ở )
Hội nghị San Francisco được tổ chức một năm trước đó, 1951. Theo tinh thần Hòa ước này, Nhật tuyên bố từ bỏ các vùng đất đã chiếm, trong đó có HS và TS. Nhân dịp này, Thủ tướng VN là ông Trần Văn Hữu, long trọng tuyên bố thâu hồi hai quần đảo này về cho VN. Các nước hiện diện trong hội nghị không nước nào phản đối.
Năm sau, Nhật ký hòa ước với nhà nước TH Dân quốc. Ở thời điểm này Nhật đã từ bỏ HS và TS, phía VN đã tuyên bố thâu hồi, thì còn đâu mà giao lại cho TQ ? Nội dung hòa ước Nhật-Hoa chỉ nhắc lại nội dung của hòa ước San Francisco 1951, trong đó xác định Nhật phải từ bỏ vĩnh viễn chủ quyền ở Đài Loan, Bành Hồ, HS và TS nhưng không xác định là giao cho nước nào.
Các học giả Đài Loan cũng nại việc kế thừa và liên tục quốc gia để cho rằng HS và TS thuộc TQ.
Trước 1945, Nhật sát nhập TS vào Đài loan và cho một số lính gốc Đài loan canh giữ một số đảo. Nhưng người ta không thể kế thừa cái gì mà nhà nước tiền nhiệm đã từ bỏ. Nhật đã từ bỏ các đảo này theo tinh thần hòa ước San Francisco 1951.
Trong tranh chấp các đảo trong Hồng Hải giữa hai nước Yemen và Erythrée được tòa Trọng tài xử ngày 9-10-1998, phía Erythrée vịn vào lý do liên tục quốc gia. Trước kia chủ quyền các đảo thuộc về Ý, sau đó chuyển sang cho Ethiopie sau Thế chiến thứ II (Erythrée thuộc Liên bang Ethiopie từ năm 1962, đến năm 1993 thì tuyên bố độc lập). Nhưng tòa bác bỏ lý lẽ này, bởi vì nhà nước tiền nhiệm là Ý, chiếu theo hòa ước 1948 thì phải tuyên bố từ bỏ các lãnh thổ trong khu vực. Tòa cho rằng Erythrée không thể kế thừa cái mà nhà nước tiền nhiệp đã từ bỏ.
Như thế, những lý lẽ mà học giả TQ cố gắng dung để chứng minh « quyền lịch sử » của nước họ tại biển Đông là hoàn toàn phí lý, không thuyết phục. Trong khi trên quan điểm quốc tế công pháp, đã nói trên, quyền này không hề được thừa nhận.
3/ Kết luận : Hiện nay, căn bản pháp lý của phía TQ là dựa lên tuyên bố đơn phương 1958 của ông Phạm Văn Đồng cũng như các tài liệu sách báo, bản đồ v.v... của nhà nước VNDCCH sản xuất. Các tài liệu này minh thị và mặc thị công nhận hai quần đảo HS và TS thuộc TQ.
Nhưng những « bằng chứng » này không có hiệu lực pháp lý.
Một văn bản pháp lý (như tuyên bố đơn phương 1958 của ông Phạm Văn Đồng) chỉ có hiệu lực pháp lý khi nó không đi ngược lại các nguyên tắc pháp lý.
Tuyên bố 1958 của ông Đồng đã vi phạm nội dung Hiệp định Genève (khai sinh ra hai miền nam và bắc VN) ở khoản : VN là một nước độc lập, có chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ ba miền trung, nam, bắc. Khoản này được tái xác định theo Hiệp định Paris 1973. Tuyên bố 1958 (chỉ là ý kiến của một thành phần VN), có nội dung liên quan vấn đề lãnh thổ, hải phận quốc gia. Nếu nội dung văn bản đi ngược tinh thần hai hiệp định nền tảng, văn bản này không có hiệu lực pháp lý.
Các văn hóa phẩm, như các bài báo, bản đồ… xuất bản ở miền Bắc, trong khoản thời gian 1954-1975, cũng vậy. Nó không thể hiện ý nguyện toàn thể quốc dân Việt Nam. Nếu chúng đi ngược lại nội dung các văn kiện pháp lý nền tảng, chúng cũng đều không có giá trị pháp lý.


3-8

Phán quyết của Tòa CPA 12-7 đã "hạ thấp" giá trị của các "đảo" ở Trường Sa.
"Quần đảo" Trường Sa từ nay phải đổi tên là "quần thạch". Không có "đảo" nào ở TS có hiệu lực "đảo" theo Luật Biển. Điều này đã khiến cho cuộc chạy đua "mở rộng hải phận" ở Biển Đông chấm dứt. Dĩ nhiên với điều kiện TQ không thành công áp đặt một "bộ luật biển" mới, theo ý của họ.
Hiện nay nghe nói Phi đang "thương lượng" với TQ qua trung gian của HK. Phi và TQ thương lượng cái gì khi phán quyết của Tòa đã chỉ rõ mọi việc ?
Theo tôi, rất có khả năng Phi "trả" lại các đảo TS mà họ hiện đang chiếm đóng cho TQ. Đổi lại TQ sẽ "trả" bãi cạn Scarborough cho Phi.
Vấn đề là, VN, phía có quyền lợi bị trực tiếp ảnh hưởng do vụ "đi đêm" này.
Phản ứng của VN sẽ ra sao để khỏi bị TQ ăn hiếp, qua việc nước này tuyên bố bỏ tù dân đánh cá trong hải phận của họ, cũng như việc quân đội TQ làm áp lưc "chiến tranh nhân dân" ở Biển Đng với Tập Cận Bình.
Suy nghĩ cho kỹ, ta thấy lời hăm dọa của TQ là hướng về VN. Bởi vì VN chiếm nhiều đảo hơn cả ở TS. Mặt khác, TQ muốn quần đảo Hoàng Sa của họ là "quần đảo" chớ không phải quần thạch như TS.
TQ chuẩn bị "cô lập" VN, sau khi "đi đêm với Phi, để "đánh" cho VN sặc máu mũi ?

11-8
Vấn đề phá hoại "di sản quốc gia" (và thế giới).
Tháng tám đang nghỉ hè, lý ra không viết.
Hành vi dẫn đoàn tùy tùng rầm rộ vài chục chiếc xe đi vào khu phố cổ Hội An của ông Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc vừa qua đã được dư luận đánh giá là "vô ý thức", đã "vi phạm luật giao thông". Báo chí xứ Quảng hôm qua có bài viết "chửa cháy", cho rằng đoàn xe của ông Phúc vì có "cảnh sát hộ tống mở đường" do đó không vi phạm luật. Nhiều "trí thức xứ Quảng" cũng đồng thời lên tiếng qua nhiều hình thức nhằm bênh vực ông Phúc.
Theo tôi, hiển nhiên hành vi của ông Phúc, dẫn đoàn tùy tùng vài chục chiếc xe rầm rộ vào phố cổ Hội An, là vi phạm luật nghiêm trọng, vì đe dọa phá hoại di sản văn hóa (quốc gia và thế giới, theo danh sách UNESCO).
Phố cổ Hội An đã được xếp vào "di sản văn hóa quốc gia" từ năm 1985. Năm 2001 phố cổ được nâng lên thành "di sản văn hóa đặc biệt".
Theo Luật về Di sản Văn hóa 2001, tất cả những "di sản văn hóa" thuộc quyền sở hữu của toàn dân.
Điều này hiển nhiên nhìn nhận mọi người dân đều có trách nhiệm về di sản này.
Phố cổ Hội An được UNESCO ghi danh vào "di sản văn hóa thế giới" qua một số tiêu chuẩn, trong đó tiêu chuẩn "quản lý" và "bảo trì" là quan trọng hơn hết. Bởi vì kiến trúc nguyên thủy ở Phố cổ Hội An một phần làm bằng gỗ.
Tài liệu của UNECO đọc được trên mạng, cho biết toàn bộ số tiền thu được từ khách du lịch khu vực phố cổ Hội An sẽ đầu tư trực tiếp vào việc bảo trì. Một "kế hoạch quản lý" khu phố cổ cũng được nhà nước thành lập, như các bộ luật di sản văn hóa (2001), luật về du lịch (2005) hay các nghị địnhh về Hội An (1997)... Nhờ những hứa hẹn này mà Phố cổ Hội An được ghi danh vào danh sách "di sản thế giới".
Tấm hình chụp đoàn xe hoành tráng vài chục chiếc nghênh ngang trên con lộ của khu phố cổ cho thấy "kế hoạch quản lý" phố cổ của nhà nước VN có vấn đề. Tấm hình này có thể sẽ được dùng làm "bằng chứng" tố cáo sự vô trách nhiệm của lãnh đạo VN, từ khu vực cho đến thượng tầng.
Trên phương diện quốc gia, đoàn xe tùy tùng của ông Phúc đã vi phạm điều 13 và điều 72 của bộ Luật về "Di sản Văn hóa".
Với kiến trúc mỏng manh của khu phố cổ, hành vi dẫn đoàn xe vài chục chiếc vào khu phố cổ hiển nhiên đã gây nguy cơ hủy hoại di sản văn hóa (điều 13).
Thái độ của ông Phúc thiếu phục thiện, cũng như sự lên tiếng của bầu đoàn đệ tử ông Phúc nhằm phỉ báng và nhục mạ những người chỉ trích, khiến cho ông Phúc vi phạm trầm trọng điều 72 : lạm dụng chức vụ, quyền hạn để vi phạm Luật về di sản văn hóa.
Đối với UNESCO, hành vi của ông Phúc có thể khiến cho tổ chức này rút tên Hội An ra khỏi danh sách.
Đừng có nhầm lẫn rằng khi đã được ghi danh vào danh sách "di sản thế giới" của UNESCO là Hội An sẽ vĩnh viễn ở trong danh sách này. Lịch sử UNESCO cho thấy đã có nhiều địa điểm đã từng mệnh danh "di sản thế giới" đã bị rút khỏi danh sách, với lý do "thiếu bảo quản".

11-8
Tôi đi tìm mãi cả mấy tháng nay mà không thấy "Phật giáo ở đâu trong lòng dân tộc" ?
Vụ ô nhiễm biển ở miền Trung là một vấn đề trọng đại, gây hại không chỉ cho vài triệu dân miền Trung, mà còn gây hệ lụy cho cả dân tộc này, bây giờ và cho các thế hệ tương lai. Đây là một "vấn đề của dân tộc".
Ta thường nghe nói "Phật giáo sống trong lòng dân tộc".
Vậy thì người Phật giáo ở đâu, trí thức Phật giáo ở đâu, không lên tiếng khi luân thường đạo đức xã hội đảo lộn, khi dân tộc này bị đe dọa diệt vong ?
Tôi là người Phật giáo thuần hành. Cha, mẹ, ông cố tổ... đều là người Phật giáo. Anh em tôi ở VN hiện nay là những người thường xuyên đi chùa, cúng dường... chăm chỉ nhứt VN. Giòng họ nhà tôi không chỉ cúng Phật ở nhà, mà còn lập chùa, để mọi người có thể đến cúng bái Phật.
Vòng vo như vậy chỉ muốn nói một điều: tôi không phải là người kỳ thị đạo Phật. Tôi lên tiếng vì sự tồn vong của đạo Phật.
Vấn đề là, khi nói người Phật tử "sống trong lòng dân tộc", thì người Phật tử phải biết trăn trở, biết chia sẻ nỗi đau, nhục vinh của dân tộc.
Ông Hồ không biết khi nào được phong thành "bồ tát", tượng được đưa vào chùa, ngự chỉ ở dưới Phật. Đây là gì nếu không phải là một sự phỉ báng vào giáo lý nhà Phật, một nỗi nhục lớn lao của những người Phật tử VN ?
Phật tử VN có ai nói điều này chưa ? Trí thức Phật giáo có ai nói chưa ?
Báo chí trong nước, không đăng tin về chùa chiềng, tu sĩ thì thôi, mà hễ đăng thì toàn nói những chuyện bê tha, thế tục... của tu sĩ. Nhà chùa khi lên báo thì tình hình không khác nhà thổ.
Từ bao giờ Phật giáo VN lại bệ rạc, tu sĩ Phật giáo lại thế tục đến như vậy ? Người Phật tử nào đã lên tiếng về vấn đề này chưa ?
Bây giờ, đối diện vấn nạn ô nhiễm. Mới nghe nói sản phẩm hải sản của VN, như cá khô, tôm khô, mắm, nước mắm... của VN hiện đang bị cấm nhập vào thị trường nước Mỹ. Điều này đúng thì sản phẩm này sớm muộn cũng bị cấm ở các thị trường Châu Âu.
Thời gian qua báo chí đã cho biết tình trạng bi đát của ngư dân miền Trung. Các ngành nghề du lịch cũng chết đứng, chết ngồi. Nói chung là nhân dân cả nước đều bị liên lụy về hệ quả ô nhiễm biển.
Điều ghê rợn là đó chỉ là mới bắt đầu.
Trước những vấn đề của dân tộc như vậy, người Phật tử ở đâu trong "lòng" dân tộc ?

11-8
Tin tức um sùm vụ VN đưa hỏa tiễn EXTRA ra các đảo Trường Sa. Các học giả đua nhau "xủ quẻ" tiên đoán này kia khác nọ. Các "nước lớn" sẵn dịp lên tiếng. TQ thì đại khái "có chủ quyền bất khả tư nghị ở HS và TS, các nước khác chớ lạng qụang". Còn Mỹ thì yêu cầu "các bên tôn trọng Tuyên bố DOC tránh làm phức tạp tình hình".
Khổ cái là anh Mỹ giả mù dòm lờ, "tình hình" đã "phức tạp" từ khuya, lúc TQ bồi đắp, xây dựng các đảo nhân tạo, sau đó biến chúng thành các căn cứ không, hải quân.
Nay lại càng "phức tạp" hơn, vì TQ đã đưa máy bay chiến đấu ra đậu ở đó.
Vấn đề là VN mua mớ vũ khí này mua của Do Thái từ nhiều năm nay. Nghe tin tức báo chí Nga thì cả chục năm rồi không ít.
Không lẽ VN mua rồi để đó, lâu lâu lấy ra coi chơi ?
Dĩ nhiên là VN phải đặt các dàn hỏa tiễn này ở những nơi trọng yếu, nhạy cảm, cần thiết. Và VN cũng không ngu gì khai báo tao đặt dàn EXTRA này ở đây, giàn BASTION nọ ở kia. Đó gọi là "bí mật quốc phòng".
Đã mua từ mấy năm qua, đặt ở đâu, không nghe ai nói tới. Bỗng nhiên hôm nay tin tức rộ lên.
Như vậy mấu chốt của vấn đề là : ai đã tung tin (VN đặt hỏa tiễn ở TS) trong lúc này?
Biết được thủ phạm, ta sẽ biết tình hình sắp tới của Biển Đông diễn tiến ra sao.
Còn "học giả" VN, thấy coi bộ đang tung hứng, tự sướng với nhau, làm như "chiến thắng" pháp lý của Phi là do công lao của họ.
Đéo mẹ, chưa thấy quan tài chưa nhỏ lệ đâu tụi cưng.
Bọn TQ đâu có thúc thủ trước bản án của Tòa CPA ?
Tụi cưng làm thế nào để TQ tuân thủ bản án thì qua sẽ bái tụi cưng làm sư phụ.
Trong khi Phi đưa sứ giả để "đi đêm" với TQ đồng thời Mỹ "êm re", không nói gì về phán quyết của CPA.
Rõ ràng là các bên (ngoài VN) đều muốn có sự dàn xếp ổn thỏa giữa các bên, không bên nào muốn TQ mất mặt.
Giải pháp là gì ?
Có thể là Phi sẽ nhượng các đảo mà Phi đang chiếm đóng (của VN), ở ngoài vùng EEZ của Phi cho TQ. Đổi lại, TQ rút khỏi bãi Scarborough, bãi Cỏ Rong và bãi Vành Khăn.
Tranh chấp Trung-Phi "từ nay khép lại".
Còn lại là tranh chấp giữa VN và TQ về "chủ quyền các đảo". Mà tranh chấp này VN ra tòa cũng thua mà đánh trận cũng thua. Tức là thua cả hai mặt về pháp lý và quốc phòng.
Thua pháp lý vì VN có ra 100 cái công hàm sau này cũng không thể xóa bỏ hiệu quả của "tuyên bố đơn phương" 1958 của ông Đồng. Cũng như VN có vẽ 1 triệu cái bản đồ sau này cũng không làm thay đổi các bản đồ do VNDCCH ấn hành trong thời kỳ "chống Mỹ".
Còn quốc phòng, VN bắn chừng nào thì hết đạn ? Thì khi đó VN sẽ thua.
Tình hình thật là tình hình. Người nào tung tin VN đưa các giàn hỏa tiễn ra TS vào thời điểm "tế nhị" này là có ý đồ gì ?
Theo tôi là "không tốt". Vì đây là cái "cớ" để TQ đánh VN "sặc máu mũi".
VN chỉ có một con đường thắng là "pháp lý".
Sau vụ Phi thắng kiện tháng rồi, học giả VN tưởng là "xong chuyện", do đó bàn chuyện tung hứng lẫn nhau, tự sướng. Chưa được đâu tụi cưng.
Theo tôi, nếu vẫn không nỗ lực hóa giải công hàm 1958 của ông Đồng bằng phương pháp "hòa giải quốc gia", nhứt cử lưỡng tiện vừa kế thừa VNCH vừa hóa giải những "cái ngu" của lãnh đạo VNDCCH, thì VN chắc chắn sẽ thua trên mặt trận "chủ quyền". Đánh thua sớm mà đàm cũng thua, dầu chậm một chút.
Các đảo HS và TS sẽ bị mất cho TQ.
Tiện thể tôi cũng nhắc cho các học giả VN rằng, nền tảng của công pháp quốc tế là sự "đồng thuận giữa các quốc gia". Tức là, Luật Biển, hoặc phán quyết 12-7 là một chuyện, còn chuyện phân định biển giữa VN và TQ là chuyện khác (mà chuyện này cũng là "luật").
Vì vậy VN có thể mất cả vùng biển EEZ của mình cho TQ.

13-8
Mùa Olympic 2016 ở Rio chưa chấm dứt mà VN đã đoạt được hai huy chương. Không biết cho tới ngày cuối cùng, VN đoạt được thêm bao nhiêu cái nữa. Hiển nhiên thành quả đây là công lao của đảng.
Đoàn lực sĩ của VN có 50 người thì đảng đã gài vô 27 người để giám sát. Còn lại 23 người là lực sĩ.
Dĩ nhiên việc làm của đảng (luôn luôn) sáng suốt. Nếu không làm vậy (cho 27 CA kềm kẹp 23 người), chắc chắn 23 tên lực sĩ kia đã bỏ trốn ra ngoài tị nạn. Và khi chúng trốn hết thì còn ai ở lại thi đấu ? Không phải mấy mùa trước đã xảy ra như vậy hay sao? Vì vậy, hai huy chương vừa đoạt, công của đảng là phần lớn.
Lại vừa nghe dân nghèo Thanh Hóa than trời, "mùa đóng góp hãi hùng". Gia tài người ta chỉ có cái giường ngủ mà cũng bị "nhà nước" tịch thu, "xiết", tháo đem về xã vì dân không có tiền đóng phí.
Xem ra bọn dân nơi này "phản động". Vì chuyện "xiết giường" đâu có nhằm nhò gì. Đảng ta đã từng "xiết" cả 4 tấm ván hòm của người đang nằm chờ chết, vì nhà này chưa đóng tiền phí. Cái giường là chuyện lẻ tẻ.
Ở các xứ chó đẻ đang giẫy chết, bọn nhà nghèo luôn là gánh nặng của xã hội. Bọn này nhà nước phải chu cấp cho chúng từ cái ăn cho tới cái ở. Bọn chúng bày vẻ đủ trò trợ cấp. Có thứ trợ cấp gọi là trợ cấp gia đình, "allocation familiale". Nhà nào có con nhỏ là được hưởng trợ cấp này, bất kể giàu nghèo (có điều nghèo thì hưởng nhiều hơn). Còn tiền trợ cấp nhà xã hội cửa gọi là "allocation au logement". Người mua nhà, hay nhà nghèo... đều được trợ giúp. Người già thì có trợ cấp "allocation" cho người già. Người thất nghiệp thì có trợ cấp cho người thất nghiệp. Con nít thì có "allocation" chu cấp đi học cho tới đại học...
Mấy xứ giẫy chết ngu xuẩn này cứ lo o bế cho người nghèo, hèn chi người nghèo đầy dẫy xã hội. Càng "diệt nghèo" thì dân nghèo càng đông.
Nghĩ lại mới thấy đảng ta là siêu việt.
Các loại phí thu hàng năm được mang tên là "phí diệt nghèo". Càng nghèo thì ta càng tăng phí. Ai không có tiền đóng đủ thì ta thu thóc lúa. Không có thóc lúa thì ta "xiết", nhà có gì bưng đi được thì ta "xiết" cái đó. Ván hòm, giường... là các thứ dính liền với con người. "Xiết" những thứ này bọn chúng có cạp đất mà ăn thì cũng đem tiền đến chuộc.
Đảng ta siêu việt, càng nghèo thì phí đánh càng cao. Làm vậy thì không ai dám xưng "nghèo" nữa.
Bọn Tây ngu, không chịu qua VN để đảng ta truyền cho mấy cái bí quyết này để về diệt nghèo.
Có người lên tiếng than rằng thời này "sưu cao thế nặng" không thua chi thời thực dân, phong kiến.
Dĩ nhiên thằng nào nói câu này là thằng đó xạo ke. Làm như nó sống từ thời "thực dân, phong kiến" đến nay để "làm chứng".
Có điều là đảng ta không thể thua các "thế lực thực dân, phong kiến". Đảng ta đánh cho chúng sập tiệm, dĩ nhiên mọi mặt đảng ta "chơi trội" hơn bọn chúng.
Ngày xưa, nếu bọn thực dân phong kiến ăn trên đầu trên cổ người dân, để lại cho người dân mảnh đất cắm dùi, cái quần để bận, cái giường để ngủ, 4 tấm ván hòm để... chết ...
Thời nay đảng ta lấy đất, lột luôn cái quần, còn cái giường với 4 tấm ván hòm thì "xiết", khi nào chúng đóng xong "phí" thì trả.
Bọn "thực dân, phong kiến" có "đạo đức tiểu tư sản" thì đảng ta có "đạo đức cách mạng".
Cái nào hơn cái nào thì biết.

13-8
BBC (13-8-2015)
Nhìn lại Cách mạng tháng Tám
Theo sử liệu chính thức thì cuộc “Cách mạng tháng Tám” được khởi động từ 14-8-1945, sau quyết định của Đảng Cộng sản (CS) Đông Dương tại cuộc họp Tân Trào và chấm dứt ngày 30 tháng 8 sau khi vua Bảo Đại thoái vị giao ấn kiếm cho đại diện CS.
Như vậy cuộc “Cách mạng” được diễn ra trong bối cảnh miền Bắc vừa thoát khỏi nạn đói kinh hoàng với 2 triệu người chết và Đồng Minh vừa kết thúc cuộc Đại chiến Thế giới thứ II.
Cuộc cách mạng xảy ra “dưới sự lãnh đạo của đảng, 20 triệu nhân dân ta đã nhất tề vùng dậy khởi nghĩa dành lại chính quyền…”.
Việc “giành lại chính quyền” được các sử gia Việt Nam ví như là “cuộc chạy đua nước rút với quân đội Đồng Minh”.
Các bản Hiến pháp của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH) và sau này là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN), không ngoại lệ, đều ghi nhận sự thành công của cuộc cách mạng (tháng Tám) là nền tảng khai sinh ra nước VNDCCH.
Ngày 2 tháng 9 năm 1945 Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Nhưng nếu xét lại thì vấn đề không đơn thuần xảy ra như vậy.
Thế chiến thứ II tại châu Á kết thúc sau khi Nhật tuyên bố đầu hàng ngày 15-8-1945.
Theo một số qui định của phe thắng trận, Nhật phải :
“Từ bỏ chủ quyền tại các vùng lãnh thổ đã chiếm đóng trước đó.
Các chính quyền do Nhật dựng lên ở các nơi này thì không được nhìn nhận.
Trong thời gian chuyển tiếp, quân đội Nhật có trách nhiệm giữ trật tự trong lúc chờ đợi quân Đồng Minh đến giải giới.”
Những vùng lãnh thổ Nhật chiếm đóng này bao gồm Việt Nam.
Quyết định của quân Đồng Minh
Đồng Minh quyết định ra sao về các vùng lãnh thổ này? Trả lại độc lập hay tiếp tục chiếm đóng?
Một số vùng lãnh thổ bị Nhật chiếm đóng số phận đã được quyết định qua các Hội nghị Yalta và Cairo trong lúc chiến tranh như Mãn Châu, Đài Loan… thì trả cho Trung Hoa, Đại Hàn thì được độc lập. Một số được định đoạt hay tái xác định sau chiến tranh theo Hòa ước San Francisco 1951.
Riêng Việt Nam và nói chung là Đông Dương, không thấy nhắc đến vấn đề “trả độc lập” mà chỉ nói đến việc giải giới quân Nhật. Việc giải giới được lực lượng Đồng minh qui định: Quân đội Anh Quốc phụ trách vùng phía nam vĩ tuyến 16 và quân đội Trung Hoa phụ trách phía bắc vĩ tuyến 16.
Theo qui định này, ngày 9-9-1945 quân của Trung Hoa do Tiêu Văn và Lư Hán dẫn đầu có mặt tại Hà Nội. Tương tự, liên quân Anh-Pháp cũng có mặt ở miền Nam.
Ta thấy không hề có việc lực lượng cách mạng “chạy đua giành chính quyền” với quân đội Đồng Minh hay việc “20 triệu nhân dân ta nhất tề vùng dậy giành lại chính quyền” như các sử gia đã viết.
Theo sử liệu, lực lượng cách mạng đã đánh Nhật giành chính quyền. Trên thực tế không có “đánh đấm” gì cả.
Cuộc “Cách mạng” xảy ra sau ngày 15-8, tức lúc quân Nhật đã có lệnh bỏ súng đầu hàng. Thẩm quyền của Nhật tại Việt Nam ngay từ lúc đó đã chuyển sang lực lượng Đồng Minh. Quân Nhật không còn nắm chính quyền mà chỉ có trách nhiệm “giữ an ninh trật tự”.
Quân “Cách mạng” đâu để cướp hay giành cái mà Nhật đã không còn nữa?
Thực chất 'cuộc chạy đua giành chính quyền' là Việt Minh lợi dụng khoảng trống quyền lực sau khi Nhật đầu hàng để nắm lấy chính quyền, hy vọng đặt Đồng Minh vào sự đã rồi.
Nhưng điều này thất bại. Bởi vì khi Tiêu Văn và Lư Hán dẫn quân qua Việt Nam, dọc đường lực lượng này tước quyền hành của 'chính quyền cách mạng' và trao cho phe thân Trung Hoa. Vì vậy, cho dầu Việt Minh có thực sự cướp được chính quyền thì chính quyền này cũng đã bị Đồng Minh lấy lại.
Cũng không hề có việc 'lực lượng cách mạng' cướp chính quyền từ tay Bảo Đại (ngày 30-8-1945).
Quốc gia mang tên Đế Quốc Việt Nam do Bảo Đại lãnh đạo ra đời sau khi Nhật đảo chánh Pháp ngày 10/3 năm 1945.
Theo qui định của lực lượng Đồng Minh, phía thắng trận, tất cả những chính quyền do Nhật dựng lên (ở các vùng lãnh thổ chiếm đóng) đều không được nhìn nhận.
Về mặt pháp lý, Quốc gia Việt Nam của Bảo Đại không được quốc tế nhìn nhận mà điều này là cần thiết để một quốc gia 'hiện hữu' trên trường quốc tế.
Đế Quốc Việt Nam trên thực tế không có quân đội. Ngân sách là con số zero. Ngoại giao cũng không. Tất cả đều phải thông qua Nhật. Ông Bảo Đại hay chính phủ Thủ tướng Trần Trọng Kim không có bất kỳ thẩm quyền nào về lãnh thổ cũng như đối với người dân của mình.
Đế Quốc Việt Nam rõ ràng là một 'quốc gia bình phong'.
Thành quả cách mạng và Tuyên ngôn độc lập
Vậy thì 'lực lượng cách mạng' có thể cướp cái gì ở quốc gia này? Người ta đâu thể cướp cái mà người khác không có?
Còn việc “Hai mươi triệu nhân dân ta nhất tề vùng dậy” cũng chỉ là điều tưởng tượng.
Miền Bắc vừa thoát nạn đói vào tháng 5, với 2 triệu người chết. Ba tháng sau người dân có thể nổi dậy để giành cái ăn. Nói 20 triệu người 'nhất tề vùng dậy' là điều hoang đường, không thuyết phục được ai hết. Thực chất của Cách mạng Tháng Tám là vậy.
Còn Tuyên ngôn Độc lập ngày 2/9 của ông Hồ? Về thời điểm, ngày 2/9 được ông Hồ lựa chọn không hề do tình cờ mà là kết quả tính toán sâu xa.
Ngày 2/9 năm 1945 cũng là ngày đế quốc Nhật ký văn kiện đầu hàng Đồng Minh trên chiếc Chiến hạm USS Missouri của Mỹ đang neo trong vịnh Tokyo.
Về nội dung, bản Tuyên ngôn của ông Hồ dẫn nhiều ý tứ từ bản Tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ.
Từ hai chi tiết này, ta có thể cho rằng ông Hồ đã được sự gợi ý của các chuyên viên OSS, tiền thân của CIA Mỹ, lúc đó đang hoạt động cùng với Việt Nam trên vùng biên giới Việt -Trung.
Tuyên ngôn độc lập của ông Hồ, trên phương diện pháp lý cũng như trên thực tế, không thể hiện được một quốc gia Việt Nam độc lập.
Một số sử gia biện hộ rằng 'nền độc lập' của VNDCCH kế thừa từ quốc gia Đế quốc Việt Nam của Bảo Đại (tuyên bố độc lập ngày 12/3/1945).
Trên công pháp quốc tế lý lẽ này không thuyết phục. Như đã nói, Quốc gia Đế Quốc Việt Nam của Bảo Đại vừa không có thực quyền, vừa không được nước nào nhìn nhận, dĩ nhiên ngoại trừ Nhật. Nền độc lập (tức chủ quyền) của quốc gia gọi là “Đế quốc VN” do Nhật dựng lên là không hiện hữu.
VNDCCH làm thế nào kế thừa Đế quốc Việt Nam cái mà thực thể này không có?
Dầu vậy đó là điều may cho Việt Nam. Bởi vì, nếu Đế quốc Việt Nam của ông Bảo Đại là một quốc gia độc lập có chủ quyền thì Việt Nam sẽ bị Đồng Minh xếp vào loại quốc gia hợp tác với phát xít Nhật. Lúc đó Việt Nam sẽ bị đối xử như là quốc gia bại trận. Hệ quả thế nào không ai có thể lường được.
Trường hợp Nhật, quốc gia bại trận, bị đặt dưới sự quản lý của Mỹ cho đến sau Hòa ước 1951. Dầu vậy, lãnh thổ gọi là quần đảo Nam Tây (Nansei), bao gồm quần đảo Okinawa, tiếp tục đặt dưới sự quản lý của Mỹ cho đến đầu thập niên 70.
Hiệp ước Sơ bộ 6/3/1946
Nền 'độc lập' của nước VNDCCH sẽ rõ rệt hơn, chỉ vài tháng sau, lúc Hiệp ước Sơ Bộ 6-3-1946 được ký kết.
Điều ước quan trọng của Hiệp ước là Việt Minh và Pháp nhìn nhận VNDCCH như là một “état libre – tiểu bang tự do” thuộc Khối Đông dương, do ông Hồ lãnh đạo. Còn việc thống nhất “ba kỳ”, Pháp hứa sẽ nhìn nhận kết quả qua cuộc trưng cầu dân ý được tổ chức sau này.
Các sử gia VN cho rằng từ “etat libre” ghi trong hiệp ước có nghĩa thực sự như là “quốc gia tự do”. Chữ “état” nằm trong một liên bang (hay một “union - khối”) có nghĩa là “tiểu bang” chứ không phải là “quốc gia”. Các “état - tiểu bang”, như California (thuộc Hợp chúng quốc Mỹ) có quốc hội, ngân sách, chính quyền… riêng nhưng “chủ quyền” (tức quyền chủ tể) của nó lại thuộc về Liên Bang.
Từ kết quả hiệp ước sơ bộ ta thấy nền 'độc lập' của VNDCCH mà ông Hồ tuyên bố ngày 2/9 năm 1945 là không có thực chất.
VNDCCH chỉ là một vùng lãnh thổ, giới hạn ở Bắc Kỳ, thẩm quyền của ông Hồ thấp hơn Toàn Quyền Pháp. VNDCCH không phải là một 'quốc gia độc lập', có chủ quyền.
Dầu vậy đây cũng là điều may mắn. Cả hai bên ký kết đều xem hiệp ước này chỉ là thời đoạn, không có ý muốn tôn trọng. Ông Hồ ký kiệp ước vì muốn Trung Hoa rút đi. Còn Pháp ký hiệp ước vì muốn trở lại miền Bắc.
Giả sử hiệp ước được tôn trọng, chắc chắn Việt Nam sẽ bị chia làm hai (hoặc ba) quốc gia (và lãnh thổ) khác nhau. VNDCCH sẽ trở thành 'quốc gia' do ông Hồ lãnh đạo.
Miền Nam (Cochinchine) chắc chắn trở thành thuộc địa của Pháp (như Guyane, Réunion, Nouvelle Calédonie…).
Trong khi miền Trung (An Nam) có thể trở thành một quốc gia khác, do Bảo Đại hay một hậu duệ nào đó của nhà Nguyễn lãnh đạo.
Đây là một sai lầm lớn lao trong sự nghiệp chính trị của ông Hồ.
Sử gia Trần Trọng Kim phê bình đại khái rằng sai lầm của ông Hồ chỉ có thể sửa bằng xương máu. Quả nhiên đúng như vậy. Ông Hồ sửa sai bằng cách đưa cả nước vào cơn máu lửa.

14-8
Hôm qua đọc báo thấy con trai anh Ba Thánh hỏi các đại biểu HDND "ta đánh thuế để làm gì ?", nhân bàn cãi vụ có tăng học phí SVHS hay không. Một điểm son cho con trai anh Ba Thánh. Đà Nẵng lấy quyết định không tăng học phí. Gia đình có con em đi học từ nay mua thêm được bộ quần áo mới cho con, hay có thêm miếng thịt trong bữa cơm gia đình, là nhờ cậu cả anh Thanh.
Ở các xứ tư bản đang giẫy chết tiền thuế được xài ra sao, cậu cả anh Ba Thánh đã nói rành rọt.
Nhưng câu hỏi "ta đóng thuế để làm gì" cũng cần có câu trả lời "phụ lục". Bởi vì "ta" ở đây không giống ai. Chế độ "ta" là "xã hội chủ nghĩa", tức chế độ lo cho người nghèo, nhưng thực chất là chế độ của bọn tư bản lưu manh, ưu tiên cho bọn có tiền, có quyền bóc lột người nghèo đến tận xương tủy, tệ hại gấp trăm lần thời thực dân phong kiến.
Thời thực dân phong kiến người dân một cổ hai tròng: tròng thực dân và tròng vua quan địa phương. Sưu cao thuế nặng đánh trên tầng lớp người nông dân, chiếm phần lớn trong xã hội. Dầu vậy, người nông dân "trên răng dưới dế" cũng có mảnh đất cắm dùi và pháp luật dầu bất công nhưng cũng đủ che chở cho họ.
Thuế, từ xưa đến nay, từ đông sang tây, người ta chỉ đóng trên số "sản phẩm dư ra sau khi khấu trừ các khoản chi phí hợp lý".
Tức là, anh là nông dân, mỗi năm làm ra 3 tấn lúa. Gia đình anh ăn một tấn. Một tấn là "vốn đầu tư". Vậy thuế đóng là đóng trên 1 tấn lúa dư. Tỉ lệ % thuế có thể là vài phần trăm đến trên 50%. Ở các nước giẫy chết người ta qui ra thành tiền. Nếu số thu của anh thấp hơn số tối thiểu (để sống) thì anh được miễn thuế.
Khi chiếm được miền Nam, thực dân Pháp áp dụng chế độ thuế khóa như vậy, đồng thời cho đào kênh chằn chịt như bàn cờ khắp nơi để khai hoang. Ruộng đất bao la, giá ruộng bán rẻ như bèo, thậm chí bán chịu. Vô số người nông dân trở thành "phú nông".
Nhờ chủ trương nuôi gà cho mập để lấy trứng mà bọn thực dân có được tài chánh để mở mang hạ tầng cơ sở như đường xá, cầu cống, xây dựng và mở rộng thành phố... ở miền Nam (xài cho tới bây giờ)
Chủ trương của bọn thực dân là nuôi dân cho giàu lên, xây dựng hạ tầng cơ sở thuận lợi cho phát triển kinh tế. Sau đó mới tính chuyện "bóc lột".
Còn "ta" thì thu bất kể.
Có tên trong sổ hộ khẩu là phải đóng thuế. Các thứ "phí" ở địa phương thật ra cũng là các loại "thuế địa phương".
Vấn đề là người ta nghèo, làm ăn không ra gì cả, (hay bịnh hoạn chi phí bất tử), thì thuế (hay thu phí) trên căn bản nào ?
"Ta" thu phí không cần căn bản nào hết. Nghèo thu theo nghèo, sắp chết thu theo sắp chết. Vì vậy mới có chuyện "xiết" 4 tấm ván hòm của người đang nằm chờ chết hay "xiết" chiếc giường của người vô sản chính chuyên.
Hùm dữ không nỡ ăn thịt con nhưng người cộng sản VN đang ăn thịt những thành phần cộng sản cơ bản trong xã hội.
Nhưng đóng thuế để làm gì ?
Thời ông Ba Thánh, Đà Nẵng phát triển ra sao, thành phố xây cất ra sao... nhìn vào người ta biết tiền thuế để làm gì. Tôi thích anh Ba Thánh ở chỗ này.
Bây giờ không đánh thuế, không thu phí thì "ta" lấy gì "hoàn thuế" cho Formosa ?
Đó là câu trả lời "chính đáng", ta đánh thuế để làm gì.
Các câu trả lời "phụ lục", không đánh thuế, không thu phí thì lấy gì cho cán bộ đi xe Lexus, ở nhà biệt thự, ăn cơm nhà hàng, bao gái ?...
Vụ ông Nguyễn Xuân Phúc dẫn đoàn xe hành tráng vào khu phố cổ Hội An hôm trước, (phá hoại di sản quốc gia và quốc tế theo UNESCO), không biết là đi tham quan hay "áo gấm về làng", cũng là ở tiền thuế của dân.
"Ta" rất khác với bọn tư bản đang giẫy chết. Bọn tư bản giẫy hoài không thấy chết, mà thấy ngày càng thêm giàu.
Thuế, đối với bọn giẫy chết, là khí ốc xy, là dòng máu nuôi thân thể.
Còn "ta", "thuế" như con vật ký sinh, hút mọi sinh khí của người dân.
"Ta" ngữa nón đi xin tiền, hết chỗ này sang chỗ khác.
"Ta", có số ăn mày hay là "con giun, sống ký sinh trong lòng dân tộc" ?

15-8
Có nhiều ý kiến về ngày độc lập thực sự của VN. LS Lê Công Định (và một số tác giả khác) qua một số bài viết cho rằng VN độc lập vào ngày 12-3-1945, là ngày Bảo Đại trao bản "Tuyên bố độc lập" cho Đại sứ Toàn quyền Nhật tại VN là Yokohama.
Đối với những người cộng sản Việt thì ngày độc lập phải là ngày 2 tháng 9.
Theo tôi, lập luận của LS Lê Công Định (và nhiều tác giả khác) thiên về lịch sử biểu kiến và bỏ qua yếu tố pháp lý và thực tế. Còn lập luận của phía CSVN thì vừa không đúng với lịch sử, vừa không phù hợp với công pháp quốc tế.
Bài viết của tôi (công bố từ nhiều năm trước), lược giản lại, đăng ở đây nhằm đưa ra một cái nhìn khác về lịch sử.
Việt Nam thực sự “độc lập” ngày nào ?
Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tuyên bố độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945. Trước đó ông Bảo Đại đã trao Tuyên ngôn Độc lập cho ông Yokohama, Đại sứ Toàn quyền của Nhật tại Việt Nam, ngày 12 tháng 3 năm 1945.
Việt Nam thực sự “độc lập” ngày nào ? Để có thể trả lời chính xác, điều tiên quyết ta cần phải hiểu thế nào là “độc lập” ?
Độc lập, nghĩa thông thường là đứng một mình. Trong chính trị, từ “độc lập” thường được sử dụng trong trường hợp các quốc gia thoát khỏi ách “thực dân - colonie” hay “chư hầu – suzeraineté”. Quốc gia được gọi là “độc lập” khi quốc gia đó không còn bị ràng buộc chính trị từ một thế lực ngoại bang.
Trong quốc tế công pháp, “độc lập” được hiểu như là “có chủ quyền – souveraineté” (phán quyết của trọng tài Max Huber, CIJ về tranh chấp đảo Palmas 4-4-1928). Quốc gia có chủ quyền là quốc gia độc lập (không bị ảnh hưởng từ một nước nào khác) trong vấn đề bang giao với các quốc gia khác. Tức là trên phương diện công pháp quốc tế, “độc lập” luôn đi đôi (nếu không nói là đồng nghĩa) với “có chủ quyền”.
Cũng cần nói thêm về ý nghĩa của thuật từ "chủ quyền – souveraineté", bởi vì phần lớn người Việt lẫn lộn "chủ quyền" với "quyền sở hữu".
Từ "chủ quyền - souveraineté" bắt nguồn ở cuộc cách mạng Pháp 1789. “Chủ quyền” được định nghĩa như là một "thẩm quyền tối thuợng, tuyệt đối và vô điều kiện". “Quyền” ở đây là “quyền” của “quyền lực – pouvoir, power”, chứ không phải “quyền” của “droit, right” (như “quyền sở hữu”). Tức là "quyền lực tối thượng - chủ quyền" có thể ban bố ra "quyền sở hữu" cũng như "truất bỏ" quyền sở hữu.
Thời phong kiến "chủ quyền" thuộc về người lãnh đạo tối cao (vua). Trên nguyên tắc dân chủ, "chủ quyền" thuộc về nhân dân. Theo đó không một chủ thể bất kỳ, hay một cá nhân nào đó, có thể hành sử quyền hành mà không bắt nguồn một cách minh bạch từ nhân dân.
Tức là, điều kiện để một quốc gia độc lập (có chủ quyền) là: 1/ quyền lực quốc gia bao trùm lên toàn lãnh thổ quốc gia. Quyền lực này “tối thuợng”, có tính “độc quyền”, không chịu ảnh hưởng hay áp lực từ bất kỳ một quốc gia nào. 2/ Độc lập trong vấn đề bang giao với các nước khác, tức được các quốc gia khác nhìn nhận với tư cách là “quốc gia”.
Trong quốc tế công pháp, vào thời kỳ chuyển tiếp sau Thế chiến thứ II, người ta nhìn nhận tư cách pháp nhân “từng phần – partiel” của một quốc gia cựu thuộc địa chỉ trên vấn đề lãnh thổ.
Thí dụ, sau Thế chiến II, quần đảo Lưu Cầu của Nhật do Hoa Kỳ quản lý. Việc quản lý của Hoa Kỳ chỉ thuần túy ở mặt quân sự, còn về “chủ quyền lãnh thổ” vẫn thuộc về Nhật. Tức là người dân tại đây vẫn mang quốc tịch Nhật. Thí dụ khác, trong Hội nghị San Francisco 1951, Quốc Gia Việt Nam được tham gia với tư cách là một “quốc gia độc lập” có tuyên chiến với Nhật. Nhưng thật ra tư cách pháp nhân của “Quốc gia Việt Nam” vào thời điểm này chỉ độc lập từng phần, tức chỉ có “chủ quyền” về “lãnh thổ”, trong khi về quân sự và ngoại giao thì bị hạn chế do việc ảnh hưởng của Pháp.
Khi hiểu “độc lập” và “chủ quyền” như vậy, thì các tuyên bố độc lập của ông Bảo Đại ngày 12 tháng 3 năm 1945, hoặc của ông Hồ ngày 2 tháng 9 năm 1945, tuyên bố nào có giá trị pháp ý ?
Ngày 10 tháng 3 năm 1945 Nhật đảo chánh Pháp, chiếm Đông Dương. Đại diện Nhật Hoàng là ông Yokohama tiếp xúc với ông Bảo Đại đề nghị trả lại độc lập cho VN. Ngày 12 tháng 3 năm 1945 Bảo Đại trao bản tuyên ngôn độc lập cho ông Yokohama. (Bản Tuyên ngôn ký ngày 27 tháng giêng năm Bảo Đại thứ 20). Bảo Đại tuyên bố vô hiệu lực các hiệp ước bảo hộ (mà nhà Nguyễn) đã ký trước đây với Pháp. Quốc gia tên là « Đế Quốc Việt Nam » ra đời. Ngày 17-4-1945 chính phủ Trần Trọng Kim thành lập.
Câu hỏi đặt ra, Tuyên ngôn của Bảo Đại có thật sự là “tuyên ngôn độc lập”, với một nước VN thật sự độc lập ?
“Tuyên ngôn độc lập” của Bảo Đại, trên phương diện quốc tế công pháp, là một “tuyên bố đơn phương”. Tuyên bố này có giá trị pháp lý hay không tùy thuộc vào hai yếu tố :
a) Ông Bảo Đại có đầy đủ “quyền lực tối thuợng” (và độc quyền sử dụng quyền lực) trên toàn lãnh thổ Việt Nam hay không ?
Câu trả lời là không. Bởi vì phía thực sự nắm quyền lực là quân chiếm đóng Nhật.
b) Tuyên bố của Bảo Đại có được sự nhìn nhận của các quốc gia khác hay không ?.
Trên thực tế tuyên bố này chỉ có Nhật thừa nhận.
Việc nhìn nhận của Nhật không đủ để bảo kê cho VN độc lập (sau khi Nhật đầu hàng).
Bởi vì, theo các văn kiện của phe chiến thắng, tất cả các chính quyền do Nhật dựng lên (ở các thuộc địa của Nhật) đều không được nhìn nhận.
Việc này có thể gây thất vọng cho nhiều người. Nhưng nếu suy tính về lợi hại, ta thấy việc này có lợi cho VN.
Bởi vì, nếu quốc gia tên gọi “Đế quốc Việt Nam” của Bảo Đại được quốc tế nhìn nhận, thì quốc gia tên gọi "Đế quốc Việt Nam" sẽ bị xếp chung vào phe Trục (Nhật, Đức, Ý), trở thành các quốc gia thù nghịch với Đồng Minh.
Các quốc gia này sẽ bị đối xử như là các nước thua trận.
Tuyên ngôn độc lập của Bảo Đại vì vậy chỉ có ý nghĩa về biểu tượng, về lịch sử. Nó không có giá trị về pháp lý cũng trên thực tế. (Bảo Đại chưa bao giờ thể hiện quyền lực của mình trên toàn cõi quốc gia có tên là Đế quốc Việt Nam).
Còn tuyên ngôn ngày 2 tháng 9 của ông Hồ ?
Ngày 15 tháng 8 năm 1945, Nhật tuyên bố đầu hàng Đồng Minh. Việt Nam có một khoảng trống quyền lực. Thừa dịp, ngày 19 tháng 8 năm 1945 Mặt trận Việt Minh làm "cách mạng", lập chính phủ "lâm thời" tại Hà Nội. Ngày 25 tháng 8 Bảo Đại giao ấn, kiếm cho Trần Huy Liệu, đại diện Ủy ban giải phóng, tuyên bố thoái vị. Quốc gia gọi là "Đế Quốc Việt Nam" kết thúc và quốc gia "Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa" ra đời.
Ngày 2 tháng 9 năm 1945 ông Hồ đọc Tuyên ngôn Độc lập.
Có hai chi tiết thú vị về ngày 2 tháng 9 năm 1945.
Thứ nhất là thời điểm. Ngày 2 tháng 9 được chọn không hề do tình cờ mà là kết quả tính toán sâu xa của ông Hồ Chí Minh (và ban tham mưu, có lẽ là từ các viên chức OSS Hoa Kỳ mà ông Hồ có cộng tác). Bởi vì ngày 2 tháng 9 năm 1945 cũng là ngày đế quốc Nhật ký văn kiện đầu hàng Đồng Minh trên chiếc Thiết giáp hạm USS Missouri của Mỹ đang neo trong vịnh Tokyo. Thứ hai, nội dung bản Tuyên ngôn dẫn nhiều ý tứ từ bản Tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ.
Tuyên ngôn độc lập của ông Hồ, trên phương diện pháp lý cũng như trên thực tế, không thể hiện được một quốc gia Việt Nam độc lập.
VNDCCH không thế “kế thừa” quốc gia Đế quốc VN (khi nhận ấn kiếm từ Bảo Đại). Đơn giản vì "Đế Quốc Việt Nam" của Bảo Đại không phải là một "quốc gia có chủ quyền". Toàn bộ quyền lực quốc gia nằm trong tay Nhật. Bảo Đại chỉ là tấm bình phong. Trong khi về phương diện quốc tế, quốc gia này không được quốc gia nào nhìn nhận. Mặt khác, quyết định của Đồng Minh là tất cả chính quyền các nước thuộc địa của Nhật đều không được nhìn nhận.
Trên thực tế, "quyền lực" của Ông Hồ và chính phủ của ông, không hề thể hiện trên lãnh thổ Việt Nam.
Chính phủ VNDCCH cũng không được một chính phủ nào công nhận.
Quốc gia VNDCCH của ông Hồ còn một khuyết điểm lớn, đe dọa tính chính thống của ông Hồ và những người cộng tác.
Đó là sự hiện hữu của Hiệp ước Sơ bộ.
Ngày 6 tháng 3 1946, ông Hồ ký với Pháp một hiệp ước gọi là "hiệp ước sơ bộ". Theo đó Pháp công nhận VN là một nước "tự do" nằm trong Liên bang Đông dương và Liên hiệp Pháp.
Hiệp ước sơ bộ không hề nói một nước Việt Nam “độc lập” mà chỉ nói một nước "Việt Nam tự do" thuộc "Liên bang Đông dương" và khối "Liên hiệp Pháp".
Ông Hồ đã mặc nhiên chấp nhận "quốc gia" Việt Nam không bao gồm Nam Kỳ. "Quốc gia - Etat" này thực chất là một "tiểu bang - Etat", hay "xứ", nằm trong Liên bang Đông Dương, có qui chế pháp lý tương đương với xứ Bắc Kỳ.
VNDCCH chỉ được một số nước công nhận sau này. Chiến thắng Điện Biên Phủ thực tế khai sinh ra "quốc gia VNDCCH", vì được sự ủng hộ của cộng sản Trung Hoa cũng như các nơi khác trên thế giới.
Dầu vậy quốc gia VNDCCH của ông Hồ chỉ kiểm soát được phân nửa đất nước và phân nửa dân chúng. Tức thẩm quyền quốc gia về lãnh thổ của nước VNDCCH chỉ áp dụng cho ½ đất nước.
Việc này, theo công pháp quốc tế, chỉ thể hiện một quốc gia VNDCCH “chưa hoàn tất – partiel”.
Điều này có nghĩa là, sau khi chiến thắng Điện Biên Phủ 1954, VNDCCH vẫn không phải là một "quốc gia độc lập, có chủ quyền".
Trên quan điểm quốc tế công pháp, ngày thật sự độc lập của quốc gia Việt Nam là ngày mà thẩm quyền quốc gia được phủ trùm lên toàn lãnh thổ đất nước Việt Nam. Thẩm quyền này "độc quyền" và “tối thuợng”, được sự nhìn nhận của cộng đồng các nước trên thế giới.
Có thể đó là ngày ngày 8 tháng 3 năm 1949, ngày ký kết ước Elysée, Pháp trả Nam Kỳ lại cho VN đồng thời nhìn nhận một nước Việt Nam Độc lập và thống nhất.
Nội dung kết ước Elysée có nhiều điều cần bàn cãi, nhưng điểm chính là Pháp trả lại miền Nam cho VN (thay vì cho Kampuchia), đồng thời công nhận VN "độc lập" và "thống nhứt" ba miền Bắc, Trung, Nam.
Cũng có thể là ngày 30-4-1975. Ngày này có đủ các yếu tố để trở thành ngày độc lập: thẩm quyền quốc gia bao trùm trên toàn lãnh thổ. Thẩm quyền này “độc quyền” và “tối thuợng”. Thực thể CPLT MTGPMN chỉ là "bù nhìn", không có thực quyền.
Ngày “hiệp thuơng thống nhất đất nước” 21-11-1975 (hoặc ngày 3-7-1976 khai sinh nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam) cũng đều có thể là ngày độc lập thật sự. Từ những ngày này, quốc tế nhìn nhận VN là một nước độc lập, thống nhất và có chủ quyền toàn vẹn.

16-8
Hôm qua tôi có đăng lại bài viết "Việt Nam thực sự độc lập ngày nào" được người ta dán cho cái mũ "dư luận viên cao cấp". Điều này không hề làm tôi phiền lòng. Bởi vì quá khứ cũng đã xảy ra nhiều lần, phía chống cộng thì có người gọi tôi là "Việt cộng". Còn công an trong nước thì gọi tôi là "học giả chống cộng". Tệ hơn hết là có lần các "học giả nghiên cứu Biển Đông" gọi tôi là "Tàu".
Gọi tôi là gì tôi cũng bất cần. Vấn đề là mình nói đúng, không ai có thể phản biện được. Hơn nữa là mình nói vì quyền lợi của quốc gia, dân tộc.
Về ý kiến của những người cho rằng ngày 12-3-1945 là ngày Bảo Đại tuyên bố Việt Nam độc lập. Ý kiến này từ lâu là "chính sử". "Cách mạng tháng tám" đặt nền tảng lên việc "cướp chính quyền" từ Bảo Đại. Ý kiến này không đúng với thực tế lịch sử, còn đối với quyền lợi của dân tộc và đất nước thì "lợi bất cập hại".
Bởi vì, nếu tuyên ngôn độc lập của ông Bảo Đại 12-3-1945 có giá trị pháp lý. Tất cả các hiệp ước đã ký kết với Pháp không còn hiệu lực (caduc). Quốc gia gọi là "Đế quốc Việt Nam" là một quốc gia "độc lập, có chủ quyền". Vấn đề là "quốc gia" này chỉ tồn tại có vài tháng, sau đó "chủ quyền" chuyển sang cho VNDCCH của ông Hồ.
Hệ quả là gì?
Thứ nhứt, quốc gia tên gọi Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa của ông Hồ là một "quốc gia độc lập, có chủ quyền". Ấn và kiếm của Bảo Đại, hai vật tượng trưng cho "quyền lực chủ tể" của Bảo Đại, đã chuyển sang (hợp pháp) cho ông Hồ. Ông Hồ là kẻ "kế thừa" chính đáng. Ông Bảo đại trở thành "công dân danh dự của nước VNDCCH".
Đứng trên lập luận này thì Hiệp ước Elysée ký kết giữa Bảo Đại và Pháp năm 1949, Pháp cam kết trả lại 3 kỳ, nhìn nhận "Quốc Gia Việt Nam" là một quốc gia độc lập, sẽ không có giá trị pháp lý. Các quốc gia tên gọi Việt Nam Cộng Hòa sau này, kế thừa "Quốc gia VN", vì vậy cũng không chính đáng.
Đứng trên quan điểm này người CSVN gọi phe VNCH là "ngụy" thì đúng quá!
Thứ hai, đại diện "Quốc gia Việt Nam" là ông Trần Văn Hữu tham dự Hội nghị San Francisco 1951. Dịp này VN được Hoa Kỳ mời, với tư cách là một nước "độc lập có chủ quyền", có tuyên chiến với Nhật. Kết quả hội nghị, Nhật hứa bồi thường cho VN một số hiện kim (và các công trình xây dựng, như đập Đa Nhim). Nhân dịp này ông Hữu đã tuyên bố trước Hội nghị các quần đảo HS và TS thuộc về VN.
Đứng trên quan điểm "VN độc lập ngày 12-3-1945", thì việc VN tham dự Hội nghị San Francisco là vô nghĩa. Đó cũng là lập luận của phe cộng sản hiện nay.
Thứ ba, nếu VNDCCH là một quốc gia "độc lập, có chủ quyền", các tuyên bố của quốc gia này có giá trị pháp lý. Công hàm 1958 của ông Phạm Văn Đồng có giá trị ràng buộc. HS và TS là của Tàu. VN bây giờ vô phương đòi lại.
Trong khi trên thực tế lịch sử và dưới ánh sáng của công pháp quốc tế, tuyên ngôn độc lập của Bảo Đại là không có giá trị.
Có thể chính phủ Trần Trọng Kim đã làm một số việc hữu ích, ông Trần Trọng Kim là một người yêu nước, nhưng không vì vậy mà chính phủ của ông có "chính danh".
Tuyên bố của Bảo Đại vô hiệu lực các hiệp ước đã ký kết với Pháp trước kia là không áp dụng được. Bởi vì 4 năm sau, Hiệp ước Elysée, Pháp ký với Bảo Đại nhằm trả lại đất đai cho ông này. Nếu tuyên ngôn của Bảo Đại có hiệu lực thì làm sao Bảo Đại lại ký với Pháp hiệp ước Elysée để lấy lại đất ?
Theo tôi, như đã viết trong bài viết, ngày độc lập thực sự (đầu tiên, sau khi thuộc Pháp) của VN là ngày 8-3-1949, là ngày Bảo Đại ký hiệp ước Elysée, Pháp trả đất lại cho VN đồng thời nhìn nhận VN là một "quốc gia độc lập, có chú quyền".
Đứng trên lập luận này các nhà nước VNCH có chính danh, là "một bên" (bên kia là VNDCCH) của một quốc gia Việt Nam thống nhứt ba miền.
Đứng trên quan điểm này thì các tuyên bố về lãnh thổ của VNDCCH trước kia (như công hàm 1958) sẽ không có giá trị ràng buộc.
Một tuyên bố đơn phương chỉ có giá trị pháp lý khi nội dung của nó không đi ngược lại các nguyên tắc nền tảng của luật học.
Công hàm 1958 không có giá trị pháp lý vì nó đi ngược lại nội dung của các Hiệp ước Genève 1954 và Paris 1973 "VN là một nước độc lập, thống nhứt ba miền và bảo toàn lãnh thổ", là hai hiệp ước nền tảng phát sinh hai miền VN.

17-8
Phán quyết của Tòa trọng tài ngày 12-7 vừa qua không phải là "chấm dứt mọi chuyện", mà bắt đầu cho những chuyện khác quan trọng hơn. Đó là vấn đề "chủ quyền lãnh thổ". Việc này chắc chắn dẫn tới xung đột vũ trang.
VN chỉ có thể dựa vào tư thế "tự vệ chính đáng" khi (và chỉ khi) VN có (hay giữ) được danh nghĩa chủ quyền các đảo TS.
Công hàm 1958 của ông Phạm Văn Đồng đã đưa VN vào tư thế kém về pháp lý so với TQ: VN nhìn nhận chủ quyền của TQ tại HS và TS.
Dựa vào nội dung công hàm này TQ có thể tấn công để chiếm lại các đảo mà VN chiếm đóng, bất kỳ khi nào họ thấy chắc thắng.
Để có thể dựa vào tư thế "tự vệ chính đáng" (đơn phương hay đa phương), theo qui định của LHQ, VN bắt buộc phải hóa giải hiệu lực công hàm 1958. Mà việc này chỉ có thể thực hiện bằng việc "hòa giải quốc gia", nhìn nhận và kế thừa di sản của các thể chế tiền nhiệm "Quốc Gia VN" của Bảo Đại, đệ nhứt và đệ nhị VNCH, là những quốc gia kế thừa di sản nhà nước bảo hộ Pháp và các triều đại vương quyền VN. Những nhà nước dã khẳng định và sáp nhập HS và TS vào lãnh thổ VN theo các trình tự pháp lý quốc tế.
Thái độ của nhà cầm quyền VN hôm nay, vẫn xem các chế độ VNCH là "ngụy", cho thấy họ từ chối kế thừa di sản của các nhà nước tiền nhiệm.
Động thái đưa vũ khí (như giàn phóng rốc kết EXTRA) mà báo chí đồn đãi những ngày qua, ra các đảo TS cho thấy lãnh đạo VN chuẩn bị dùng vũ lực để đối đầu với TQ. Hành vi này đã không được Hoa Kỳ hoan nghênh. Tức là VN đã không có được quyền "tự vệ chính đáng", trong chừng mực, dưới mắt của Hoa Kỳ.
VN có phương pháp khác, hòa bình, để giữ vững lãnh thổ. Đó là thực thi biện pháp "hòa giải quốc gia". Việc này sẽ đem lại tai hại cho đảng CSVN, chứng minh rằng họ là một tập đoàn tay sai Nga Tàu, gây chiến tranh cho VN. Nhưng việc này sẽ đem lại tư thế chính thống chủ quyền cho VN tại HS và TS.
Lãnh đạo CSVN đã lựa chọn. Họ nhứt quyết đem xương máu VN chống Tàu, nhưng mục đích không phải để bảo vệ lãnh thổ, vì VN không thể thắng trước TQ trên mặt trận Biển Đông. Họ làm vậy chỉ vì thể diện của đảng CSVN.

18-8
Ông Bảo Đại thoái vị là do Việt Minh "ép", hay do "tự nguyện" ?
Những trang sau đây trích từ cuốn nhật ký của Bảo Đại : "Con rồng Việt Nam".
Bằng chứng cho thấy quyết định thoái vị của Bảo Đại là hoàn toàn tự nguyện.
Điều ghi nhận, thứ nhứt, đến khi đọc chiếu thoái vị, Bảo Đại vẫn không biết lực lượng mà mình sẽ giao quyền lực của "Đế quốc Việt Nam" là ai, có thực lực hay không ? Bảo Đại chỉ mới biết đến tên Hồ Chí Minh vào ngày tuyên bố thoái vị. Trước đó Bảo Đại cũng từ chối lời đề nghị "đi tránh" của một cận thần.
Đây có phải là thái độ hợp lý hay không ?
Nếu có đọc tập tài liệu ta cũng biết Bảo Đại từ chối được sự bảo vệ của quân Nhật, mặc dầu theo lệnh của Đồng Minh, quân Nhật có bổn phận giữ gìn trật tự ở VN cho tới khi quân Đông minh vào giải giới.
Thái độ này có hợp lý hay không ?
Ta cũng biết rằng những lá thư của Bảo Đại gởi cho các lãnh đạo Đồng minh (như TT Truman, De Gaulle, Tưởng Giới Thạch...) đều không được trả lời. Điều này dĩ nhiên, bởi vì, nếu ta có đọc các văn kiện của Đồng Minh về số phận các "thuộc địa" của Nhật, theo đó các chính phủ do Nhật dựng lên thì không được công nhận. Bảo Đại và "Đế quốc Việt Nam" do Nhật dựng lên, do đó nhà nước này đã không được nhìn nhận.
Bây giờ ta mới biết vì sao Bảo Đại quyết định thoái vị một cách vội vã, không chuẩn bị như vậy.
Yếu tố bị phe chiến thắng ngó lơ đã làm cho Bảo Đại lo sợ, cho số phận của mình và đất nước.
"Đế quốc VN" của Bảo Đại đứng trong hàng ngũ của Nhật, tức phe bại trận. Dĩ nhiên số phận của phía bại trận sẽ do phe chiến thắng quyến định.
Nếu so sánh với lãnh đạo Thái Lan đương thời, Bảo Đại có tầm nhìn rất thiển cận. Thái Lan là một nước "đồng minh" của Nhật, đứng trong khối "Đại đông Á" từ trước chiến tranh. Bảo Đại "noi gương" một lãnh đạo Thái, từ chức để giao quyền cho một người thân Mỹ. Vấn đề là ông này từ chức từ năm 1943, vì đánh hơi thấy được Nhật sẽ thua. Trong khi Bảo Đại thoái vị lúc Nhật đã thua.
Bảo Đại nhiều người cho rằng là "trí thức" vì "tây học".
Nhưng thực tế thì không như vậy. Nếu ông này chịu khó học hành, thay vì cờ bạc đỉ điếm, trong thời gian ở Pháp, thì VN đã không bi đát như vậy.
Lý ra Bảo Đại không nên chấp nhận cái bánh có thuốc độc là "nền độc lập" từ người Nhật. Bởi vì, Nhật sắp thua, cần quân lính, do đó "trả" VN cho Bảo Đại, với hy vọng Bảo Đại tổng động viên, lấy quân tiếp viện cho Nhật.
Bảo Đại cũng không thể giao sự nghiệp bốn trăm năm của nhà Nguyễn cho ông Hồ một cách không suy nghĩ như vậy. Không biết lực lượng của VM ra sao, không biết ông Hồ là ai, vậy mà cũng giao ngôi báu cùng sự nghiệp 200 của tổ tiên cho ông Hồ. Đúng là "giao trứng cho ác".
Sau khi đọc chiếu thoái vị và giao ấn kiếm ngày 25-8 cho đại diện VM là Trần Huy Liệu và Cù Huy Cận, ngày 29-8 một "chính phủ lâm thời" được thành lập do Hồ Chí Minh lãnh đạo. Đến ngày 2-9 thì ông Hồ đọc tuyên ngôn độc lập.
Nếu ngày tuyên bố độc lập của Bảo Đại "có thực chất", thì tuyên bố thoái vị của Bảo Đại cũng có giá trị. Điều này đưa đến việc hợp pháp hóa chính phủ lâm thời của ông Hồ. Ngày tuyên bố độc lập 2-9 của ông Hồ cũng có tính chính đáng, khai sinh ra VNDCCH.
Nếu vậy, các nhà nước VN sau này, như "Quốc gia VN" cũng của Bảo Đại, thành lập do Hiệp ước Elysée tháng 3-1949 là "không chính danh". Không chính danh tức là "ngụy", nếu gọi theo những người cộng sản. Và vì thế các nhà nước VNCH cũng đều là "ngụy".
Điều may là, đứng dưới ánh sáng của công pháp quốc tế, cái gọi là "Đế quốc VN" của ông Bảo Đại (do Nhật đở đẻ) thì không được quốc tế công nhận. Điều này đưa đến việc "chính phủ lâm thời VNDCCH" của ông Hồ cũng không được quốc tế công nhận.
Trong khi "Quốc gia VN" của Bảo Đại, khai sinh từ Hiệp ước Elysée 1949, được quốc tế công nhận. Quốc gia VN được nhiều tổ chức quốc tế thuộc LHQ chấp nhận là hội viên. Đại diện quốc gia VN tham dự Hội nghị San Francisco 1951, với tư cách là một bên có chiến tranh với Nhật.
Nhờ vậy các nhà nước VNCH sau này tránh được tiếng "ngụy".
Và nhờ vậy, chỉ đứng dưới quan điểm này, lãnh thổ VN mới được bảo toàn (gồm HS và TS) đồng thời cuộc chiến do VNDCCH phát động là một cuộc chiến phi nghĩa.
Phi nghĩa bởi vì VN có thể giành độc lập bằng con đường khác, không đổ máu.

20-8
Tiếng súng Yên bái và "Cách mạng tháng tám".
Qua vụ đảng viên CS bắn giết nhau ở Yên Bái, hầu như không một người nào trên facebook bày tỏ sự đau buồn, ngược lại, mọi người dường như hả hê vì "công lý đã được thực thi", mới thấy rằng hành vi thoái vị của ông Bảo Đại, giao quyền cho ông Hồ, tháng tám 1945, là một hành động của kẻ ngu phu. Cách mạng tháng tám lý ra không hiện hữu và chiến tranh VN lý ra cũng không xảy ra. Nguyên nhân đều do hành vi ngu xuẩn của Bảo Đại.
Việc ngăn cản Nhật giữ gìn trật tự an ninh theo lệnh của Đồng Minh, (với lý do do người đời sau này "dựng lên" là nhân từ, đạo đức) Bảo ĐẠi hiện hình là một kẻ thất phu nhu nhược, không phải là một đấng quân vương sáng suốt, có khả năng phán xét sự việc để có một hành động đúng. Giết một người, thậm chí ngàn người, nếu cứu được triệu người, cứu được giang sơn xả tắc, thì đấng quân vương, nếu phải thí mạng của mình, cũng phải làm.
Ông Bảo Đại, nói là học hành bên Tây, nhưng kiến thức không có gì. Bản chất của cộng sản là thế nào, ông này hoàn toàn mù tịt. Kiến thức về "trật tự quốc tế", tiền thân của "công pháp quốc tế", lập ra từ Hòa ước Westphalie 1648, ông cũng không có một khái niệm gì. ĐÂy là các kiến thức cơ bản phải có ở mọi đấng lãnh đạo quốc gia. Vì không biết, nên ông đã thoái vị, giao sự nghiệp 4 trăm năm của tổ tiên ông cho ông Hồ. Trong khi đó, cạnh tranh với thế lực cộng sản của ông Hồ, còn có nhiều tổ chức quốc gia, có thực lực.
Nếu hiểu biết về tập quán quốc tế, có chút ít kiến thức về tình hình quốc tế thời đó, ông Bảo Đại đã không thể ra tuyên ngôn độc lập, lại càng không thể cộng tác với Nhật đứng trong khối Đại Đông Á.
Nhật nhìn nhận độc lập của Bảo Đại, nhưng không trả lại Nam Kỳ. Điều này lại được ông Hồ khẳng định qua Hiệp ước Sơ Bộ. Nhật trả độc lập cho VN bao gồm luôn HS và TS. Nhưng chính phủ VNDCCH, kế thừa Bảo Đại, lại nhìn nhận các vùng lãnh thổ này thuộc TQ. Việc này mở ra vô số kẻ hở về pháp lý cho phía những người ủng hộ Bảo Đại và VNDCCH.
Sau này Bảo ĐẠi lại nhận lời Pháp, đứng ra lãnh đạo "Quốc Gia Việt Nam", từ tháng 4 năm 1949, mà đáng lẽ trọng trách này được giao hoàn thân Vĩnh San, tức vua Duy Tân. Tiếc là vua Duy Tân qua đời vì tai nạn máy bay (người ta cho là hiện hữu một âm mưu giết Duy Tân, vì ông này là người sáng suốt, cương nghị và có kiến thức hơn Bảo Đại).
Bảo Đại trở thành người thiếu lương thiện. Đã giao quyền lực "Đế quốc Việt Nam" tháng 8 năm 1945 cho ông Hồ rồi, thì lý do gì lại ra lãnh đạo "Quốc gia Việt Nam" tháng 4 năm 1949 để cạnh tranh với ông Hồ ?
Quốc gia VN chỉ có một. Quyền lực chủ tể (chủ quyền) của VN cũng chỉ có một. Đã giao cho ông Hồ "Đế quốc Việt Nam" rồi, thì "Quốc gia VN" của Bảo Đại sau này là quốc gia Việt Nam nào ?
Vì vậy phía CSVN gọi "quốc gia VN" của Bảo Đại là "ngụy". Các nhà nước VNCH sau này vì vậy cũng đều là "ngụy".
Nhưng nếu đứng dưới ánh sáng của công pháp quốc tế thì quốc gia gọi là "Đế quốc VN" của Bảo Đại thì không hợp pháp, không được quốc tế nhìn nhận. Tức là nhà nước VNDCCH dựng căn bản trên đó, cũng không chính danh.
Bởi vì "chủ quyền" của VN, sau khi Nhật đảo chính Pháp, thì lọt vào tay Nhật. Sau khi Nhật thua trận, "chủ quyền" này được giao cho Đồng minh, đại diện là Anh ở miền Nam và Trung Hoa (của Tưởng giới Thạch) ở miền Bắc. (Việc Nhật giao chủ quyền cho Bảo Đại là không hợp pháp). Sau đó hai đại diện nay lại giao trả lại cho Pháp. Hiệp ước Elysée 1949, Pháp trả lại độc lập (chủ quyền) lại cho VN, gồm cả Nam kỳ.
Thực thể "Quốc gia Việt Nam" ra đời hợp pháp, được sự nhìn nhận của nhiều quốc gia trên thế giới, đồng thời được gia nhập nhiều tổ chức quốc tế thuộc LHQ.
Trở ngại của quốc gia này là sự hiện diện của Bảo Đại. Sư hiện diện này khiến một số không ít các quốc gia trên thế giới xem Bảo ĐẠi là con cờ của Pháp. Phía CSVN vịn vào kẻ hở này trương ngọn cờ "giải phóng dân tộc".
Vấn đề là VN lúc đó không có gương mặt nào "sáng sủa", trong khi hoàng thân Vĩnh San (vua Duy Tân) thì chết vì tai nạn máy bay.
Bây giờ có lẽ mọi người thấy tiếc. Tại sao lúc đó Bảo ĐẠi không để cho quân Nhật làm phận sự của họ, "bắn" toàn bộ nhân sự cộng sản của ông Hồ, nhân dân và đất nước VN hôm nay đã không tả tơi như hôm nay.
Phía ủng hộ Bảo Đại cho rằng hành vi không nhờ Nhật (thực ra Bảo Đại ngăn cản quân Nhật) bảo vê an ninh, không "bắn vào nhân dân" là "nhân từ". Trong khi các hành vi đặt mìn, pháo kích bừa bãi vào trường học, chợ búa... lại được CSVN nhìn nhận là anh hùng, là hành vi anh hùng, phù hợp với "đạo đức cách mạng".
Ngôn từ rất dễ lật lọng, nhưng hành vi thể hiện ra rồi thì không thể "lật lọng".
Vì hành vi "nhân từ" của Bảo ĐẠi mà lực lượng của ông Hồ chiếm được 1/2 giang sơn. 40 năm sau phe ông Hồ "giải phóng" cả nước.
Hôm nay người ta "vui mừng" vì thấy đảng viên CSVN bắn giết nhau ở Yên Bái. Thái độ người ta sẽ ra sao, việc bắn giết không "lẻ tẻ", mà là một đoàn quân bảo vệ, được sự mua chuộc của một thế lực nào đó mà quyền lợi bị kẻ khác tước đoạt. Thí dụ, hội nghị TƯ đảng, chỉ cần một đoàn quân 100 người thiện chiến, toàn bộ lãnh đạo của CS sẽ bị tiêu diệt. Người ta lúc đó chắc vui mừng nhiều hơn.
Điều này cho thấy, vì cái "ngu" của Bảo Đại, mà VN hôm nay bị cai trị bởi một tập đoàn "nội xâm". Tập đoàn này bóc lột dân chúng, tàn ác với dân chúng... 100 lần hơn thời thực dân, Pháp thuộc. Ta thấy trường hợp tương tự, tại sao dân Hồng Kông lại muốn trở về thời lệ thuộc Anh ? Bởi vì chế độ cộng sản nào cũng áp bức, bất công, bóc lột, tước đoạt mọi quyền sống cơ bản của người dân.
Vì vậy ta mới hiểu vì sao, những vấn đề chủ quyền lãnh thổ lại bị người dân thờ ơ đến như vậy. Bởi vì, tâm lý người Việt hiện nay, nếu đất nước này bị một nước như Mỹ, hay Anh, Pháp... đặt ách thực dân, không chừng là giải pháp tốt nhứt. Bởi vì họ không cần phải tìm đường đi ra nước ngoài nữa. Tổ quốc, lãnh thổ, dân tộc... là những khái niệm nhạt phèo, không đem lại cho họ lợi ích gì. Ngược lại, dính líu tới là có thể bị tù tội.
Vấn đề "Bảo Đại" tuy rắc rối, nhưng nếu có một chút căn bản về luật pháp quốc tế, một chút kiến thức về lịch sử... mọi việc đều mình bạch.
Có người viết bài cho rằng những kẻ phản đối "Đế quốc VN" của Bảo Đại là Việt cộng. Tôi nghĩ rằng những người này cần đính chính lại ý kiến của mình.

21-8
Qua vụ "tiếng súng Yên Bái", thấy là VN không đi theo bất kỳ mô hình phát triển nào trong những hợp dẫn lại từ status ngày này năm ngoái.
Vụ đảng viên ở Yên Bái nổ súng thanh toán nhau, từ thượng tầng kiến trúc của xã hội, là dấu hiệu cho thấy VN đang rẽ qua một khuynh hướng cực kỳ nguy hiểm. Chế độ sụp đổ đã đành, mà việc này khiến cho quốc gia có thể bị phân liệt, dân tộc xâu xé, chém giết nhau. Đất nước nếu không phân rã cũng trở thành nhiều vùng lãnh thổ nhỏ.
Nguyên nhân là do cán bộ đảng "tranh quyền" và "tranh ăn".
Đứng dưới chiêu bài chống tham nhũng, cán bộ mới lên nắm quyền tìm cách chiếm đoạt tài sản, hay tìm cách loại trừ của những cán bộ vừa mất chức.
Việc sắp xếp nhân sự của đảng CSVN, không đến từ sự tuyển chọn dân chủ của người dân, lại không dựa trên một nguyên tắc bình đẳng, được pháp luật bảo đảm. Đây là hiện tượng "cá đối bằng đầu" về nhân sự trong đảng. Không ai phục ai. Ai cũng tài nông đức cạn như nhau. Người này lên là phải đạp lên đầu người khác. Các vụ Yên bái sẽ còn tiếp tục xảy ra trong tương lai.
Phương thuôc để chữa, là gì nếu không phải là một chế độ dân chủ pháp trị, đa nguyên chính trị ?

21-8
Hôm qua trong hộp thư email tôi có nhận một bản tin đến từ "Cộng hòa thời báo". Không biết nhóm chủ trương là ai? Bản tin "dặn dò" rằng ta "không nên vui trước sự kiện nổ súng ở Yên Bái".
Không biết "ban biên tập", hay "chủ nhiệm" của tờ "Cộng hòa thời báo" này có gởi lộn địa chỉ hay không ?
Ban biên tập CHTB thảo luận với ai đó về "chính trị", dẫn ý kiến của người này về chính trị như sau:
“Chính trị là nhẫn tâm và tàn ác... Nhưng ác là để giúp cho số đông dân chúng; Nếu để ra tay giết 1 người mà cứu 100 người khác thì người làm chính trị buộc phải thành kẻ ác...”
Sau đó lên lên tiếng "dạy dỗ" rằng:
"Đúng nghĩa người làm chính trị là người xây dựng các nguyên tắc để mọi người thông qua đó thương lượng tìm phương cách giải quyết vấn đề, để không ai bị đẩy đến đường phải chém giết lẫn nhau.
Người làm chính trị hướng tới việc xây dựng hiến pháp và luật pháp, xây dựng một thể chế thượng tôn pháp luật."
Điều mà "Cộng hòa thời báo" làm tôi "nhảy nhổm" là kết luận:
"Sự kiện xảy ra tại Yên Bái khuyến khích khuynh hướng sử dụng bạo lực."
Rõ ràng "ban biên tập" Cộng hòa thời báo gởi lầm địa chỉ.
Lá thư và lời dặn dò này nên gởi đến bộ chính trị đảng cộng sản VN thì đúng người, đúng nơi.
Chuyện đảng viên CS bắn giết nhau ở Yên bái, không biết nguyên nhân là gì, nhưng ai cũng hiểu nó đến từ mâu thuẩn về quyền lực giữa các đảng viên trong đảng. Chuyện bắn giết này giới hạn, về pháp lý và đạo đức, giữa các đảng viên với nhau, nhiều lắm là trong đảng CSVN. Đây tuyệt đối không phải là việc làm "chính trị".
Người ta bày tỏ sự vui mừng khi thấy các đảng viên bắn giết nhau là có lý do của họ. Những đảng viên bắn giết nhau ở Yên bái, nếu truy xét ngọn ngành, đều là tội phạm đầy trời. Chỉ tính ở tội tham nhũng, tất cả bọn họ đều có thể lãnh án tử hình. Nếu tính ở tội phá rừng (tức phá hoại của cải của đất nước) thì cũng tội chung thân. Ngoài ra, với quyền lực của một lãnh chúa, những người này đã hà hiếp dân chúng.
Vậy mà không thấy luật pháp nào trị tội họ.
Họ đã phải làm sao người dân mới vui mừng khi nghe tin họ chết.
Và "sự kiện Yên bái" không hề khuyến khích khuynh hướng sử dụng vũ lực" trong phạm vi dân chúng.
Dưới những áp bức đến mức phi nhân của cán bộ CSVN, như trường hợp Đoàn Văn Vươn, người dân chỉ làm súng "hoa cải" để tự bảo vệ của cải của mình. Trước nguy cơ bị cướp đất đai, trong khi pháp luật là pháp luật của kẻ mạnh, sự phản kháng của người dân hoàn toàn là tự vệ, không chủ ý làm chết người.
Và vô số chuyện áp bức khác, người dân nhiều lắm là "tự thiêu" để phản đối, để khỏi phải vô tù.
Nếu so sánh những việc ở các xứ Hồi giáo, những người dân đen, nan nhân cường hào đỏ, lý ra phải ôm bom cho nổ chết những đứa cường hào này.
Pháp luật không thực thi thì người dân sẽ sử dụng bạo lực để thiết lập lại công lý.
Nhưng người dân VN, cho dầu bị áp bức hết mực, vẫn không hề có một động thái cực đoan, bạo động nào chống lại.
Vì vậy sự kiện Yên bái, có thể khuyến khích bạo lực xảy ra trong nội bộ đảng CSVN, chớ không hề khuyến khích bạo lực trong dân chúng.
Và nếu sự việc này xảy ra trong nội bộ đảng CSVN, cũng không thể khuyên người dân không nên vui mừng.
Đảng CSVN lãnh đạo đất nước không bằng luật pháp mà bằng "ý chí" của họ. Khi đảng viên "không toại lòng nhau", không có luật pháp nào xét xử họ. Người dân bất lực bó tay. Họ tự xử với nhau, bằng súng, bằng thuốc độc, bằng chất phóng xạ... thì cũng là việc "nội bộ" của họ, không quan hệ gì đến "chính trị".
Và người dân vui mừng, thì cũng là do những đảng viên "làm sao người ta mới như vậy".
Môt ý kiến "ngoài lề". Người lãnh đạo thì phải biết cân nhắc để quyết định. Nếu quyết định sai, gây đổ vỡ chết chóc trong dân chúng, làm tổn hại đến quyền lợi của đât nước và dân tộc, thì trách nhiệm đó là trách nhiệm "chính trị" của cá nhân người lãnh đạo. Một quyết định nếu có làm chết vài trăm, vài ngàn người... mà nếu quyết định này đem lại an ninh cho vạn triệu người, đem lại phồn vinh, hạnh phúc cho dân tộc lâu dài... thì sẽ là một quyết định tốt. Hành vi (quyết định) chính trị không có cái "ác" hay cái "thiện" mà chỉ có cái đúng, cái sai, cái lợi cái hại. Đúng, sai, lợi, hai... đều phải lấy quyền lợi của dân tộc và đất nước làm tiêu chuẩn để phê phán.

21-8
Bàn tròn thứ năm của BBC kỳ này nói về thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, nhưng lại "thiên vị" chỉ mời dân xứ Quảng, những người đồng hương với thủ tướng Phúc.
Dân VN 90 triệu, ba miền, thủ tướng là thủ tướng của ba miền 90 triệu dân, chớ đâu phải thủ tướng của xứ Quảng, mà chỉ có 3 người dân Quảng đại diện.
Ngay từ dòng đâu của bài tóm lược (phóng viên Hồng Nga rất lợi hại chỉ ra rằng), các nhà trí thức khuyên "mong thủ tướng giữ tính cách Quảng".
Rõ ràng cái tựa đề rất lợi hại. Thái độ của 3 nhà trí thức xứ Quảng hết sức chủ quan, cục bộ, địa phương tính.
Tôi thì không thích cái phong cách "xứ Quảng" (nếu gọi đây là phong cách của xứ Quảng) của ông Phúc. Tôi không nghĩ cái "phong cách" này có thể đem lại lợi ích cho dân và đất nước. Mới mấy tháng làm thủ tướng, các hành động cũng đủ để thấy rõ của ông Phúc chỉ làm những chuyện vừa "tủn mủn", không phải việc của thủ tướng. Vừa vụng về để lộ cái dốt của mình (xin lỗi phải nói thật) theo lối "ma de in việt nam".
Không thấy có chuyện nào ông Phúc làm mang tính "chiến lược", tức là có tính toán, từ mọi mặt vi mô cho tới vĩ mô. Chuyện cán bộ bắn nhau chết ở Yên Bái, ông Phúc đến nơi quan sát, rõ ràng với tư cách của một đảng viên.
Không biết dân xứ Quảng có hãnh diện (như 3 nhà trí thức xứ Quảng) về ông Phúc hay không ?
Những lời phê bình của độc giả chung quanh buổi phỏng vấn, cho thấy 3 nhà trí thức coi bộ "cô đơn", không ai đồng tình hết.
Về lời xin lỗi của ông Phúc trong vị đoàn xe của ông đi vào khu vực thuộc di tích văn hóa (tầm quốc gia và quốc tế) Hội An. Cả ba nhà trí thức xứ Quảng đều cho rằng lời xin lỗi của thủ tướng là "chân thành", "đáng tin" và "chấp nhận được".
Thú thật với ba nhà trí thức, tôi tìm đỏ mắt không thấy đâu là "lời xin lỗi" của thủ tướng để mà có ý kiến.
Nếu gọi ý kiến của ông Phúc trong một bài diễn văn đọc ở đâu đó là "lời xin lỗi", thì rõ ràng "tính cách Quảng" có vấn đề.
Một người bình thường, khi thấy mình phạm lỗi và nếu có hành vi chuộc lỗi, thì cũng phải có lời xin lỗi đàng hoàng. Huống chi là thủ tướng.
Nếu đó là lời xin lỗi của ông Phúc gởi tới người dân, thì tôi là người dân, tôi không chấp nhận lời xin lỗi này. Cái cách xin lỗi cho thấy ông Phúc thiếu chân thành.
Mà thiếu yếu tố này thì làm sao "đáng tin" được?
Mà không phải chỉ có tôi, rất nhiều độc giả, thính giả khác đã có phản ứng tương tự.
"Chấp nhận được" lời xin lỗi của ông Phúc hay không, có lẽ các bậc thứ dân phải "huề cả làng" thôi. Họ phá nát cái đất nước này nát bét ra mà không ai làm gì được họ.
Vấn đề tổ chức UNESCO có chấp nhận hay không, là chuyện khác. Khu di tích Hội An đã được UNESCO ghi danh là "di sản văn hóa thế giới".
Không biết có ai gởi tấm hình đoàn xe "hoành tráng" của ông Phúc ở khu vực phố cổ Hội An lên UNESCO chưa ?

21-8
Mới hôm qua đọc trên Giáo Dục thấy TS Trần Công Trục khen ngợi "Philippines rút Biển Đông khỏi ASEAN là một hành động khôn ngoan". Chưa kịp lên tiếng hỏi (ông Trục) Phi khôn ngoan chỗ nào thì hôm nay đọc báo thấy Tổng Thống Phi, ông Duterte lên tiếng chê bai tổ chức LHQ và hăm dọa sẽ rút khỏi tổ chức này. Ông Duterte còn cho biết sẽ cùng TQ và các nước Phi Châu thành lập ra tổ chức mới.
Việc Phi sẽ không đưa vấn đề tranh chấp Biển Đông (bao gồm nội dung phán quyết ngày 12-7 của Tòa CPA) ra hội nghị ASEAN sẽ tổ chức tại Lào vào đầu tháng 9 tới, bởi vì Phi chủ trương đàm phán song phương với TQ.
Theo tôi, việc này Phi "khôn" thì cũng rất khôn, nhưng mà khôn lõi. Phía bị thiệt hại sẽ là VN và các nước có liên quan.
Phi đàm phán song phương với TQ trên cơ sở nội dung phán quyết 12-7 sao cho Phi được lợi tối đa. Thí dụ TQ trả lại Scarborough, bãi Cỏ Mây và bãi Vành khăn cho Phi. Sau đó Phi sẽ tuyên bố "xù" bản án, tức vô hiệu lực bản án. Khi phán quyết 12-7 vô hiệu lực, thì TQ muốn làm gì thì làm. Dĩ nhiên VN là phía bị ảnh hưởng nhiều hơn hết, vì mất đi những ưu điểm do bản phán quyết 12-7 đem lại.
Tức là đường chữ U vẫn tồn tại, nhưng bỏ mất phần lấn bên vùng biển của Phi.
Việc tuyên bố rút khỏi LHQ là bước đi đầu tiên. Nếu không còn trong tổ chức này thì Phi sẽ không còn ràng buộc bởi UNCLOS cũng như các Tòa án thành lập theo các phụ lục của UNCLOS.
Tôi không biết những tuyên bố "giựt gân" của tổng thống Duterte là "tuyên bố" có "suy nghĩ" trước hay chưa ? Bởi vì, những gì cam kết thoát ra từ cửa miệng của một vị tổng thống đều được xem là có hiệu lực pháp lý ràng buộc.
Vấn đề ma túy hoành hành ở Phi, cũng như nhiều nước khác trên thế giới, mỗi nước có biện pháp giải trừ "theo luật pháp của xứ họ".
Khung luật pháp của các quốc gia phải phù hợp với những nguyên tắc về nhân quyền đã được xác định qua các công ước về quyền con người. Các quốc gia, như Phi, có thể rút ra khỏi các công ước này để khi áp dụng luật gắt gao (như tử hình người phạm tội) không bị các tổ chức bảo vệ nhân quyền thuộc LHQ chỉ trích.
Vấn đề là ông Duterte xử theo "luật rừng". Hệ thống cảnh sát và tòa án ở Phi bất lực trước những hoành hành của nạn ma túy. Lỗi là do hệ thống pháp lý của Phi bất lực. Lỗi là do Duterte xử luật rừng chớ không theo luật quốc gia. Các cơ quan bản vệ nhân quyền LHQ chỉ trích là vì họ có thẩm quyền, đơn giản vì Phi đã ký vào các công ước bảo vệ nhân quyền.
Theo tôi, Duterte tuyên bố theo thói quen hay "nổ", nói những lời dao to búa lớn, những chuyện "động trời", lúc còn làm thị trưởng. Những lời tuyên bố của Duterte lúc đó chỉ có hiệu lực trong phạm vi quốc gia, người dân nghe sướng lỗ tai, nhưng vô hại. Bây giờ ở cương vị tổng thống, lời nói phát ra có thể ảnh hưởng ở tầm quốc tế.
Nhưng, Duterte chơi dao hai lưỡi. TQ cũng vì quyền lợi của họ. Họ sẽ mọi cách làm lợi cho quốc gia họ, ngay cả cách cởi trên đầu ông Duterte. Lúc đó không biết ông Duterte còn ở ngôi vị tổng thống nữa hay không để mà kêu trời.


22-8
Tòa án Hình sự quốc tế đang xử một vụ phá hoại di sản của nhân loại (Maussolées de Tombouctou). Thủ phạm nhận tội, đọc lời xin lỗi "chân thành" trước Tòa. Dù vậy, người này có thể bị tù từ 8 đến 10 năm. Đây là tình trạng "giảm khinh", nhẹ tội, thủ phạm thương lượng để hưởng điều kiện nay.
Còn vụ ông Phúc dẫn đoàn xe vào khu phố cổ Hội an, là "di sản văn hóa thế giới", tầm quan trọng không bằng, nhưng rõ ràng là "phạm tội".
Nghe nói ông Phúc "xin lỗi" dân Hội an. Không biết dân Quảng có ok, tha thứ cho ông hay không, là chuyện của "hội đồng hương xứ Quảng". Nhưng phố cổ Hội an là "di sản quốc gia", thuộc về tài sản của toàn dân; lại còn là "di sản của nhân loại". Lòi xin lỗi dân Hội an của ông Phúc, dĩ nhiên là không đủ.

22-8

Vì sao người dân có tâm trạng "hả hê" trong vụ đảng viên giết nhau ở Yên Bái ?
Theo tôi, tâm trạng hả hê của người dân là có thật. Đó là tâm lý "thù nhà được báo" được thể hiện ra bề mặt. "Thù nhà được báo", cách nói khác của "công lý được thiết lập", là văn hóa "nền tảng" không chỉ của đông phương mà còn cả nhân loại. Ở xã hội văn minh, "công lý" là cột trụ của các định chế pháp lý quốc gia và quốc tế.
Thử đọc một truyện kiếm hiệp TQ, thứ này lan truyền sâu rộng trong quần chúng VN, hầu hết các cốt truyện đều xoay quanh vấn đề "báo thù". Báo thù cho cha, cho sư phụ v.v... Tây phương thì có "vendetta", tức cũng "báo thù". Trong kinh thánh Do Thái cũng đã đề cập tới vấn đề "mắt trả mắt, răng trả răng", tức cũng "báo thù". Khi luật pháp quốc gia chưa thành hình, "báo thù" là phương cách của cá nhân để thiết lập lại "công lý".
Xã hội văn minh hơn, việc "báo thù - vendetta" ít thấy xảy ra trong xã hội. Nhưng nó vẫn xảy ra âm ỉ trong các xã hội "đen" mafia. Còn các đảng chính trị, họ có luật riêng của họ. Họ xử nhau theo kiểu "thanh toán, thủ tiêu"... Cốt lõi của mọi vấn đề vẫn là "thiết lập lại công lý".
Ở xã hội VN, có bao giờ công lý được thực thi hay chưa ?
Theo tôi là chưa. Nếu có thì cũng hai tốc độ khác nhau.
Thử xét trường hợp mới đây ở phố cổ Hội An, (di sản văn hóa quốc gia và thế giới), người dân nào dẫn đoàn xe hai chục chiếc vào đây thì phải "tả tơi như cái mền", vì bị pháp luật trừng trị. Trong khi ông thủ tướng đi vào thì không hề gì cả. Thí dụ khác, cướp 2 ổ bánh mì thủ phạm gỡ lịch mõi tay. Trong khi các bộ đảng viên thụt két, rút ruột xí nghiệp quốc gia, làm phá sản, gây ra hàng tỉ đô la tiền nợ. Nếu "đúng qui trình" thì hòa cả làng, người dân nai lưng trả nợ. Ta có thể kể ra hàng ngàn thí dụ về pháp lý hai tốc độ như vậy.
Trong khi các chính sách về đất đai của đảng hiện nay, hay các chính sách đánh tư sản, vụ "Nhân văn giai phẩm"... ngày trước, vô hình chung đảng viên nào cũng có một "món nợ" khó phai đối với nạn nhân (chiếm đại đa số trong xã hội). Món nợ này nặng như "nợ máu", hay nhẹ hơn, là tùy ở đối tượng.
Vụ đảng viên giết nhau ở Yên Bái, cốt lõi vấn đề vẫn là "thiết lập lại công lý". Công lý ở đây là theo cách nhìn của người trong cuộc. Hai anh kia "đã làm cái gì" nên mới bị anh nọ bắn.
Nhưng cái nhìn của người dân, nạn nhân của sộng sản, ba đảng viên bắn nhau chết, trong chừng mực "công lý được thiết lập".
Đảng CSVN vay nợ máu quá nhiều. Dân VN từ bi làm gốc, không chủ trương "vendetta" như các nước phương tây. Nhưng có dịp là họ cũng bày tỏ sự hả hê, khi mà họ cảm thấy "công lý được thiết lập".
Vấn đề "hòa giải quốc gia" lý ra là chính sách trọng tâm của mọi chính sách, để mọi uất ức trong lòng người dân được giải tỏa. Đảng CSVN vẫn dùng sức mạnh để đàn áp. Nợ lại chồng lên nợ. Mà nợ thì phải trả thôi.
Vấn đề là khi nào và trả nợ bằng cách nào?


23-8
BBC
Hơn một tháng sau khi Tòa Trọng tài Thường trực (La Haye, Hà Lan) ra phán quyết ngày 12/7/2016, những tranh chấp về cách diễn giải và áp dụng Luật Biển (UNCLOS) giữa Philippines và Trung Quốc tưởng rằng đã được Tòa làm sáng tỏ.
Ngày 21/8 vừa qua, Tổng thống Duterte của Philippines ra tuyên bố: "Philippines có thể rút ra khỏi Liên Hiệp Quốc".
Tuyên bố như một gáo nước lạnh, không chỉ gieo sự bất an cho toàn khu vực, mà còn đặt ra nhiều nghi vấn về tương lai Biển Đông.
Ông Duterte còn cho biết Philippines có thể sẽ cùng Trung Quốc và các nước Châu Phi lập một tổ chức "liên hiệp quốc" khác.
Để sang một bên nguyên nhân vì đâu ông Duterte lại có tuyên bố như vậy.
Bộ Luật Quốc tế về Biển 1982 (UNCLOS) cùng với nhiều công ước khác, cũng như Hiến chương LHQ, là những công ước nền tảng làm nên "trật tự pháp lý thế giới", từ sau Thế chiến Thứ II đến nay.
Có thể LHQ vẫn chưa thực hiện hết những tiêu chí về "hòa bình" của mình. Nhưng thử tưởng tượng, nếu không có "trật tự pháp lý" mà tổ chức này là một hình thức đại diện, chắc chắn nhân loại vẫn còn sống trong cảnh chiến tranh triền miên, mạnh được yếu thua, cá lớn nuốt cá bé.
Dĩ nhiên những quốc gia "nhỏ", nhiều tài nguyên với một vị trí chiến lược quan trọng, như Philippines, chắc chắn sẽ bị một đế quốc nào đó, có thể là Trung Quốc, Nhật hay Hoa Kỳ... chinh phục.
Nếu tuyên bố của Duterte được Quốc hội Philippines phê chuẩn, Philippines không còn là thành viên LHQ (và cùng Trung Quốc lập ra tổ chức đối lập khác). Mặc nhiên quốc gia Philippines không còn bị ràng buộc bởi các công ước nền tảng của tổ chức này. Các nguyên tắc hòa bình của Hiến chương LHQ, cũng như UNCLOS, sẽ vô hiệu lực.
Điều sẽ đến là Phán quyết 12/7 của Tòa Trọng tài cũng không còn hiệu lực áp dụng (cho Trung Quốc và Philippines).
Ta có thể suy diễn rằng nguyên nhân tuyên bố của tổng thống Duterte là dựa trên các báo cáo của sứ giả mà ông đã phái đi Hong Kong để tìm cách nối lại đối thoại với Bắc Kinh. Quan hệ hai bên bị "đông lạnh" sau khi Tòa PCA ra phán quyết ngày 12/7.
Ta thấy hình dáng một "plan B" của Bắc Kinh nhằm đối phó với phán quyết của Tòa PCA, mà TQ gọi là một "âm mưu chính trị" của Hoa Kỳ. Tuyên bố của Duterte cho thấy hai bên, Philippines và Trung Quốc, trong chừng mực đồng thuận về "plan B" này.
Manila-Bắc Kinh "đi đêm"?
Điều này có thể đã được khẳng định.
Mới hôm trước Tổng thống Duterte cho biết, trong kỳ họp thượng đỉnh ASEAN tổ chức ở Lào vào đầu tháng Chín tới, Philippines sẽ không đưa vấn đề liên quan Biển Đông vào hội nghị. Theo ông Duterte, nước này sẽ đối thoại song phương với Trung Quốc về những tranh chấp biển, đảo hiện đang tồn tại giữa hai bên.
Bàn cờ chiến lược ở Biển Đông có đặt lại hay không là do quyết định của Quốc hội Philippines về hiệu lực tuyên bố của ông Duterte.
Điều này chắc chắn làm cho sự suy nghĩ của lãnh đạo Việt Nam (và các học giả Việt Nam về Biển Đông) phải thay đổi để đối phó với tình thế.
Đối với Việt Nam, bên (tưởng là) hưởng lợi nhiều từ phán quyết của Tòa trọng tài ngày 12/7. Người ta nghĩ rằng phán quyết đã giúp cho Việt Nam giải quyết mọi chuyện.
Những thôi thúc của một bộ phận người dân yêu cầu đảng CSVN thực thi việc kế thừa danh nghĩa VNCH và các quốc gia tiền nhiệm như "Quốc gia Việt Nam" của Bảo Đại nhằm khẳng định chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa, từ nay có thể bỏ ngoài tai.
Cũng vậy, các yêu sách về "hòa giải quốc gia" cũng bị dẹp sang một bên.
Nhà nước CSVN cho rằng, khi mà các thực thể ở Trường Sa chỉ có hiệu lực của "đá", theo phán quyết Tòa Trọng tài 12/7, chỉ có lãnh hải tối đa 12 hải lý, thì Trung Quốc hay Việt Nam, bên nào có chủ quyền quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, vấn đề không còn quan trọng.
Tranh chấp Hoàng Sa và Trường Sa giữa Việt Nam và Trung Quốc bắt đầu từ cả trăm năm. Tranh chấp chỉ nổi sóng gió từ thập niên 70, sau khi các giàn khoan của VNCH cũng như của các nước trong khu vực, khám phá ra dầu hỏa dưới đáy Biển Đông.
Luật Biển 1982 càng làm cho tranh chấp này gay gắt thêm. Bởi vì, điều thứ 121 của bộ Luật qui định rằng một đảo cũng có hiệu lực 200 hải lý "vùng kinh tế độc quyền - EEZ". Tức là quốc gia có chủ quyền đảo được Luật này cho phép "độc quyền" khai thác tài nguyên trong cột nước, dưới mặt đáy biển và thềm lục địa của các đảo, trong khu vực 200 hải lý, tính từ đường cơ bản của đảo.
Trung Quốc, với căn bản pháp lý dựa trên những văn bản từ thế kỷ trước của VNDCCH nhìn nhận chủ quyền của Trung Quốc ở Hoàng Sa và Trường Sa, đưa ra yêu sách đường chữ U chín đoạn, chiếm gần hết Biển Đông.
Bắc Kinh dựa trên hai lý lẽ: 1/ quyền lịch sử và 2/ quyền thuộc chủ quyền (tức EEZ) sinh ra ở các đảo.
Phán quyết 12/7 thu hẹp đáng kể các yêu sách của Trung Quốc. Quyền lịch sử của Trung Quốc bị Tòa bác bỏ, trong khi các đảo Trường Sa thì không có cái nào thực sự là "đảo" để yêu sách vùng "kinh tế độc quyền".
Những tuyên bố vừa qua của Tổng thống Duterte, trong chừng mực, giới hạn hiệu lực của phán quyết 12/7 của Tòa PCA, đồng thời củng cố lại yêu sách đường chữ chín đoạn của Trung Quốc.
Những cuộc "đi đêm" với Bắc Kinh của sứ giả của ông Duterte, cho thấy Việt Nam không còn ở tư thế "ngư ông", hưởng lợi từ tranh chấp nghêu cò là Trung Quốc và Philippines. Hai nước này bắt tay, phía thiệt hại sẽ là Việt Nam.
Việt Nam phải làm lại từ đầu.
Để giữ chủ quyền cần hòa giải quốc gia
Tức là, đối với Việt Nam, chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa vẫn là vấn đề trọng tâm. Nếu không thuyết phục được dư luận quốc tế về danh nghĩa chủ quyền của mình ở Hoàng Sa và Trường Sa, Việt Nam sẽ ở vào một tư thế hết sức bất lợi. Hà Nội không thể vịn vào các điều ước của Hiến chương LHQ, áp dụng cho Trường Sa, về "quyền tự vệ chính đáng".
Tuần trước, báo chí quốc tế đăng tin rằng Việt Nam đã đem một số giàn rốc kết EXTRA, mua của Do Thái, ra đặt ở 5 đảo thuộc Trường Sa. Mặc dầu Bộ Ngoại giao Việt Nam phủ nhận việc này, nhưng một số học giả Việt Nam cho rằng Việt Nam có thể giành quyền "tự vệ chính đáng" để làm việc này. Việc Trung Quốc xây dựng các đảo nhân tạo ở Trường Sa, sau đó biến chúng thành các căn cứ quân sự cho không quân và hải quân, là một hành vi đe dọa cho an ninh Việt Nam.
Phản ứng của Trung Quốc trước việc này phải nói là gay gắt. Nhiều bài báo đăng tải các ý kiến yêu cầu Tập cận Bình "đánh cho Việt Nam sặc máu mũi". Trong khi Hoa Kỳ thì không hoan nghênh.
Điều này cho thấy, trong chừng mực, Hoa Kỳ không nhìn nhận lý do "tự vệ chính đáng" ở các học giả Việt Nam. Và thái độ này có thể giải thích.
Ta phải nhìn nhận rằng công hàm 1958 của ông Phạm Văn Đồng, cũng như một số tài liệu khác do VNDCCH phát hành, đã đưa Việt Nam vào tư thế kém về pháp lý so với Trung Quốc: Việt Nam nhìn nhận chủ quyền của Trung Quốc tại Hoàng Sa và Trường Sa.
Điều nguy hiểm là dựa vào nội dung các văn kiện này Trung Quốc có thể tấn công để chiếm lại các đảo mà Việt Nam chiếm đóng, bất kỳ khi nào họ thấy chắc thắng.
Trung Quốc và Philippines "đi đêm" với nhau, việc áp dụng phán quyết của Tòa PCA ngày 12/7 có thể sẽ không bao giờ được thực thi. Việt Nam sẽ bị cô lập. Mà khi toàn bộ các đảo Trường Sa thuộc về Trung Quốc, vùng "kinh tế độc quyền EEZ" của Việt Nam, sinh ra từ bờ biển của quốc gia, sẽ bị mất rất nhiều do "chồng lấn" EEZ của các đảo Trường Sa thuộc Trung Quốc.
Việt Nam không thể đi kiện Trung Quốc vì các vướng mắc pháp lý. Còn quyền "tự vệ chính đáng" thì bị nghi ngờ.
Như vậy, vấn đề khẳng định chủ quyền ở Trường Sa, chưa bao giờ trở thành việc quan trọng và cấp bách cho Việt Nam như hôm nay.
Việt Nam bắt buộc phải hóa giải hiệu lực pháp lý công hàm 1958 cũng như các tài liệu ủng hộ chủ quyền của Trung Quốc do VNDCCH phát hành. Mà việc này chỉ có thể thực hiện bằng việc nhìn nhận và kế thừa di sản các thể chế tiền nhiệm như "Quốc Gia VN" của Bảo Đại (sinh ra từ Hiệp ước Elysée 1949), hai nền đệ nhứt và đệ nhị VNCH, là những nhà nước này kế thừa di sản nhà nước bảo hộ Pháp và các triều đại vương quyền Việt Nam.
Những nhà nước này đã khẳng định và sáp nhập Hoàng Sa và Trường Sa vào lãnh thổ Việt Nam theo các trình tự pháp lý quốc tế.
Và khi đặt ra vấn đề kế thừa và muốn thể hiện nó, việc "hòa giải quốc gia" là bước đầu tiên.
Nhưng thái độ của nhà cầm quyền Việt Nam hôm nay, vẫn xem các chế độ VNCH là "ngụy", cho thấy họ từ chối kế thừa di sản của các nhà nước tiền nhiệm. Việc đặt vũ khí mới mua của Do Thái ở các đảo Trường Sa, cho thấy lãnh đạo CSVN đã lựa chọn sử dụng vũ lực để đối đầu với Trung Quốc.
Việt Nam có phương pháp khác, hòa bình, để giữ vững lãnh thổ. Bằng không thì cũng giành được tư thế "tự vệ chính đáng". Chỉ khi giành được tư thế này Việt Nam mới có hy vọng thắng trong chiến tranh, vì có sự hỗ trợ của Hoa Kỳ và dư luận thế giới.
Phương pháp đó là thực thi "hòa giải quốc gia".
Việc này có thể đem tai hại cho thanh danh đảng CSVN.
Hành vi hòa giải là nhìn nhận những sự thật về lịch sử. Mà điều này đặt lại hoàn toàn các "công lao" mà đảng CSVN cho rằng đã đóng góp cho đất nước.
Thanh danh của đảng CSVN đối với chủ quyền của quốc gia, cái nào nặng hơn, là sự lựa chọn của thành phần trí thức, học giả Việt Nam... Chỉ có lực lượng trí thức Việt Nam, khi ý thức được đâu là quyền lợi của đất nước, đồng loạt lên tiếng làm áp lực yêu cầu nhà nước CSVN thể hiện việc "hòa giải quốc gia", việc giữ toàn vẹn lãnh thổ mới hy vọng đạt được.

24-8
Con ngựa thành Troie
Từ nhiều thập niên nay, Campuchia trở thành cái "hàn nhiệt kế" đo độ "nóng lạnh" trong bang giao hai bên VN và TQ. Không tin, bà con thử để ý, lúc nào Campuchia "thọc vào sườn" VN nhiều thì lúc đó VN và TQ đang có hục hặc với nhau.
Bà con thử nhớ lại, chiến tranh biên giới tây nam. Những năm 1975 đến 1978 Khmer đỏ liên tục mở mặt trận (nhỏ) đánh phá VN, nguyên nhân bề mặt là vấn đề biên giới, mà bề trong là bang giao VN-TQ có sự chẳng lành, vì VN ngả về Liên Xô. Tháng 12 năm 1978 Khmer đỏ tập trung quân, dồn khoảng 80.000 quân đánh vào các tỉnh dọc biên giới Tây-Nam. VN "phản công tự vệ" thì tháng hai 1979 Đặng Tiểu Bình cho VN "một bài học". Rốt cục họ Đặng học bài học ra sao thì mọi người đều biết.
Bây giờ coi bộ Campuchia không có khuynh hướng sử dụng chiến tranh để "thọc sườn" VN nữa, mà sử dụng "ngoại giao ASEAN" cùng với "đất đai biên giới bị VN chiếm" để tấn công. Hành vi của Campuchia nhịp nhàng với hành vi của TQ.
Sau khi Tòa trọng tài Thường trực (La Haye, Hòa lan) ra phán quyết ngày 12-7, ta thấy thái độ "lồng lộn" của TQ ra sao trước quốc tế thì trong ASEAN, Campuchia cũng "lồng lộn" như vậy. Campuchia trở thành "con ngựa thành Troie" của TQ.
Trong khuôn khổ ASEAN thì Campuchia ngăn cản không cho các nước ra thông cáo đề cập tới vấn đề "Biển Đông", mặc dầu các nước Phi, Mã Lai, Brunei, VN... thành viên nòng cốt ASEAN, là các nước có tranh chấp với TQ. Trên thực tế, việc phân định biên giới VN và Campuchia luôn "nảy sinh vấn đề". Vụ mới đây nhứt là vụ Campuchia "tố" VN đào ao ở các vùng đất thuộc Campuchia. Không biết vụ này có hay không, nhưng rõ ràng mấy cái ao này không đáng để mà phía VN bỏ công. Điều (VN nên ghi nhận một cách thận trọng) là Hunsen cho di dân lên các vùng biên giới để sinh sống.
Rõ ràng chuyện "di dân" là một cái cớ. Khi hạ tầng cơ sở chưa xây xựng, việc di dân là "đem con bỏ chợ". Không ai tin ở việc "xây dựng đất nước, bảo vệ bờ cõi" của Hunsen. Người ta nghi ngờ Hunsen ngụy trang việc dồn quân lên biên giới.
Hôm trước Hunsen bày tỏ nỗi giân dữ của mình khi có người nào đó nói Hunsen "phản VN". Hunsen cho rằng VN không phải là "thầy" của y.
Không biết ai tên "Hiên" ở VN viết thế nào để Hunsen hiểu như vậy, (thật là không khéo léo chút nào).
VN và Campuchia là "bạn thân" với nhau, phải nói là bạn "tử sinh" mới đúng. Nếu không có VN đem quân can thiệp thì Khmer đỏ đã giết hết dân Campuchia rồi!
Hunsen không "phản thầy" mà rõ ràng là "phản bạn".
Hôm trước tôi có viết bài trên BBC nội dung cho rằng việc Campuchia ngăn cản ASEAN không đưa phán quyết của Tòa Trọng tài ngày 12-7 vào thông cáo chung, điều này sẽ tạo ra tiền lệ có hại cho tương lai Campuchia, một quốc gia nhỏ, còn hiện hữu được đến hôm nay là nhờ luật quốc tế bảo vệ. Campuchia, vì bênh vực TQ, chủ trương không tôn trọng phán quyết của Tòa quốc tế.
Tiền lệ nguy hiểm vì các nước khác, như Thái lan (ngay cả VN)... Thái lan có thể hủy bỏ những phán quyết trước kia của Tòa Công lý quốc tế để chiếm lại đền Preah Vihear. VN cũng có thể đặt lại toàn bộ vấn đề biên giới, bác bỏ bộ bản đồ (biên giới hiện trạng của Campuchia, do Sihanouk nộp lên LHQ), vẽ lại bản đồ khác có lợi cho VN.
Campuchia chủ trương không tôn trọng luật lệ quốc tế, thì lý do nào để phản đối các nước khác không tôn trọng luật lệ ?
Trở lại vấn đề hôm nay, ý kiến của tôi là việc Hunsen dồn dân ra biên giới Tây-Nam là điều nguy hiểm. Trong lúc Biển Đông đang căng thẳng, Campuchia ra sức phản bác việc đưa tranh chấp Biển Đông vào Hội nghị (tháng 9 sắp tới ở Lào), hành vi "dồn dân ra biên giới" là điều bất tường.

26-8
Đôi điều với GS Nguyễn Đình Cống và LS Lê Công Định về "Tuyên bố độc lập" 12-3-1945 của Bảo Đại.
Trong bài "Vài đánh giá nhầm trong Cách mạng Tháng tám", tác giả GS Nguyễn Đình Cống viết rằng: "theo nghiên cứu và công bố của một số sử gia độc lập thì Tuyên bố Việt Nam độc lập của Bảo Đại và Chính phủ Trần Trọng Kim có đủ cơ sở và giá trị pháp lý".
"Một số sử gia độc lập" đó là (những) ai và (các nghiên cứu đã được) công bố ở đâu ?
Câu hỏi này tôi có đặt ra trong phần "comments" trên facebook của GS Nguyễn Đình Cống. Đến nay vẫn không (chưa) thấy GS Nguyễn Đình Cống trả lời.
Tôi tự tìm câu trả lời trên Net. Thấy có một số bài viết về nội dung "tuyên ngôn độc lập". Đáng chú ý là bài "Ngày độc lập nào cho Việt Nam" của tác giả LS Lê Công Định, đăng trên BBC ngày 1-9-2014.
Với tất cả lòng kính trọng của tôi đến với quí vị tác giả, thực tình tôi không thấy lời giải thích nào ổn thỏa, cho rằng "tuyên bố độc lập của Bảo Đại là giá trị pháp lý".
Từ bài viết vắn tắt trên BBC, LS Lê Công Định cho rằng: "Với tư cách là một đại diện chính danh và hợp pháp của một chính quyền đã và đang cai trị đất nước liên tục từ năm 1802, vua Bảo Đại ngay lập tức tuyên cáo Việt Nam độc lập... Do đó, xét về phương diện thực tế và pháp lý, Việt Nam đã thực sự độc lập từ ngày 11/3/1945."
Theo tôi, ý kiến của LS Lê Công Định, "trên phương diện thực tế", là không phản ảnh hết bối cảnh lịch sử. Còn trên phương diện "pháp lý", là không đủ lý lẽ thuyết phục.
"Trên thực tế", nhà Nguyễn không "liên tục cai trị đất nước", nếu tính từ thời Gia Long 1802 cho tới khi Bảo Đại ra tuyên ngôn độc lập 12-3-1945.
Nam kỳ trở thành "nhượng địa" của Pháp từ năm 1867. Việc này xác định qua Hòa ước Giáp tuất 1874. Đến năm 1884, vương quốc của nhà Nguyễn, (bị Pháp chia ra) gồm Trung kỳ (Pháp đặt tên là An nam) và Bắc kỳ (Tonkin), tất cả trở thành đất bảo hộ của Pháp. Mọi phương diện quốc phòng, ngoại giao, thuế má... đều nằm trong tay Toàn quyền Pháp.
Nói là nhà Nguyễn "cai trị liên tục" từ 1802 (đến năm 1945) là không đúng.
Trên phương diện "pháp lý", các quan điểm luật học về "chủ quyền" hay sự "liên tục quốc gia", là các khái niệm khá mới mẻ, chỉ mới xuất hiện sau Thế chiến Thứ II, nhưng nó đã bắt nguồn sâu xa (từ hòa ước Westphalie 1648). Nếu đứng trên các quan điểm này (giả sử rằng ta có thể áp dụng), thì "quyền lực" của nhà Nguyễn sau 1884, vừa không thể hiện tính "độc quyền" (vì còn có sự hiện diện của đế quốc Pháp), vừa không "tối cao" (vì có thẩm quyền của Pháp cao hơn), lại vừa không bao trùm trên toàn lãnh thổ (vì Nam kỳ đã nhượng đứt cho Pháp).
Nếu vịn vào khái niệm "dân tộc tự quyết" (do tổng thống Mỹ Wilson đề nghị từ năm 1918, ở Hòa ước Versailles, mà các nhà yêu nước VN thời đó vịn vào để lập bản Yêu sách 8 điểm gởi đến nhà cầm quyền Pháp) thì tuyên bố độc lập của Bảo Đại cũng không có giá trị. Đơn giản vì hành vi của Bảo Đại thiếu yếu tố "dân tộc".
Như vậy, theo LS Định, căn bản "pháp lý" ở đây là đâu ? của phe nào ? của Nhật ? của Pháp ? hay của quốc tế ?
Nhật sau khi đảo chánh Pháp, đề nghị Bảo Đại "trả lại độc lập". Tuyên bố của Bảo Đại vì vậy có thể phù hợp với pháp luật của Nhật. Điều tiếc là Nhật, phía thua trận trong Thế chiến Thứ II, hoàn toàn mất mọi chủ quyền, ngay cả ở "đất mẹ". Theo qui định của phe chiến thắng (Đồng minh), tất cả các nhà nước do Nhật dựng lên ở các thuộc địa của Nhật đều không được nhìn nhận.
Vấn đề là VN có phải là "một thuộc địa của Nhật" hay không ? và nhà nước "Đế Quốc Việt Nam" của Bảo Đại, có phải do Nhật dựng lên hay không ?
Nếu có đọc hồi ký của Bảo Đại, hay hồi ký mang tên "Dọc đường gió bụi" của cụ Trần Trọng Kim, ta cũng thấy rằng những người trong cuộc, cả hai ông Bảo Đại và Trần Trọng Kim, đều nhìn nhận rằng nền độc lập mà Nhật trao trả chỉ là hình thức.
Hồi ký "Dọc đường gió bụi" của Trần Trọng Kim, có đoạn viết lại lời của Bảo Đại, lúc mời ông ra làm thủ tướng:
"Trước kia người mình chưa độc lập. Nay có cơ hội, tuy chưa phải độc lập hẳn, nhưng mình cũng phải tỏ ra có đủ tư cách để độc lập. Nếu không có chính phủ thì người Nhật bảo mình bất lực, tất họ lập cách cai trị theo thể lệ nhà binh rất hại cho nước ta. Vậy ông nên vì nghĩa vụ cố lập thành một chính phủ để lo việc nước."
Bảo Đại nhìn nhận VN "chưa độc lập hẵn" và quyết định lập chính phủ là lo sợ Nhật "cai trị theo thể lệ nhà binh".
Việc "chưa độc lập hẵn" tức là còn lệ thuộc.
VN lệ thuộc Nhật về cái gì ?
Thực tế cho thấy VN lệ thuộc Nhật về mọi mặt, không khác chi thời thuộc Pháp: quốc phòng, ngoại giao...
Tức là, về thực chất, nền "độc lập" của "Đế quốc Việt Nam" của Bảo Đại, không khác chi nhiều số phận của VN dưới thời Pháp thuộc.
Trên phương diện quốc tế, trước và sau khi Nhật đầu hàng, các nước Đồng minh chưa bao giờ công nhận "Đế quốc Việt Nam" của Bảo Đại. Điều này Bảo Đại thú nhận qua việc những lá thư mà ông này gởi lãnh đạo các nước Đồng minh như Mỹ, Anh, Pháp... Những lá thư này đều không được trả lời.
Một số các tác giả khác, vịn lý do Pháp đã không thi hành nội dung Hòa ước 1884, (không bảo vệ được VN trước việc Nhật gây hấn), do đó văn bản này không còn giá trị pháp lý. Bảo Đại dựa vào việc này tuyên bố độc lập. Tuyên bố của Bảo Đại vì vậy hợp pháp.
Lý lẽ này đã từng được Bảo Đại sử dụng để thuyết phục cụ Trần Trọng Kim ra lập chính phủ. Hồi ký "Dọc đường gió bụi" ghi lại lời của Bảo Đại như sau:
"Trước kia nước Pháp giữ quyền bảo hộ nước ta, nay đã không giữ được nước cho ta, để quân Nhật đánh đổ, vậy những điều trong hiệp ước năm 1884 không có hiệu quả nữa, nên Bộ thượng thư đã tuyên hủy hiệp ước ấy. Trẫm phải đứng vai chủ trương việc nước và lập chính phủ để đối phó mọi việc."
Khi Nhật "đảo chính" Pháp, giành lấy quyền lực của Pháp tại các xứ Đông dương. Đối với VN, Pháp đã không hoàn thành trách nhiệm đã cam kết trong Hòa ước 1884. Ta có thể nói rằng Hòa ước 1884 mất hiệu lực thi hành, lỗi do phía Pháp, vì vậy nó trở thành "caduc - vô hiệu lực".
Nhưng hòa ước 1884 vô hiệu lực là do hệ quả của việc Nhật đảo chánh Pháp, chớ không hề do "tuyên bố độc lập của Bảo Đại" (như một số người đã biện luận).
Điều cần xem xét là "tuyên bố độc lập" của Bảo Đại có hiệu lực pháp lý hay không ?
Tất cả những tuyên bố về độc lập hiện hữu ở VN, như tuyên bố của Bảo Đại 12-3-1945 hay tuyên ngôn độc lập 2-9-1945 của ông Hồ, đều là những tuyên bố đơn phương (về ý định). Hiệu lực pháp lý các tuyên bố độc lập (đơn phương) tùy thuộc hai điều kiện : 1/ có quốc gia nào "nhìn nhận" nền độc lập này không ? 2/ Phía ra tuyên bố có khả năng "ép buộc" các bên khác "nhìn nhận" nội dung tuyên bố hay không.
Thực tế cho thấy không có quốc gia nào (ngoài Nhật) nhìn nhận nền độc lập của Đế Quốc Việt Nam. Khi đế quốc Nhật sụp đổ, đế quốc của Bảo Đại sụp đổ theo. Bảo Đại thoái vị và giao chính quyền cho VM. Những việc này cho thấy Bảo Đại không có "khả năng" ép buộc các nước khác nhìn nhận tuyên bố của mình.
Tuyên bố độc lập của Bảo Đại vì vậy không có giá trị pháp lý. Điều này đưa đến hệ quả là nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - nhà nước kế thừa từ Đế Quốc VN (do việc đại diện VM nhận ấn và kiếm, biểu hiện quyền lực của Bảo Đại) của ông Hồ cũng không có căn bản pháp lý.
Tôi không biết, ngoài các lý lẽ này, còn có lý lẽ nào, của các sử gia, những nhà nghiên cứu nào (mà GS Nguyễn Đình Cống) đã tham khảo, cho rằng "Tuyên bố Việt Nam độc lập của Bảo Đại và Chính phủ Trần Trọng Kim có đủ cơ sở và giá trị pháp lý" ?

27-8
Bài góp ý hôm qua của tôi được GS Nguyễn Đình Cống trả lời. Vắn tắt như sau:
"Cám ơn vì bài viết có lập luận. Tôi đứng về phía dân tộc VN thấy rằng bảo Đại và Trần Trọng Kim là chính phủ hợp pháp và không hoàn toàn là bù nhìn của Nhật mà vẫn có lòng yêu nước."
GS Nguyễn Đình Cống đã không nhắc tới các "nghiên cứu và công bố của một số sử gia độc lập" nữa và cho rằng mình "đứng vê phía dân tộc" nên mới thấy sự việc như vậy.
Theo tôi, việc "đứng về phía dân tộc" không nói lên được điều gì.
Thực tế cho thấy cụm từ "đứng về phía dân tộc" thường xuyên bị người cộng sản lạm dụng trong hai cuộc chiến 45-54 và 54-75. Nhân danh "dân tộc", họ đã gây tội ác ngập trời. Cũng nhân danh dân tộc họ đã đưa đất nước liên tục vào chiến tranh, hết đánh Pháp rồi đánh Mỹ. Hết đánh Mỹ rồi đánh Tàu... Dân tộc bao nhiêu năm đổ máu trong chiến tranh. Hết chiến tranh thì quằn quại trong nghèo đói, u mê... trong khi những kẻ "nhân danh dân tộc", tức những người có thẻ đỏ, thì giàu có, phè phỡn... trở thành những "tài phiệt đỏ". Họ cướp đất của dân nghèo cũng nhân danh (quyền lợi của) "dân tộc". Họ đã và đang nhân danh "dân tộc" để bóc lột "dân tộc" đến tận da đầu...
Trong trường hợp GS Nguyễn Đình Cống, việc "đứng về phía dân tộc" không bảo đảm rằng cái nhìn của tác giả là "đúng". Nhứt là trong lãnh vực pháp lý. Bài góp ý vừa qua cho thấy việc này.
Việc này càng nguy hiểm, nếu ta xét hai trường hợp sau đây.
Trong vòng một thời gian ngắn, từ 1945 đến 1949, Việt Nam đã khai sinh ra hai "quốc gia": Một là "Đế Quốc Việt Nam" của Bảo Đại với chính phủ Trần Trọng Kim (tháng 3 năm 1945) sau khi Nhật đảo chánh Pháp. Hai là "Quốc gia Việt Nam" cũng của Bảo Đại, sinh ra từ Hiệp ước Elysée (tháng 4 năm 1949), Pháp trả lại Nam kỳ cho VN và nhìn nhận VN là một quốc gia độc lập, thống nhứt lãnh thổ.
Nguyên tắc quốc tế công pháp, "Quốc gia" VN chỉ có một. Quyền lực chủ tể (chủ quyền) của VN cũng chỉ có một.
Vậy thì trong hai "quốc gia" này phải có một cái là "chính", cái kia là "ngụy". Một cái "hợp pháp" và một cái "bất hợp pháp".
Theo cách nhìn của GS Nguyễn Đình Cống, hệ quả sẽ là :
"Đế quốc Việt Nam" do Nhật dựng lên là "chính". Còn "Quốc gia Việt Nam", Pháp trả độc lập cho VN theo Hiệp ước Elysée, là "ngụy".
Cách nhìn của GS Nguyễn Đình Cống về lịch sử hoàn toàn "ăn khớp" với các lập luận nền tảng của phía CSVN.
Theo các nguyên tắc quốc tế công pháp về liên tục và kế thừa quốc gia, Chính phủ VNDCCH của ông Hồ có tính chính thống, nếu Đế Quốc Việt Nam của Bảo Đại là nhà nước "chính thống".
Người cộng sản tuy không nhìn nhận việc "kế thừa" Bảo Đại, mà gọi là "cướp chính quyền". Thực tế cho thấy không hề có việc "cướp chính quyền" từ tay Bảo Đại.
Đại diện của VM đã nhận ấn và kiếm, biểu tượng quyền lực của Bảo Đại, một cách "hòa bình" ngày 25-8-1945.
Hệ quả : các nhà nước đệ nhứt và đệ nhị Việt Nam Cộng Hòa là các nhà nước tiếp nối "Quốc gia Việt Nam", là các nhà nước "ngụy".
Nguy hiểm khác đến từ cách nhìn về lịch sử của GS Nguyễn Đình Cống, là ảnh hưởng tiêu cực lên chủ quyền của VN tại HS và TS.
Nhật nhìn nhận độc lập của Bảo Đại, nhưng không trả lại Nam Kỳ. Điều này lại được ông Hồ khẳng định qua Hiệp ước Sơ Bộ. Nhật trả độc lập cho VN bao gồm luôn HS và TS. Nhưng chính phủ VNDCCH, kế thừa Bảo Đại, lại nhìn nhận các vùng lãnh thổ này thuộc TQ. Việc này mở ra vô số kẻ hở về pháp lý cho VN hôm nay, quốc gia tiếp nối VNDCCH.
Trong khi trên phương diện "quốc tế công pháp", quốc gia tên gọi là "Đế quốc Việt Nam" là không hợp pháp. Nhà nước này không quốc gia nào công nhận.
Cũng dưới ánh sáng của luật quốc tế, sự thành hình "Quốc Gia Việt Nam" theo Hiệp ước Elysée, là hợp pháp. Theo đó Pháp trả lại Nam kỳ cho VN (thay vì cho Sihanouk), đồng thời nhìn nhận VN thống thứt và độc lập. Quốc gia này được gia nhập nhiều tổ chức quốc tế thuộc LHQ (VNDCCH không được chấp nhận tham gia tổ chức nào) và được nhiều nước nhìn nhận. Sư kiện quan trọng là ông Trần Văn Hữu, đại diện "Quốc gia Việt Nam", nhân dịp tham dự Hội nghị San Francisco 1951, đã tuyên bố ý định thâu hồi HS và TS về cho VN. Điều này khẳng định chủ quyền của VN tại HS và TS. Các nhà nước VNCH kế thừa nền tảng này, tiếp nối khẳng định của quyền của VN ở HS và TS.
Việt Nam độc lập ngày nào ? Từ ngàn năm trước, tổ tiên người VN đã từng ra "tuyên ngôn độc lập" Nam quốc sơn hà Nam đế cư... rồi. Các sử gia VN sau này, muốn "hơn thua" với CSVN, muốn ngày độc lập của VN phải trước ngày 2-9 của ông Hồ, do đó chọn ông Bảo Đại. Rót cục kéo nhau sa vào cái bẫy "việt vị", nếu không nói là "tự bắn vào chân".
Vấn đề khác, các sử gia VN hầu như không ai biết ý nghĩa pháp lý của từ "độc lập" là gì. Đâu phải khi ra "tuyên bố độc lập" là tuyên bố tự động có giá trị pháp lý đâu ? Nếu dễ như vậy thì song song với nhà nước CSVN hôm nay, ta còn có rất nhiều các "chính phủ" khác (không tiện nhắc ra đây).
Đính kèm status hôm trước nói về "độc lập".
Độc lập, nghĩa thông thường là đứng một mình. Trong chính trị, từ “độc lập” thường được sử dụng trong trường hợp các quốc gia thoát khỏi ách “thực dân” hay “chư hầu – suzeraineté”. Quốc gia được gọi là “độc lập” khi quốc gia đó không còn bị ràng buộc chính trị từ một thế lực ngoại bang.
Trong quốc tế công pháp, “độc lập” được hiểu như là “có chủ quyền – souveraineté” (phán quyết của trọng tài Max Huber, CIJ về tranh chấp đảo Palmas 4-4-1928). Quốc gia có chủ quyền là quốc gia độc lập (không bị ảnh hưởng từ một nước nào khác) trong vấn đề bang giao với các quốc gia khác. Tức là trên phương diện công pháp quốc tế, “độc lập” luôn đi đôi (nếu không nói là đồng nghĩa) với “có chủ quyền”.
Cũng cần nói thêm về ý nghĩa của thuật từ "chủ quyền – souveraineté", bởi vì phần lớn người Việt lẫn lộn "chủ quyền" với "quyền sở hữu".
Từ "chủ quyền - souveraineté" bắt nguồn ở cuộc cách mạng Pháp 1789. “Chủ quyền” được định nghĩa như là một "thẩm quyền tối thuợng, tuyệt đối và vô điều kiện". “Quyền” ở đây là “quyền” của “quyền lực – pouvoir, power”, chứ không phải “quyền” của “droit, right” (như “quyền sở hữu”). Tức là "quyền lực tối thượng - chủ quyền" có thể ban bố ra "quyền sở hữu" cũng như "truất bỏ" quyền sở hữu.
Thời phong kiến "chủ quyền" thuộc về người lãnh đạo tối cao (vua). Trên nguyên tắc dân chủ, "chủ quyền" thuộc về nhân dân. Theo đó không một chủ thể bất kỳ, hay một cá nhân nào đó, có thể hành sử quyền hành mà không bắt nguồn một cách minh bạch từ nhân dân.
Tức là, điều kiện để một quốc gia độc lập (có chủ quyền) là: 1/ quyền lực quốc gia bao trùm lên toàn lãnh thổ quốc gia. Quyền lực này “tối thuợng”, có tính “độc quyền”, không chịu ảnh hưởng hay áp lực từ bất kỳ một quốc gia nào. 2/ Độc lập trong vấn đề bang giao với các nước khác, tức được các quốc gia khác nhìn nhận với tư cách là “quốc gia”.
Trong quốc tế công pháp, vào thời kỳ chuyển tiếp sau Thế chiến thứ II, người ta nhìn nhận tư cách pháp nhân “từng phần – partiel” của một quốc gia cựu thuộc địa chỉ trên vấn đề lãnh thổ.
Thí dụ, sau Thế chiến II, quần đảo Lưu Cầu của Nhật do Hoa Kỳ quản lý. Việc quản lý của Hoa Kỳ chỉ thuần túy ở mặt quân sự, còn về “chủ quyền lãnh thổ” vẫn thuộc về Nhật. Tức là người dân tại đây vẫn mang quốc tịch Nhật. Thí dụ khác, trong Hội nghị San Francisco 1951, Quốc Gia Việt Nam được tham gia với tư cách là một “quốc gia độc lập” có tuyên chiến với Nhật. Nhưng thật ra tư cách pháp nhân của “Quốc gia Việt Nam” vào thời điểm này chỉ độc lập từng phần, tức chỉ có “chủ quyền” về “lãnh thổ”, trong khi về quân sự và ngoại giao thì bị hạn chế do việc ảnh hưởng của Pháp.
Khi hiểu “độc lập” và “chủ quyền” như vậy, các tuyên bố độc lập của ông Bảo Đại ngày 12 tháng 3 năm 1945, hoặc của ông Hồ ngày 2 tháng 9 năm 1945, không có tuyên bố nào có giá trị pháp lý.

27-8
Theo tôi, nên dẹp bỏ ngày "độc lập 2 tháng 9".
Lý do?
Vì nó vừa không đúng với thực tế lịch sử, vừa dư thừa, lại vừa gây chia rẽ dân tộc.
Một quốc gia, một dân tộc chỉ cần một bản tuyên ngôn "độc lập" là đủ. Hơn ngàn năm trước người Việt Nam đã có bài "Nam quốc sơn hà".
Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên phận định tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư
Hầu hết các sử gia VN đều nhìn nhận rằng bài thơ này là bản "tuyên ngôn độc lập đầu tiên" của Việt Nam. Bài thơ ra đời trong hoàn cảnh đất nước đang bị giặc Tống phương Bắc xâm lăng. Mục tiêu bài thơ là vận động toàn dân chống giặc, giữ vững cõi bờ.
Bời thơ này hầu như người Việt nào cũng thuộc. Lời lẽ hùng tráng, hào khí ngất trời, vừa ngắn gọn, vừa dễ hiểu:
Nước Nam là của vua nước Nam, việc này sách trời đã định. Bọn giặc nào xâm phạm thì sẽ chuốc lấy thất bại.
Tuyên ngôn độc lập 2-9 của ông Hồ, các việc "bài phong đả thực", "cướp chính quyền" dành độc lập đều là chuyện bịa đặt. Lời lẽ ý tứ lại còn cóp py bản tuyên ngôn độc lập của Mỹ. Vả lại tổ tiên người Việt đã giành độc lập từ tay giặc Tàu từ ngàn năm trước, đâu có chờ ông Hồ và VM (dành độc lập 2-9-1945) .
28-8
Nói về quyền "thượng quốc" đối với "chư hầu".
Nhận thấy rằng nhiều bạn góp ý trong những status của tôi đã không hiểu ý nghĩa "độc lập" là gì, mặc dầu nhiều lần tôi đăng lại các bài viết nói về ý nghĩa của "độc lập" theo công pháp quốc tế.
Khi bàn cãi về "nền độc lập của VN" mà không biết thế nào là độc lập, hoặc mỗi người có một khái niệm khác nhau về "độc lập", thì việc bàn cãi sẽ không đi đến đâu.
Tôi cho rằng ý kiến của tôi về việc bỏ ngày "độc lập 2-9" là hợp lý. Đơn giản vì VN có những ngày khác phù hợp với thực tế lịch sử và pháp lý. Mà điều quan trọng hơn cả, nếu bỏ ngày 2-9, VN có lợi hơn, trên phương diện hồ sơ về chủ quyền HS và TS.
Một số bạn khác thì tiêm nhiễm các học thuyết của các học giả TQ về quan hệ "thượng quốc - chư hầu" giữa VN và TQ. Theo lý thuyết này thì quan hệ "thượng quốc - chư hầu" giữa VN và TQ không khác quan hệ "bảo hộ" giữa VN và Pháp. Từ những lập luận đó kết luận rằng VN chưa bao giờ độc lập.
Cũng những người này "mạt sát" các nhân vật lịch sử VN, xuyên tạc bài thơ "Nam quốc sơn hà" của VN. Theo họ, những danh tướng VN đánh bại các đợt xâm lăng của TQ, như Lý Thường Kiệt, đều là những kẻ không ra gì.
Vấn đề là những người này chỉ phán đoán theo lối "nghe người ta nói" chớ không đưa ra được dẫn chứng nào.
Một dữ kiện đáng được để ý là lý lẽ vịn vào Hiệp ước Thiên Tân 1885. Tôi hy vọng những người góp ý nói nhiều hơn (một cách nghiêm túc) về hiệp ước này. Tôi cũng đã từng nghiên cứu các hồ sơ thuộc văn khố Pháp, đã từng "nghiền ngẫm" các công ước đính kèm hiệp ước Thiên Tân 1885, như công ước phân định biên giới và công ước về thương mãi giữa hai bên Pháp và nhà Thanh.
Bài viết sau đây của tôi, dẫn từ tập sách tôi viết năm 2000, nói về quan hệ "thượng quốc - chư hầu" giữa VN và TQ. Ý kiến của tôi, trong chừng mực, cũng phù hợp với phán quyết của Tòa Trọng tài thường trực ngày 12-7 trong vụ Phi kiện TQ về cách diễn giải và áp dụng luật biển. Theo đó yêu sách "quyền lịch sử" của TQ bị bác bỏ. Quyền lịch sử của TQ nảy sinh ra từ quan niệm các nước (như VN) đã từng là "chư hầu" của TQ. Tòa bác yêu sách này vì đơn giản TQ chưa bao giờ "kiểm soát" được vùng Biển Đông hết cả.
Sơ lược về quan hệ thượng quốc – chư hầu giữa hai nước Trung Hoa và Việt Nam
Nhiều học giả đương đại hiểu sai ý nghĩa quan hệ « thuợng quốc – chư hầu » (suzeraineté) giữa Trung Quốc và Việt Nam từ trước năm 1885. Việc hiểu sai này bắt nguồn do các tài liệu tuyên truyền từ phía Trung Quốc. Theo họ, mối quan hệ « thuợng quốc – chư hầu » có ý nghĩa như là quyền « bảo hộ - protectorat ». Dựa trên ý nghĩa này, các quan chức nhà nước Trung Hoa, từ nhiều thời kỳ (và các thể chế chính trị), đã lợi dụng nó để tranh dành với các cường quốc khác để phân xé Việt Nam. Gần đây, các học giả Trung Hoa cũng dựa vào quan hệ này để tuyên bố Trung Hoa có chủ quyền (lịch sử) trên toàn biển Đông.
Nhưng khi xem lại lịch sử thì ta thấy sự thật hoàn toàn khác.
Có lẽ lần đầu tiên phía Trung Hoa chính thức nhắc đến quan hệ « thuợng quốc – chư hầu » trước các cường quốc Tây Phương là ông Tăng Kỷ Trạch. Ông này nhân việc vua Tự Đức, sau khi đã ký hòa ước 1874 với Pháp, vẫn tiếp tục sai sứ sang Tàu triều cống.
Hiệp ước 15 tháng 3 năm 1874, còn gọi là hiệp-ước « Hoà Bình và Liên Minh », ký kết giữa đại diện triều đình nhà Nguyễn là Thượng Thư Bộ Hình Lê Tuấn (chánh sứ), Tả Tham Tri Nguyễn Văn Tường (phó sứ), với Pháp quốc, do Phó Thủy Sư Ðô Ðốc, Thiếu Tướng Dupré, Tổng Tư Lệnh Quân Ðội Viễn Chinh, làm đại diện.
Ðiều 2 của hiệp ước như sau : « Quan thống lĩnh nước Pháp công nhận quyền độc lập của vua nước Nam, nước này không phải thần phục nước nào nữa và khi vua An Nam có cần đến nước Pháp giúp đỡ để dẹp giặc thì nước này sẵn lòng giúp mà không yêu cầu điều gì » .
Điều 2 cho thấy quan hệ « thuợng quốc – chư hầu » giữa VN và Trung Hoa đã chấm dứt.
Thái độ của nhà Thanh đối với hiệp ước 1874 được biểu lộ qua lá thư thân vương Cung trả lời cho công tước Rochechouart, đặc sứ Pháp tại Bắc Kinh. Nội dung lá thư này có chủ ý công nhận hiệp ước trên và cho biết triều đình nhà Thanh đã xuống chiếu ra lệnh cho quân đội Trung Hoa đã vào Việt Nam dẹp giặc Khách trước đó phải rút về .
Việc không phản đối hiệp ước và cho rút quân về, một cách gián tiếp, Trung Hoa công nhận một nước An Nam độc lập (với Trung Hoa).
Nhưng thái độ không tôn trọng hiệp ước 1874 của vua Tự Ðức làm cho ý kiến của Trung Hoa về Việt Nam thay đổi (và việc này mở đầu cho quân viễn chinh Pháp chiếm đóng toàn cõi VN).
Năm 1876 vua Tự Ðức sai quí ông Bùi Ân Niên tức Bùi Dỵ, Lâm Hoành và Lê Cát đi sứ sang Trung Hoa. Ðến năm 1880 lại sai quí ông Nguyễn Thuật, Trần Khánh Tiến và Nguyễn Hoan đem đồ sang Tàu triều cống. Việc này cho thấy vua Tự Ðức đã tự nguyện lệ thuộc lại vào Trung Hoa như là một chư hầu.
Hầu tước Tăng Kỷ Trạch (Marquis Tseng), đang nhiệm-sở ở St Péterbourg, nhân cơ hội này lên tiếng trước giới ngoại giao Tây Phương rằng hình thức « thượng quốc – chư hầu » (suzeraineté) giữa Trung Hoa và Việt Nam tương tự như hình thức bảo hộ (protectorat). (Xét tình hình thời điểm đó, ta thấy ông này muốn đưa Việt Nam vào lại vòng ảnh hưởng của Trung Hoa, một mặt dùng VN như món hàng để thương lượng với Pháp, mặt khác, muốn sát nhập Bắc Kỳ vào lãnh thổ Trung Quốc).
Nhưng việc so sánh của ông Tăng Kỷ Trạch hoàn toàn sai. Hình thức quan hệ giữa thuợng quốc và chư hầu không thể so sánh được với hình thức bảo hộ. Quan niệm về « thiên hạ » của Trung Hoa đã cho phép ta kết luận như thế.
Nguồn gốc liên hệ « thượng quốc – chư hầu » giữa Trung-Hoa và các nước.
Nguyên thủy, những bộ lạc người Hán sinh sống ở phía Tây Bắc nước Trung Quốc hiện nay, tràn xuống miền Hoàng Hà đánh đuổi người Miêu tộc sinh sống ở đây, sau đó các bộ lạc Hán Tộc chia nhau chiếm giữ làm khu vực sinh sống. Bộ lạc nào cũng có tộc trưởng làm đầu, cai quản cả người trong họ của khu vực ấy, gọi là hậu 后 tức vua một xứ nhỏ. Những xứ nhỏ ấy đông đảo, có đến cả ngàn, cả vạn cho nên mới gọi là vạn bang 萬邦. Các ông hậu ấy lại chọn một ông hậu khác « có tài, có đức » tôn làm đế 帝. Các nước gọi là nguyên hậu 元后, về sau xưng là thiên-tử 天子. Các hậu gọi là chư hầu, ai ở nước nào trị nước nấy nhưng phải phục tòng mệnh lệnh nguyên hậu và hàng năm phải triều cống.
Có lý thuyết cho là Trung Hoa lập quốc bắt đầu từ nhà Thương (thế kỷ 17 đến thế-kỷ 11 trước CN). Ðịa bàn chính trị nhà Thương gồm tỉnh Hà Nam, Sơn Ðông, Hà Bắc, Sơn Tây, Thiểm Tây, An Huy. Phía Ðông có nước Tề, phía Tây có nước Chu, phía Nam có nước Quang, phía Bắc là nước Chu . Vào cuối nhà Thương, đầu nhà Chu, nước Tàu có đến 1800 nước. Ðến thời Xuân Thu còn khoảng 100 nước, những nước lớn là Tần, Tấn, Sở, Lỗ, Tề, Vệ, Yên, Tào, Tống, Trần, Sái, Trịnh, Ngô, Việt gồm 14 nước. Trong các nước này 4 nước Tần, Tấn, Tề, Sở là mạnh hơn hết.
Các nước mạnh tranh dành để làm bá chủ thiên hạ, buộc các nước nhỏ phải cống nạp. Tử Sản nước Trịnh có nói : Mỗi lần cống nạp, phải cống 100 lạng vàng và 1000 người. Nếu nước nhỏ cống nạp không đúng theo yêu cầu nước lớn thì sẽ bị các nước này đem quân khảo phạt và hoạch hoẹ, nhân dân sẽ làm nô lệ.
Như thế, quan hệ thượng quốc - chư hầu theo quan niệm Trung Hoa là nước nhỏ, muốn hiện hữu, phải có bổn phận cống nạp nước lớn.
Thực chất quan hệ « thượng quốc – chư hầu » giữa Trung Hoa và Việt Nam.
Trên thực tế, Trung Hoa chưa bao giờ có thể can thiệp trực tiếp hay ảnh hưởng vào nội bộ nước ta trong tất cả mọi lãnh vực, kể cả việc liên hệ ngoại giao với các nước khác. Ngoại trừ những khoảng thời gian Việt Nam bị nước này đô hộ.
Từ thế kỷ thứ 17, Chúa Trịnh ở miền Bắc cũng như chúa Nguyễn ở miền Nam, cho đến thế kỷ thứ XVIII, đã có giao hảo, không những với các vương quốc thuộc Châu Á chung quanh mà còn có những tiếp xúc với người Bồ Ðào Nha ở Ma Cao và người Hòa Lan ở đảo Java.
Cuối thế kỷ XVIII vua Gia Long đã cầu viện nước Pháp để đánh nhà Tây Sơn mà không thấy có bổn phận phải xin phép triều đình nhà Thanh. Bắt đầu dưới thời Minh Mạng đã có một lãnh sự người Pháp được tin dùng. Sự can thiệp của người Pháp vào Việt Nam đầu tiên để bảo vệ các giáo dân Thiên Chúa Giáo, sau đó chiếm Nam Kỳ, những việc này không hề tạo một phản ứng nào ở triều đình Trung Hoa.
Năm 1873, với sự trợ giúp của người Hoa, Jean Dupuis đem hàng hóa và vũ khí các thứ ngược sông Hồng lên buôn bán ở Vân Nam, bất chấp luật lệ và thẩm quyền của triều đình Huế. Ông Dupuis cho rằng chỉ cần có sự ưng thuận về phía Trung Hoa là đủ. Theo ông này Việt Nam chỉ là chư hầu của Trung Hoa nên không cần phải xin phép. Jean Dupuis và một số thương buôn người Tàu chở muối và gạo lên Vân Nam, bất chấp luật lệ của Việt Nam. Quan niệm của Dupuis hoàn toàn sai. Quan quân triều đình Huế nể nang Dupuis là người Pháp nên không dám làm lớn chuyện với y, nhưng các thương buôn người Tàu là Bành Lợi Ký và Quan Tá Ðình là những người đi theo Dupuis thì bị bắt.
Hành động bắt giam những thương buôn người Hoa phạm luật cho thấy Trung Hoa hoàn toàn không có thẩm quyền hay ảnh hưởng gì lên đến luật pháp và việc nội trị Việt Nam.
Việt Nam hành sử thực tế như một nước độc lập. Trong khi quan hệ "bảo hộ" thì phía bảo hộ hầu như có toàn quyền với nước được (hay bị) bảo hộ, từ pháp luật cho đến quân sự, ngoại giao...
Quan hệ chư hầu và thượng quốc giữa hai nước Việt và Hoa vì thế chỉ có ý nghĩa là nước nhỏ, trong một chu kỳ định sẵn ba năm, sáu năm hay mười năm, đem “quà cáp” sang tặng nước lớn. Việc tặng “quà cáp” này được gọi dưới tên là triều cống. Mục đích việc triều cống nhằm để “mua” sự hòa bình, tránh việc nước lớn ỷ mạnh đánh phá nước nhỏ. Nó chỉ có một vài ý nghĩa về nghi lễ ngoại giao chứ không có ảnh hưởng gì lên sinh hoạt xã hội, tức việc nội trị (quyền hành sử chủ quyền) của Việt Nam.
Vì thế, hầu tước Tăng Kỷ Thạch hoàn toàn sai khi cho rằng hình thức thượng quốc – chư hầu giữa Trung Hoa và Việt Nam tương tự như hình thức bảo hộ. Người ta sẽ không phản đối nếu ông nầy so sánh hình thức đô hộ của Trung Hoa ở Việt Nam thời xưa với hình thức bảo hộ của các đế quốc thực dân lúc đó. Hai việc đô hộ và bảo hộ đều có chung hành vi cướp nước, sau đó áp bức, bóc lột của cải cũng như chiếm đoạt tài nguyên của dân tộc Việt Nam.
Nhưng hành động của vua Tự Đức, phủ nhận các hiệp ước đã ký với Pháp và tự nguyện làm chư hầu của Trung Hoa, đã mở màn cho chiến tranh Pháp-Trung (hai cuộc chiến 1883 và 1885). Mục tiêu hai cuộc chiến này, trên phương diện pháp lý, là giải quyết quan hệ « thuợng quốc – chư hầu » giữa VN và Trung Hoa, được ký kết qua các hiệp ước tại Thiên Tân (1885, 1887). Hiệp ước Thiên Tân 1885 chấm dứt mọi quan hệ (thuợng quốc – chư hầu) giữa VN và Trung Hoa. Công ước 1887 xác định biên giới rạch ròi giữa hai bên Trung Quốc và Bắc Kỳ.
Các học giả ngày hôm nay, do không nắm rõ quan hệ lịch sử hai nước Việt Trung, hoặc do không nghiên cứu tường tận các hiệp ước đã ký kết giữa Trung Hoa và Pháp liên quan đến vấn đề Việt Nam, do đó có nhận định sai lầm về quan hệ « thuợng quốc – chư hầu » giữa hai nước Trung-Việt.
Lý lẽ của một số học giả Trung Quốc hiện nay cho rằng biển Đông là biển lịch sử của Trung Hoa hoàn toàn không phù hợp với thực tế lịch sử. Nhưng trong chừng mực, lý lẽ của họ rất có thể đặt nền tảng trên các tuyên bố vô trách nhiệm của lãnh đạo cộng sản miền Bắc vào thập niên 50. Về các tuyên bố này (như công hàm 1958 của Phạm Văn Đồng), có nhiều ý kiến khác nhau, nhưng hầu hết các tập sách đã được các học giả trên thế giới viết về tranh chấp biển Đông, đều cho rằng hậu quả của nó có thể gây bất lợi cho Việt Nam .
Trương Nhân Tuấn
Tìm hiểu thêm hiệp ước Thiên Tân 1885 và công ước Phân định biên giới giữa Trung hoa và Bắc Kỳ 26 tháng 6 năm 1887 ở đây :
Tập « Biên giới Việt Trung 1885-2000 Lịch sử thành hình và những tranh chấp », của tác giả Trương Nhân Tuấn.

28-8
Ở các nước giẫy chết đã từ rất lâu người ta không còn nói về thực phẩm "sạch, dơ", mà người ta nói về "ngon, dở". Dĩ nhiên "ngon" thì phải trả nhiều tiền.
Thực phẩm ở đây không có cái nào gọi là "dơ", mà chỉ có thực phẩm có đúng "chuẩn mực vệ sinh" hay không? Luật pháp trừng phạt nặng các nhà sản xuất nếu sản phẩm không đúng tiêu chuẩn. Mà chuẩn mực vệ sinh có rất nhiều tiêu chuẩn phải tôn trọng. Nhứt là trong lãnh vực chăn nuôi hay trồng trọt.
Tức là, thực phẩm rẻ mạt, khách hàng biết chắc là "ăn chưa chắc ngon", nhưng bảo đảm "ăn không chết" (như ở VN).
Thịt gà, thịt heo... rẻ rề, nhưng không ngon, thịt... bở rẹt, vì người ta nuôi theo công nghiệp. Có loại thịt gà, heo... giá mắc hơn cả chục lần. Bởi vì nó ngon. Người ta nuôi theo lối "gà chạy bộ".
Rau cỏ, cây trái cũng vậy, ở đâu lại không vun phân bón và phun thuốc hóa học ? Vấn đề là người ta phun thuốc có thời kỳ, có liều lượng. Thí dụ, cây trái sắp hái đem bán, thì trước bao nhiêu ngày người ta không được xịt thuốc nữa. Luật cấm người ta làm vậy. Rau cỏ cũng vậy luôn.
Rau cỏ, cây trái... tới mùa rẻ như cho. Nhiều đến đỗi các nhà sản xuất, bán không hết, đổ bỏ hàng trăm, hàng ngàn tấn mỗi năm. Báo chí lên án là "phung phí", nhưng rồi mọi người "cười trừ", vì việc đổ bỏ không phạm luật nào cả.
Vấn đề ở VN muôn thuở vẫn là nhà nước (không phải cô ML, đổ thừa tội nghiệp cổ).
Thí dụ, vụ "tiếng súng Yên Bái" lan rộng ra trong đảng. Họ thanh toán với nhau, tự động lăn ra chết hết. Một điều chắc chắn là kinh tế sẽ được cởi trói, người ta cạnh tranh với nhau, hàng hóa tự động sẽ "sạch, ngon và rẻ".
Bằng không là phải "pháp trị" thực sự. Vụ này nói hoài, mệt !.

28-8
Đọc tin báo nghe ông Phúc niểng nói "phải làm sao cá có thể bơi được trong nước thải" cười sặc cơm.
Cá bơi được trong nước thải không có ý nghĩa là con "cá sạch", ăn sẽ không chết (hay không bị ung thư sau này).
Con cá sống trong môi trường dơ không khác người VN sống trong xã hội VN hiện nay.
Vài ba chục năm trước, xã hội miền nam sống an bình đến đỗi tối ngủ nhà không cần đóng cửa. Con người đối xử với nhau, trong thương trường, lấy chữ tín làm đầu. Ít khi nghe các vụ "giựt nợ", gạt gẫm tiền bạc... như hiện nay. Con người đối xử với nhau với lòng nhân. Thấy người hoạn nạn, gặp cảnh khốn cùng... ai cũng có thể dễ dàng tương trợ với nhau.
Từ khi xã hội "tiếp thu" văn hóa "con tố cha, vợ tố chồng" thì lần hồi, mối giềng xã hội (vững mạnh cách mấy) bị xiêu đổ. Xã hội VN hôm nay không khác "nước thải của Formosa". Người VN không ai chết, vì ai cũng "độc" như nước thải.
Con cá cũng vậy. Khi tiếp xúc thường xuyên với một môi trường "dơ", lâu ngày con cá này thịt xương của nó trở thành "dơ". Con cá sống khỏe, không chết. Vấn đề là người ta ăn con cá, người ta chết.

31-8
Tôi nghĩ người Việt "học chữ Hán" là cần thiết.
Câu hỏi là vì sao ?
Thứ nhứt, vì chữ "quốc ngữ", tức là ký tự latin (alphabet: a, b, c...), đến với người Việt sau khi người Pháp vào bảo hộ, tức chỉ mới 100 năm nay. Thời gian này nếu so sánh thì không thấm vào đâu so với chiều dài "4.000" năm lịch sử viết bằng chữ Hán (và Nôm). Tức là, nếu ta muốn biết văn chương và lịch sử nước Việt qua các thời kỳ như thế nào, ta phải biết tiếng Hán.
Thứ hai, chữ "quốc ngữ" chỉ là một loại "ký âm", tức là chuyển âm (giọng nói, cách phát âm) của người Việt thành chữ alphabet.
Nguyên thủy của chữ "quốc ngữ" đến từ các ông cố đạo. Khi vào đến VN (khoảng thế kỷ thứ 16), mấy ông cố đạo này "chế ra" một lối ký tự để ghi chép các công việc, để việc truyền giáo được dễ dàng. Nếu ta có đọc các bản tường trình của các vị giám mục (lên Vatican) thì sẽ thấy mỗi ông viết một cách. Đến khi VN lọt vào tay Pháp thì các ký tự này mới được "thống nhứt" lại. Từ đó chữ "quốc ngữ" ra đời.
Vài thí dụ về cách "chuyển âm": trời = blời; đông kinh = tun kim; qinhin = qui nhơn; fayfo = Hải phố (tức Hội an bây giờ)...
Trong khi chữ "quốc ngữ" chuyển âm (tiếng Việt) thì chữ Hán là một loại chữ "chuyên chở ý nghĩa".
Thật vậy, những từ ngừ không có cách diễn đạt trong tiếng Việt thì ta mượn tiếng Hán (gọi là tiếng Hán-Việt. Trong các bản tường trình của các cố đạo, các từ như thượng đế, ngọc hoàng, thiên chúa... được phiên âm gần giống như tiếng Quảng.)
Trở ngại của chữ Việt hiện nay, nếu không dựa vào chữ Hán, ta sẽ gặp khó khăn trong việc dịch thuật các từ khái niệm, hay chuyên môn, từ các ngôn ngữ khác.
Vài thí dụ: mới đây ta có từ mới là "sóng hấp dẫn" (ondes gravitationnelles - gravitational waves). Theo tôi dịch vậy là sai. "Gravitation", tiếng Anh, hay Pháp, có từ nguyên latin là "gravis", có nghĩa là "nặng". Dịch đúng phải là "sóng trọng" (trọng ba, tương tự cách dịch âm ba, điện ba, quang ba...). Hấp dẫn là dịch từ "attraction", theo nghĩa vật lý thì đó là một hệ quả của hiện tượng "gravitation". Vấn đề là "hấp dẫn" cũng là từ Hán-Việt.
Thí dụ khác, từ "pháp quyền" - "Rule of law - Etat de droit". Theo tôi dịch như vậy là không chính xác, vừa về "ngữ", vừa về "nghĩa".
Không chính xác vì không ai giải thích chữ "quyền" (trong pháp quyền) đến từ "pouvoir - power" hay từ "droit - right". Nếu ta biết tiếng Anh hay tiếng Pháp, hai từ này có ý nghĩa hoàn toàn khác nhau (về lãnh vực).
Không đúng nghĩa vì "Rule of law - Etat de droit" là một "khái niệm" về "luật pháp" (cai trị và xây dựng đất nước trên nền tảng luật lệ). "Pháp quyền" chưa bao giờ là một "khái niệm" về luật để có thể dịch "tương đương". Trong khi "pháp quyền" đã được VN sử dụng (từ 75 trở về trước) để dịch "juridiction", "quyền xét xử".
Ta còn vô số cách dịch không chính xác như vậy.
Như vậy học chữ Hán là cần thiết. Vấn đề là khi nào thì học ?
Dưới thời VNCH, chữ Hán không ép buộc dạy ở trung học. Lên đại học, chỉ một số phân khoa, như văn học, lịch sử, báo chí, sư phạm... mới có môn Hán học. Theo tôi việc này hợp lý. Vì việc biên chép, nghiên cứu về lịch sử, về ngôn ngữ... thì cần đến sự chính xác. Những người này có trách nhiệm đề nghị các từ mới.


Aucun commentaire:

Enregistrer un commentaire

Remarque : Seul un membre de ce blog est autorisé à enregistrer un commentaire.