lundi 19 décembre 2016

Nhật ký tháng tư 2016
1-4
Nguồn tin nội bộ sáng ngày cá tháng tư vừa cho biết, ông Trương Tấn Sang cùng một số đồng chí trung thành, đã lấy quyết định đồng loạt bỏ đảng CSVN để thành lập đảng mới. Tin nội bộ không nói đảng mới của ông Sang là tên gì. Nhân sự đảng này được biết là hùng hậu lắm. Số đảng viên TƯ ủng hộ ông Sang khoảng 20%. Số đại biểu QH gia nhập đảng mới, cũng là những người bỏ phiếu chống "miễn nhiệm", được biết là khá đông, khoảng trên 25% đại biểu có mặt. Báo chí hôm qua đăng tải con số 95% ủng hộ việc miễn nhiệm chủ tịch nước, thực ra đó là con số của ông Trọng Lú đã viết trước trong Nghị quyết 1/4TW, ban hành cùng ngày, tức là con số vịt cồ.
Có nhiều lý do vì sao ông Trương Tấn Sang thành lập đảng, nhưng quan trọng là việc bị "miễn nhiệm" hôm qua. Việc này như giọt nước làm tràn ly.
Hôm qua, 31-3 tại Quốc hội, ông Sang đã bị Ủy ban TVQH đề nghị miễn nhiệm chức vụ Chủ tịch nước. Vấn đề (tức bể bọng đái) là nhân sự UB Thường vụ Quốc hội, bà Ngân Điệu (vốn là điệu, sau này giang hồ đổi là Đù) mới được bầu lên tức thì. Chưa kịp uống ly nước trà, đít chưa ngồi vào ghế thì bà Ngân Điệu (hay Đù) lên diễn đàn QH đọc cáo trạng luận tội "miễn nhiệm" chủ tịch nước.
Phe ủng hộ ông Sang, cũng là phe "trọng pháp", nhao nhao lên phản đối. Bởi vì, theo Quy định số 260-QĐ/TW của BCT, việc miễn nhiệm cán bộ có nghĩa là người này "vi phạm kỷ luật, vi phạm đạo đức, năng lực yếu kém, không hoàn thành nhiệm vụ, mất uy tín..."
Ông Sang vi phạm điều gì trong nội quy để bị "miễn nhiệm" ?
Nhóm đại biểu ủng hộ ông Sang phản đối ghê lắm. Nghe nói bà Phóng (Đại) tính leo lên diễn đàn để giựt micro của bà Ngân Điệu. Có điều là bục diễn đàn cao quá, bà Phóng Đại phục phịch, leo lên không được.
Thiệt tình phải ngã nón bái phục tài năng liệu việc của Gia Cát Lú. Nghị quyết 1/4TW của ông Lú, thực ra là cuốn cẩm nang. Bà Ngân Điệu được dặn dò kỹ càng, phải làm điều chi, cái nào làm trước, cái nào làm sau... chi li từng chút một.
Mấy cái micro trong hội trường đều bị cúp, ngoài cái mà bà Ngân Điệu đang xài.
Cẩm nang căn dặn phải cả vú lấp miệng em, không cho đại biểu phát biểu linh tinh. Nhứt là bọn Nam kỳ không biết "ný nuận", phải triệt để canh chừng, không để đứa nào lên phát biểu hết.
Bà Ngân Điệu, với vũ khí có sẵn, đại biểu miệng ai cũng bị lấp, ú a ú ớ không ai nói được thành lời.
Ông Sang vì vậy tức lắm, mặt sượng như tôm, c. lộn lên tới trên đầu. Không chờ kết quả màn bầu bán rẻ tiền. Viện cớ mắc ị, ông ra ngoài.
Trước cửa Washington Club (viết tắt là WC), ông Sang chửi thề thầy chạy:
"Đụ mẹ tụi bây. Từ hồi năm nẳm năm nao, tính tới bây giờ đã hơn trăm năm, ông Hồ đã gởi "Bản Yêu sách 7 điểm" lên quan Tây thực dân xin mẫu quốc ra luật lệ, dẹp bỏ cái vụ cai trị bằng nghị quyết.
Bây giờ tụi bây xài "nghị quyết" để "xử" tao".
"Đụ má tụi bây, một bầy sâu bọ. Có hiến pháp không xài hiến pháp. Lúc muốn thâu tóm quyền hành thì tụi bây ra nghị quyết. Nghị quyết là cái đéo gì mà có hiệu lực trên hiến pháp ?"
"Đụ con đỉ mẹ tụi bây, làm cái gì cũng nhơn danh đảng. Mà ai là đảng ở đây ? Ý của thằng Lú là ý của thằng Lú, chờ làm sao là "ý đảng" được?"
Thấy ông Sang chửi quá, "nguồn tin nội bộ" không dám tới gần, sợ bị "giận cá chém thớt", phải chuồn ra xa. Nghĩ cũng tiếc, nếu không thì chuyện chửi của anh Tư Sang chắc phải kể tới ngày mai mới hết.
Túm lại, nhân sự trung ương 20%, cộng thêm 25% đại biểu QH, vậy số người theo ông Sang thật là đáng kể. Tính tròn thì khoảng 25% đảng viên, khoảng 1 triệu người.
Thành thật chức mừng anh Tư Sùi. Chúc mừng vì cái chức "chủ tịch nước" của anh không nhằm nhò gì với chức danh "đảng trưởng".
Chúc mừng anh Tư đảng trưởng. Không thấy Gia Cát Lú hay sao, hắn chỉ là Tổng bí mà quyền lực ngất lên thấu trời xanh; được quyền ra nghị quyết lấy lại chức Chủ tịch nước của anh như lấy đồ chơi trong túi.
"Nguồn tin nội bộ" cũng hé lộ chuyện tâm sự của anh Hùng Hói. Tại Quốc hội, có hơn 15% đại biểu chống lại việc bãi nhiệm anh Hói. Như vậy nhân sự ủng hộ anh Hói cũng "kềnh càng" lắm. Cánh Thanh-Nghệ-Tĩnh trong TƯ, khoảng 30% nhơn sự, lúc cần thì sẽ trở áo với đảng CS để ủng hộ anh Hùng Hói. Nghe nói vụ "miễn nhiệm" thay ngựa giữa giòng làm Hùng Hói tức hộc máu (như Châu Du thua trí Khổng Lú).
Sắp tới, sức khỏe hồi phục, chắc thế nào anh Hùng Hói cũng theo bước anh Tư Sang thành lập đảng. Cả triệu người ủng hộ chớ ít sao! Không lập đảng bây giờ thì chờ chừng nào ?
Bởi vậy, Khổng Lú nghĩ là mình cao tay chơi trò nghị quyết 1/4, loại hai đối thủ đáng gờm là Tư Sùi và Hùng Hói. Nhưng thành bại còn do trời. Bỏi vì còn anh Ba X.
Trời sanh X sao còn sanh Lú. Hay là trời sinh Lú lại còn sanh X.
Tuồng nghị quyết 1 tháng tư chưa vãn.
Kết cục ra sao? Mời bà con đón xem hồi sau sẽ rõ.

1-4
Tin nội bộ sáng ngày cá tháng tư cũng đưa tin là Tào Nghị và Tào Triết, hai đứa con trai của Tào Mạnh Dũng, đang dấy quân hạn nhau ngày 2 tháng tư tại trấn Tây thành để phá trận "miễn nhiệm" do Khổng Lú bày ra. Tin đồn, Tào Triết mượn kế làm lễ thành hôn của mình với Đồng mỹ nhân, triệu tập quần hùng, trước là giúp quần hào tránh tham dự buổi lễ tấn vương Lưu Quang Côn cũng như né mặt Khổng lú. Sau là bàn chuyện đại sự quốc gia.
Cũng nghe nói Đồng mỹ nhân quê ở trấn Tây thành, cha mẹ xuất thân nghề làm guộng. Thiệt tình nghề làm guộng là nghề cao quí, cao tằng tiên tổ nhà của người đang gõ phím này cũng xuất thân nghề làm guộng. Vậy là tôi với Đồng mỹ nhân có thân thích (hơi bị xa một chút).
Như vậy, có khả năng quần hào tụ ở đây, noi theo Tư Sùi, sẽ tuyên bố thành lập đảng.
Bởi vì, túm lại, muốn phá kế "miễn nhiệm" của Khổng Lú, ngoài việc lập đảng thì không thấy kế sách nào cao minh hơn.
2-4
Tôi thấy cái vụ Quốc hội bỏ phiếu kín, rồi kiểm phiếu cũng "kín" luôn, là không ổn.
Bỏ phiếu kín thực ra là nguyên tắc của dân chủ tự do, nó cho phép người bỏ phiếu bày tỏ lập trường chính trị thật sự của mình mà không sợ ai, hay lo ngại bất kỳ một điều gì. Lá phiếu kín tuyệt đối không ghi bất kỳ thông tin nào liên quan đến người bỏ phiếu.
Nhưng việc kiểm phiếu, ở các nước dân chủ tự do, luôn là việc công khai. Hiện diện trong buổi kiểm phiếu có mặt bắt buộc của thừa phát lại (đại diện cho luật pháp) để lập biên bản và công bố kết quả. Cũng như có mặt của đại diện báo chí và đại diện các phe ra tranh cử.
Cả hai cuộc kiểm phiếu vừa rồi ở Quốc hội, bầu bà Ngân làm chủ tịch Quốc hội, cũng như bầu ông Trần Đại Quang làm chủ tịch nước, việc kiểm phiếu đều thể hiện trong "phòng kín", không có mặt của báo chí cũng như đại diện của pháp luật. Kết quả của vệc bầu bán vì vậy không được minh bạch.
Người ta có thể đặt nghi vấn rằng các phiếu gạch bỏ tên Trần Đại Quang (hay Nguyễn thị Kim Ngân) đã bị loại ra và thay thế bằng các phiếu khác. Điều này đã thấy xảy ra trong vụ "kiểm phiếu" trong "chùa vắng" ở một huyện thuộc Tuy Hòa, nơi luật sư Võ An Đôn ra ứng cử. Đây là lối làm việc quen thuộc "dân chủ tập trung", mọi người xếp hàng đi theo "bảng dẫn đường của trí tuệ".
Cuộc bầu miễn nhiệm phó chủ tịch QH chiều ngày 2 tháng tư, thể thức không bỏ phiếu kín mà bấm nút, ta thấy có tới khoảng 15% đại biểu không bấm nút.
Chắc chắn con số đại biểu phản đối việc "miễn nhiệm" nhân sự giữa giòng, vì việc này vi hiến, là không nhỏ. Báo chí đăng tải hôm qua, bầu "miễn nhiệm" ông Hùng có tới 13% đại biểu bỏ phiếu chống.
Nhưng cuộc bầu "miễn nhiệm" ông Sang hôm sau thì con số phản đối sụt xuống, đâu chừng 5%. Mặc dầu ông Sang được lòng nhiều đại biểu QH các tỉnh phía Nam, cũng như nhiều đại biểu "trọng pháp" ở các khu vực khác. Vì vậy con số do hội đồng kiểm phiếu đưa ra là rất đáng nghi ngờ.
Tôi nghĩ là trong buổi bầu "miễn nhiệm" ông Dũng sắp tới, thể thức kiểm phiếu phải công khai, có mặt đại diện báo chí và nhân sự các phía.
3-4
Một cách đơn giản để so sánh Sài Gòn với Singapour (và Bangkok), nơi nào xứng đáng là "hòn ngọc viễn đông", là so sánh các bản đồ của các thành phố này (cùng thời kỳ).
Việc làm này hết sức dễ dàng vì hiện nay các tập bản đồ Indochine, Thái Lan, Singapour... có thể tham khảo tự do trên các trang web.
Điều nên biết, các nước được xếp vào vùng Viễn Đông gồm có các nước : Việt, Miên Lào (là ba nước Đông dương thuộc Pháp), Mã Lai, Singapour, Thái Lan, Indonésie, Phi, Đại Hàn, Trung Quốc và Nhật.
Danh xưng "hòn ngọc Viễn Đông" ban đầu không phải chỉ cho Sài Gòn, mà chỉ cho Penang, một trong những vùng thuộc địa đầu tiên của Anh tại Mã Lai (1795). Sau đó Anh kiểm soát Singapour, Penang mất vị trí quan trọng, danh hiệu "hòn ngọc Viễn Đông" của đế quốc Anh trao lại cho Singapour (xem Malaisie: Modernité et traditions en Asie du Sud-Est, page 52).
Trong khu vực, người Pháp có mặt sau Anh khoảng 70 năm. Đến năm 1885 Pháp mới hoàn toàn đặt toàn cõi đế quốc Việt Nam của nhà Nguyễn vào vòng thuộc địa. Miền Nam, tức Cochinchine (để phân biệt miền trung là An Nam, miền bắc là Tonkin) là "nhượng địa" của Pháp từ năm 1864.
Nhưng việc xây dựng và khai thác thuộc địa giữa hai đế quốc có nhiều điểm khác biệt chiến lược. Người Anh chủ trương kiểm soát các hải lộ quan trọng, thành lập các thương quán (comptoir), cũng là những hải cảng, rải rác từ Ấn Độ, qua Singapour cho tới Hồng Kông. Trong khi người Pháp địa điểm để làm thủ phủ Đông Dương, một mỏm đất cạnh bờ sông Sài Gòn, sâu trong lục địa, có tên là Sài Gòn. (Để biết thêm lịch sử Sài Gòn các bạn có thể tìm đọc các tác phẩm của Vương Hồng Sểnh: Tuyển tập Vương Hồng Sểnh, NXB Văn Học 2002).
Việc lựa chọn Sài Gòn (thay vì Đà Nẵng), với vị trí ở sâu trong đất liền, là do quyết định của tướng Page, một quyết định thuần túy quân sự, nhằm mở rộng lãnh thổ cho đến Campuchia, Lào; sau đó mở đường sông Cửu Long sang Tàu. Bởi vì, lúc ban đầu, Việt Nam không phải là mục tiêu chiếm đóng lâu dài, mà chỉ là "bàn đạp" trung gian để đế quốc Pháp mở đường vào Trung hoa lục địa. (Các bạn có thể tham khảo thêm ở : Charles Fourniau, Vietnam - Domination coloniale et résistance nationale, 1858-1914).
Từ những năm 1895, Pháp thay đổi cái nhìn chiến lược, tập trung vào việc xây dựng hạ tầng cơ sở ở thuộc địa nhằm phát triển kinh tế, với tham vọng Sài Gòn cạnh tranh với Singapour và Hải Phòng cạnh tranh với Hồng Kông. Bản đồ năm 1921 cho thấy hệ thống đường xá (đường lộ và đường sắt) huyết mạch cơ bản ở các xứ Đông Dương đã được xây dựng. Hệ thống cơ sở hạ tầng này vẫn còn được sử dụng đến hôm nay.
Nếu so sánh các bản đồ cùng năm 1928, ta thấy Sài Gòn được xây dựng (từ bãi sình lầy) thành một thành phố quan trọng vào hạng nhứt trong khu vực.
Cùng thời, Sài Gòn bỏ xa Bangkok, mặc dầu Bangkok đã tồn tại từ nhiều thế kỷ trước.
Cùng thời, Sài Gòn cũng bỏ xa Singapour về mọi mặt. Mặc dầu Singapour có tầm quan trọng về chiến lược, là một hải cảng lớn nhứt vùng.
Nếu so sánh Sài Gòn với các thành phố (ở các nước Viễn Đông) sau 1945, thì sự khác biệt lại càng sâu sắc.
Singapour, Kuala Lumpur, trong thời kỳ Thế chiến II Nhật chiếm. Hai thành phố này chịu sự oanh tạc, bỏ bom của quân Đồng minh, bị tàn phá nhiều nơi. Ngoại trừ Sài Gòn (và Hồng Kông). Vì vậy ta không thể so sánh.
Về phát triển, trong thời kỳ là thuộc địa, Việt Nam cũng như Mã Lai, Indonésie, Ấn Độ... là sự phát triển của đế quốc Anh và Pháp. Ta thấy Pháp chủ trương can thiệp trực tiếp, nắm mọi quyền hành, xây dựng cơ sở hạ tầng cho các thuộc địa để phát triển kinh tế. Trong khi Anh chủ trương "kiểm soát", chia để trị, không xây dựng hạ tầng cơ sở, ngoại trừ Singapour.
Vì vậy, trong thời kỳ thuộc địa, từ giữa thế kỷ 19 đến sau Thế chiến II 1945, Pháp đầu tư nhiều cho thuộc địa hơn là Anh. Nhưng Pháp "đầu tư" dàn trải, còn Anh thì tập trung ở một, hai nơi. Do đó mọi so sánh VN với các nước trong vùng, trong thời kỳ này, để lấy ra kết luận về VN đều sai lầm từ cơ sở.
Trước đó, đế quốc VN không hề thua kém đế quốc Thái. Trong vụ tranh chấp để kiểm soát Campuchia, VN nhiều lần đánh bại quân Thái. Nam Vang đã từng mang tên là Trấn Tây Thành. Đáng tiếc là không có dữ kiện nào về kinh tế, quân sự... thời đó được ghi lại để tiện việc so sánh.
Còn so sánh VN, trước thời lệ thuộc Pháp, với Mã Lai hay Indonésie cũng thật là khó. Vì không có dữ kiện nào hết cả. Điều nên biết là Mã Lai và Indonésie đã bị Hòa Lan chiếm làm thuộc địa từ thế kỷ 17.
Sau Thế chiến II, cũng khó so sánh Sài Gòn với các thủ đô khác. Chiến tranh tàn phá không loại trừ nơi nào. Nhưng Sài Gòn vẫn giữ nguyên nét của nó.
Sau 1954, Sài Gòn lại đối phó với chiến tranh, trong khi Bangkok, Singapour, Kuala Lumpur, Jakarta, Manille, Hồng Kông, Seoul... tập trung nội lực để phát triển.
Nhưng nếu làm so sánh, nếu Singapour "có giá" hơn Sài Gòn, tại sao nó lại bị "trục xuất" ra khỏi liên bang Mã Lai năm 1965 ?.
Mọi so sánh đều khập khểnh. Và người ta chỉ có thể so sánh những gì có thể so sánh được.
Ta thử xem các bản đồ Sài Gòn, Singapour, Bangkok cùng năm 1928 để có một kết luận.
Bài viết ở đây còn rất sơ lược. Sẽ trở lại trong một bài viêt về Sài Gòn trong thời gian tới.
4-4
Nói về "Sài gòn Hòn ngọc Viễn đông".
Sài Gòn đã từng được mệnh danh là "Hòn ngọc Viễn Đông", "từng là số một của khu vực", đúng như lời của ông Đinh La Thăng vừa nhắc trên báo chí. Mơ ước của ông Đinh La Thăng, xây dựng lại để Sài Gòn trở thành "Hòn Ngọc Viễn Đông", là một ước mơ đẹp, chắc chắn sẽ được sự đồng tình và chia sẻ từ nhiều thành phần dân tộc. Vấn đề là xây dựng lại với mô hình nào ?
Sài Gòn, thành phố được quân viễn chinh Pháp xây dựng trên vùng đầm lầy, từ những năm 1860. Đô đốc Bonard dự kiến một thành phố "quan trọng", bao gồm Chợ Lớn, cho một dân số 500.000 người. Mô hình thành phố là một Paris thu nhỏ, (vì vậy Sài gòn ban đầu mệnh danh là Petit Paris - Paris thu nhỏ), như mong muốn của những thủy sư đô đốc Pháp, những người đầu tiên tham gia cuộc viễn chinh phân xẻ Trung Hoa. Những công trình đầu tiên xây dựng ở Sài Gòn được hiện do thợ thầy ở Hồng Kông, là những người được mời về, vì có kinh nghiệm về xây dựng trên vùng đầm lầy.
Xem hình: họa đồ Sài Gòn 1881, đúng với danh xưng Paris thu nhỏ, "Petit Paris", dưới nét bút của thuyền trưởng Favre. Nếu có dịp sang Paris, mọi người sẽ thấy Sài Gòn xưa không khác một góc phố nào đó của Paris, như trên bức họa hình.
Xem hình: Bản đồ Sài Gòn 1878, Nguồn Gallica, Thư Viện Quốc gia Pháp.
Việc Pháp chiếm các tỉnh Nam Kỳ (Cochinchine) chỉ là chuyện "tình cờ của lịch sử". VN ban đầu không phải là trọng tâm của sự bành trướng của đế quốc Pháp. Sau Đà Nẵng bị đánh phá, các tỉnh Nam Kỳ bị Pháp chiếm đóng. Mục đích của các thủy sư đô đốc Pháp lúc đó là xây dựng một hậu trạm để dưỡng quân, tạm thời chớ không tính chuyện lâu dài, vì mục đích của Pháp (và các đế quốc cùng thời) là phân xẻ đế quốc Trung Hoa (Chiến tranh Nha phiến lần hai 1856-1860).
Chỉ đến năm 1878, ở Pháp, tư tưởng quốc gia hợp lưu với luồng tư tưởng gọi là thực dân chủ nghĩa "colonialisme", trở thành chủ nghĩa đế quốc. Chính trị ở Paris bắt đầu xem việc chiếm thuộc địa như là "bổn phận khai hóa - devoir de civilisation". Từ đó, Bắc Kỳ (Tonkin), Trung Kỳ (An nam) cũng như Lào trở thành xứ bảo hộ của Pháp.
Đối thủ lợi lại của Pháp trong khu vực, về quân sự cũng như kinh tế chiến lược, dĩ nhiên là Anh Quốc.
Pháp có mặt ở Châu Á, trên danh nghĩa đế quốc thuộc địa, sau Anh (Tây Ban Nha, Hòa Lan, Bồ Đào Nha...) ít ra hàng 1/2 thế kỷ.
Anh Quốc, đồng thời với việc kiểm soát toàn cõi Ấn độ, cũng đã thiết lập nền thuộc địa vững chắc tại đảo Penang (Mã Lai, năm 1795), tại Singapour (1819) và eo biển Malacca từ năm 1824. Các nơi này tạo cho Anh hậu phương vững chắc để mở các cuộc viễn chinh sang Trung Hoa. Pháp quốc vì vậy là kẻ đến sau, nhưng lực lượng hải quân của Pháp không ngừng phát triển, đến năm 1893 thì có dấu hiệu vượt qua hải quân Anh Quốc.
Sự có mặt hai đế quốc, tại Pháp ở Đông Dương, và Anh ở Ấn Độ, Mã Lai, Miến Điện, Thái Lan... sẽ tạo ra những cơ hội đụng chạm nguy hiểm. Nhưng bắt đầu từ 1894, ỹ vào lực lượng hải quân, Pháp ra mặt chống Anh Quốc nhân tranh chấp Thái Lan.
Rốt cục Anh nhượng bộ Pháp để hai nước cùng quản lý Thái Lan, theo nguyên tắc condominium. Hai đế quốc xem Thái Lan như một quốc gia "trái độn", lằn ranh phân định ảnh hưởng. Nhờ ở điều này mà Thái Lan, trên danh nghĩa là thuộc địa của cả hai cường quốc Anh và Pháp, lại thoát cảnh lệ thuộc (như Việt Nam).
Nhưng ở phương diện cạnh tranh về hình ảnh trên trường quốc tế, hai đế quốc Anh và Pháp luôn có dịp là phô trương.
Sài Gòn (Hải Phòng và Hà Nội) được Pháp dốc sức xây dựng để cạnh tranh với Singapour và Hồng Kông của Anh.
Danh xưng "Hòn ngọc Viễn đông" xuất hiện để chỉ cho Sài Gòn, thủ đô Đông Dương về kinh tế (và ăn chơi), cạnh tranh với "hòn ngọc viễn đông" của Anh là Singapour.
Trong khi Hà nội được xây dựng để trở thành một "thủ đô văn hóa" của Đông Dương. Tất cả các trung tâm văn hóa của ba xứ Đông Dương đều tụ tập ở đây. Còn Hải Phòng, nỗ lực của Pháp để cạnh tranh với Hồng Kông cũng rất lớn lao. Điển hình là công trình xây dựng đường xe lửa Hải Phòng - Vân Nam, với cây cầu nổi tiếng thời đó là cầu Long Biên (trước đó có tên là Paul Doumer, viên toàn quyền chủ trương phát triển kinh tế các xứ thuộc địa).
Ý chí của Anh, xây dựng các thuộc địa để tìm lợi nhuận gián tiếp qua các quan chức địa phương. Còn Pháp, ngược lại, trực tiếp cai trị để tìm lợi nhuận kinh tế.
Singapour được Anh xây dựng như là một hải cảng hàng đầu Châu Á (có giá trị đến bây giờ). Sài gòn không phải là hải cảng mà chỉ là một thành phố xây dựng trên bờ sông, sâu trong đất liền.
Có người viết bài trên BBC, so sánh hơn thua giữa Sài Gòn và Singapour. Bài viết mở đầu :
"Việc ngợi ca "hòn ngọc Viễn Đông số một" và "Singapore mơ thành Sài Gòn" chỉ là suy nghĩ của những người Việt Nam Cộng hòa hoài cổ và dí dỏm sau 1975."
Dĩ nhiên danh xưng "Hòn ngọc Viễn Đông" không hề đến từ suy nghĩ của những người VNCH hoài cổ, mà đó là một sự thật lịch sử, là mục tiêu xây dựng thuộc địa của đế quốc Pháp. Việc này có thành hiện thực hay không, đọc lại sử sách của Anh, hay của các nước chung quanh ta có thể kiểm chứng.
"Hòn ngọc Viễn đông" cũng là lời tán dương trên đầu môi chót lưỡi của những chính trị gia, những nhà "sành điệu ăn chơi" sống trong thời kỳ đó.
Sài gòn, "Hòn ngọc Viễn đông", là chốn "phồn hoa đô hội", nơi nhà giàu khoe tiền của. Thời đó, tài phiệt quốc tế trong khu vực, nếu không đi Paris mua sắm, thì người ta qua Sài Gòn. Không ai đi Vọng Các hay Singapour. Chơi bời, cờ bạc, hút sách... cũng vậy, không ai đi qua các thuộc địa của Anh. Sài Gòn là nơi những "đại gia" các nước đến đốt tiền.
Lời phê bình của Phạm Quỳnh, dẫn trong bài viết, cho rằng hải cảng Singapour lớn hơn rất nhiều Sài Gòn và Hải Phòng. Điều này không làm giảm đi cái lấp lánh của "Hòn ngọc Viễn đông" tên gọi Sài Gòn. Đơn giản vì Sài gòn không phải là hải cảng.
Việc lựa chọn Sài Gòn (thay vì Đà Nẵng), với vị trí ở sâu trong đất liền, là do quyết định của thủy sư đô đốc Page, một quyết định thuần túy quân sự, với hai mục đích: một là phòng thủ và hai là nhằm mở rộng lãnh thổ cho đến Campuchia, Lào; sau đó mở đường sông Cửu Long sang Tàu. Vì lý do phòng thủ mà dự án "vòng đai Sài Gòn" được thiết lập, với vòng đai là một con kinh bề ngang 20m, sâu 6m, nối sông Sài Gòn qua kinh Thị Nghè. Dự án này sau đó bãi bỏ.
Cũng trong bài viết này dẫn lời phê bình của cụ Trần Trọng Kim, cho rằng Băng Cốc lớn hơn Hà Nội năm bảy lần. Thì cũng đúng thôi. Hà Nội không phải là Sài Gòn.
Từ khi nhà Nguyễn thiên đô về Huế, Hà Nội trở thành cái bóng của lịch sử. Cho đến cuối thế kỷ 19, tại Bắc Kỳ, tinh thần hoài Lê vẫn còn rất mạnh. Loạn lạc thường xuyên nổi lên. Nguyên nhân vì sĩ phu Bắc Hà không chấp nhận việc dời đô. Thăng Long là thủ đô ngàn năm thì không thể hạ xuống dưới Huế và Sài Gòn được.
Riêng câu "50 năm trước, ông Lý Quang Diệu nhìn về Sài Gòn và mơ ước Singapore sẽ được như Sài Gòn" mà bài viết có nhắc, thì chỉ mới xuất hiện sau này. Người ta cho rằng ông Lý Quang Diệu có nói vậy. Vấn đề là không ai ghi rõ ông này nói câu đó ở đâu? lúc nào?
Điều chắc chắn là không có người VNCH hoài cổ nào "sáng tác" ra được một lời như vậy.
Nếu so sánh "bề thế", Sài gòn hay Singapour lớn, như ý kiến của bài viết trên BBC, thì việc so sánh cũng không ổn. Singapour là một đảo nhỏ, không có đất để mở rộng thành phố. Vì vậy làm sao so sánh được với Sài Gòn ? Mà độ lớn nhỏ của một thành phố đâu có nói lên được điều gì ? Quan trọng là hạ tầng cơ sở của thành phố đã được xây dựng ra sao.
Một cách đơn giản để so sánh Sài Gòn với Singapour (và Bang Kok), là so sánh các bản đồ của các thành phố này (cùng thời kỳ).
Việc làm này hết sức dễ dàng vì hiện nay các tập bản đồ Indochine, Thái Lan, Singapour... có thể tham khảo tự do trên các trang web.
Bản đồ Sài Gòn, Băng Cốc và Singapour cùng năm 1928. Ta thấy, trên bản đồ, mức độ qui mô của Sài Gòn vượt xa Băng Cốc (và dĩ nhiên Singapour).
Hình:
Điều nên biết, các nước được xếp vào vùng Viễn Đông gồm có các nước : Việt, Miên Lào (là ba nước Đông dương thuộc Pháp), Mã Lai, Singapour, Thái Lan, Indonésie, Phi, Đại Hàn, Trung Quốc và Nhật. Nước nào cũng có "Hòn ngọc Viễn đông" của nước đó, do tự phong hay do "quốc tế" đặt tên.
Sự cạnh tranh của hai đế quốc Anh và Pháp, thực ra là Pháp cạnh tranh với Anh (do ganh tị) vì vậy, vô hình chung, Việt Nam hưởng lợi. Từ những năm 1895 Pháp đã tập trung vào việc xây dựng hạ tầng cơ sở ở thuộc địa nhằm phát triển kinh tế, với tham vọng qua mặt Anh quốc tại Singapour và Hồng Kông.
Bản đồ năm 1921 cho thấy hệ thống đường xá (đường lộ và đường sắt) huyết mạch cơ bản ở các xứ Đông Dương đã được xây dựng. Hệ thống cơ sở hạ tầng này vẫn còn được sử dụng đến hôm nay.
Bản đồ đường xá, cầu cống năm 1921.
Nếu so sánh về hạ tầng cơ sở, cùng thời, Sài Gòn bỏ xa Băng cốc và Singapour. Dầu vậy, Singapour có tầm quan trọng lớn về chiến lược, kiểm soát hầu hết các hải đạo thông thương Âu-Á. Singapour cũng là một hải cảng lớn nhứt vùng, Sài Gòn không thể so sánh (vì không phải là hải cảng).
Nếu so sánh Sài Gòn với các thành phố (ở các nước Viễn Đông) sau 1945, thì sự khác biệt lại càng sâu sắc.
Singapour, Kuala Lumpur, trong thời kỳ Thế chiến II Nhật chiếm, sau đó chịu sự oanh tạc, bỏ bom của quân Đồng minh, bị tàn phá nhiều nơi. Ngoại trừ Sài Gòn (và Hồng Kông). Vì vậy ta không thể so sánh.
Bài viết đã dẫn trên BBC cũng đưa ra các số liệu về kinh tế, cho rằng GDP Mã Lai thường lớn gấp đôi đến gấp 3 lần Việt Nam. Nguyên văn dẫn lại như sau:
"Theo các hồ sơ lưu trữ cũng như các nghiên cứu kinh tế Châu Á suốt thế kỷ 20, GDP Việt Nam đều có vị trí rất thấp. Ví dụ, theo thống kê của hai giáo sư kinh tế học Jean-Pascal Bassino và Pierre van der Eng, từ 1913 đến 1970 kinh tế Việt Nam (cả miền bắc và miền nam) hầu như luôn thấp hơn Malaya (tiền thân của Malaysia với Singapore là thủ đô kinh tế), Philippines, Thái Lan (không có số liệu trước 1950).
Tùy thời điểm, GDP Malaya thường gấp đôi đến gấp 3 lần Việt Nam, thì lẽ nào thủ phủ kinh tế của nó chỉ là một làng chài nhỏ và mơ được như Sài Gòn!"
Cái sai thứ nhứt (của đoạn dẫn trên), là Singapour chưa bao giờ là "thủ đô kinh tế" của Mã Lai hết cả.
Thuở ban đầu, Singapour là một lãnh thổ thuộc bang Johor, sau đó trở thành thuộc địa của Anh (1819). Khi độc lập, bang Johor gia nhập Liên Bang (gồm cả Singapour), nhưng sau đó Singapour bị đuổi ra khỏi Liên bang Mã Lai (1965).
Cái sai thứ hai là tài liệu thống kê của Jean-Pascal Bassino và Pierre van der Eng không hề ghi GDP của VN thấp hơn Mã Lai đến hai, ba lần.
Bảng thống kê dưới đây, tác giả cho rằng của hai giáo sư kinh tế vừa ghi.
Tác giả dựa vào đó để kết luận rằng GDP của VN thấp hơn GDP Mã Lai đến hai, ba lần. Vấn đề là tác giả đã sai lầm trong việc diễn giải số liệu toán học. Trên bảng ghi rõ: Logarithme của Y (chớ không phải Y, biểu diễn GDP).
Thứ ba, kiểm chứng lại tài liệu đã dẫn của tác giả: không thấy ghi những dữ liệu mà tác giả đã trình bày trong bài viết.
Trong khi số liệu từ tác giả Anngus Maddison trong "Etudes du Centre de Développement L'économie mondiale une perspective millénaire", OCDE 2001, trang 159.
Bảng A3-c, GDP đầu người, tính bằng đô la quốc tế 1990:
1913 : VN 754; Mã Lai 899; Singapour 1279; TQ 552; Phi 1066; Thái Lan 835.
1950: VN 658; Mã Lai 1559; Singapour 2219; TQ 439; Phi 1070; Thái Lan 817.
Dầu vậy số liệu GDP đầu người không nói lên được điều gì.
Dưới thời thực dân, người dân VN, ở miền Trung và miền Bắc, một cổ hai tròng. Một tròng của thực dân và một tròng của quan lại.
Miền Nam thì một tròng của thực dân và một tròng của địa chủ. Vì vậy GDP đầu người rất chênh lệnh, tương tự VN hiện nay. Những người có chức quyền thì tiền xài không hết, trong khi những người dân khác thì "lần không ra".
GDP ở Sài Gòn tính bằng trung bình của người (giàu có đốt tiền theo kiểu Hắc, Bạch nhị công tử) hay người nông dân ?
Vì vậy, kết luận của tác giả bài viết trên BBC hết sức sai lầm và phiếm diện. Sai lầm vì không nắm vững lịch sử bành trướng thuộc địa của các đế quốc Anh và Pháp. Sai lầm vì diễn giải sai những dữ kiện toán học đồng thời dữ kiện đưa ra không đúng với tư liệu nguồn. Sai lầm khác là so sánh những thứ không thể so sánh.
Trở lại ý kiến của ông Đinh La Thăng, làm thế nào để Sài Gòn lấy lại hình ảnh của "Hòn ngọc Viễn đông" ngày xưa ?
Theo tôi, có nhiều mô hình để nghiên cứu. Thứ nhứt mô hình Kuala Lumpur, với Tiến sĩ Mahathir. Mô hình này tách Kuala Lumpur thành một "tiểu bang tự trị", có thẩm quyền như các tiểu bang khác. Kuala Lumpur trở thành trái tim kinh tế của Mã Lai, với nhiều cơ sở công kỹ nghệ tiên tiến về dầu hỏa, điện tử, cơ khí...
Thứ hai, mô hình Singapour với Lý Quang Diệu. Điều này sách vở VN có nhiều người đề cập.
Thứ ba mô hình "đặc khu kinh tế" của Đặng Tiểu Bình.
Ta thấy các mô hình này đều thành công, vì nó phù hợp với tình hình địa lý, chính trị, nhân văn của các nước.
Việt Nam hoàn toàn khác. VN có nhiều tiềm năng để qua mặt các "đặc khu kinh tế" theo kiểu Đặng Tiểu Bình hay mô hình Kuala Lumpur của TS Mahathir. Nhưng VN không có cái gì để so sánh với Singapour.
Vấn đề là chế độ chính trị. Chưa thấy mô hình chế độ XHCN nào kinh tế phát triển bền vững. Đó là chưa nói đến các hệ quả của nền công an trị. Việc này đã tạo sự thù hận, đào hố sâu ngăn cách giữa những thành phần dân tộc. Dĩ nhiên, về lâu dài, đó là yếu tố cản trở mọi phát triển cũng như đe dọa sự ổn định trong xã hội.
5-4
Tôi thấy hình như những người "Bắc kỳ, biết ný nuận" có vẻ không hài lòng khi ông Đinh La Thăng muốn phát triển Sài Gòn để lấy lại danh hiệu "hòn ngọc Viễn Đông" ngày xưa.
Sau 1975, Sài Gòn đã không còn "lấp lánh" nữa. Nó bị "cào bằng". Người Sài Gòn (bao gồm Chợ Lớn) một số đông bị tịch thu của cải, nhà cửa, sau đó đuổi đi "kinh tế mới". Số khác, thuộc gia đình quân nhân công chức, người trụ cột gia đình bị đày ải, gọi là "học tập cải tạo", vợ con ở nhà rốt cục cũng phải bán nhà (hay "giao" nhà cho nhà nước) để đi về quê, hay đi kinh tế mới. Một số không nhỏ khác thì vượt biên ra sống nước ngoài.
Sài Gòn từ đó cũng thay tên đổi họ.
Hạ tầng kinh tế, công kỹ nghệ miền Nam, phần lớn đặt tại Sài Gòn, bị tháo gỡ, phế bỏ. Những cơ xưởng sản xuất hàng "nhu yếu phẩm", như sữa, kem đánh răng, các việc bào chế thuốc tây v.v... hay các nhà máy cơ khí, chế tạo xe hơi, đóng tàu, nhà máy xi măng... đã từng sản xuất các mặt hàng đủ dùng cho cả nước. Dĩ nhiên các mặt về cơ khí, như xe cộ, thì còn rất sơ khai, nhưng Sài Gòn đã tiên phong, trước cả Seoul của Nam Hàn, hay trước cả Thái Lan, Mã Lai...
Sau 1975, Sài Gòn chết đứng như "chúa bị đóng đinh trên cây thánh giá".
Dầu vậy, sau khi "đổi mới", quán tính năng động của người Sài Gòn đã vực dậy nền kinh tế cả nước, là đầu tàu để VN phát triển.
Vấn đề có trở ngại, VN phát triển mãi không xong. Sài Gòn oằn oại muốn bay lên, rốt cục chạy vòng quanh như con chịp cánh cụt. Trở ngại do đâu ?
Dĩ nhiên là do chế độ chính trị.
Nhưng một nguyên nhân, bắt nguồn từ xa xưa, đã từng làm cho VN mất nước, đó là vấn đề kỳ thị vùng miền.
Việc dân Bắc hà, điển hình dân Hà Nội, ganh tị với Huế, sau này với Sài Gòn, là điều cần phải nghiên cứu lại.
Từ nhiều thế kỷ trước, khi nhà Nguyễn dời đô về Huế, dân Bắc Kỳ đã thù hận vua chúa nhà Nguyễn. Đến nay sử sách (do miền Bắc áp đặt lên cả nước) vẫn xem Gia Long và các vua nhà Nguyễn là "nối giáo cho giặc", là "cỏng rắn cắn gà nhà".
Thực ra công lao của các vua chúa nhà Nguyễn rất lớn đối với dân tộc VN. Bờ cõi đất nước rộng lớn hôm nay là nhờ nhà Nguyễn.
Sau khi miền Nam bị Pháp chiếm, lý ra đất này thuộc về Pháp vĩnh viễn (vì đó là nhượng địa). Năm 1946, ông Hồ Chí Minh đã ký "hiệp ước sơ bộ" với Pháp đã nhìn nhận nước Việt Nam chỉ gồm Bắc và Trung kỳ. Nam Kỳ thuộc về Pháp. Nhờ ông Bảo Đại vận động mà miền Nam mới trả lại cho VN (thay vì trả lại cho Sihanouk). Tức là việc "bảo toàn lãnh thổ", cho dầu chê ông Bảo Đại cách mấy, thì công lao của Bảo Đại vẫn lớn hơn Hồ Chí Minh.
Nhiều ý kiến cho rằng vì nhà Nguyễn và VN bị mất nước vào tay Pháp. Thật là cái nhìn thiển cận. Toàn khu vực thời đó, ngoài Nhật kịp thời canh tân để đuổi kịp Tây phương, hầu hết các nước còn lại đều sa vào vòng lệ thuộc.
Nếu Pháp không chiếm VN thì Anh sẽ chiếm. Nếu Pháp không đánh ra Bắc kỳ thì Anh cũng đã chiếm Bắc kỳ.
Nếu có đọc lịch sử (một cách đúng đắn), nếu Pháp không can thiệp vào Bắc kỳ kịp thời thì miền bắc, cho tới Quảng Bình, đã thuộc về Trung Hoa (do âm mưu của Lý Hồng Chương).
Việc Pháp chiếm dễ dàng Hà Nội cũng cần xét lại.
Vì sao một nhúm quân Pháp lại có thể hạ được thành Hà Nội, dầu quan thủ thành đã biết trước và đã tổ chức phòng thủ ?
Bởi vì khi quân Pháp phá thành thì dân chúng tụ lại đứng xem, như là chuyện không phải của mình. Với dân chúng như vậy, không mất nước mới là chuyện lạ!
Nguyên nhân do đâu?
Sau khi kinh đô dời về Huế, sĩ phu Bắc Hà thù hận nhà Nguyễn. Giặc giã nổi lên liên miên. Tinh thần "hoài Lê", thực ra là tinh thần kỳ thị vùng miền, đã khiến dân miền Bắc nổi lên làm giặc, chống lại triều đình Huế.
Cái tinh thần "kỳ thị vùng miền" này vừa qua đã được bộc lộ: tổng bí thư phải là dân Bắc kỳ, biết lý luận.
Thì những kế hoạch muốn phát triển Sài Gòn của Đinh La Thăng sẽ bị phá hoại ngay thôi. Bắt đầu từ những "sĩ phu bắc hà" với những bài viết đả phá Sài gòn "hòn ngọc Viễn đông", công kích Đinh La Thăng.
Đối với tôi, việc phát triển Quảng Ngãi (theo lối Võ Văn Kiệt với cụm công nghiệp Dung Quất), nếu bỏ qua yếu tố lợi nhuận kinh tế, thì tôi cũng ủng hộ. Phát triển Hà Nội, Hải Phòng hay một nơi nào đó, tôi đều ủng hộ. Làm lợi cho đất nước thì mình lấy lý do gì để chống phá ?
Việc Lý Quang Diệu mơ ước Việt Nam và đề cao Sài Gòn, báo chí trong nước đăng tải hàng loạt. Đó là một sự thật.
Sài gòn trước kia được quốc tế mệnh danh là "Hòn ngọc Viễn đông" cũng là một sự thật.
Nơi nào cũng là đất nước, thì lý do gì lại bịa ra chuyện, bôi nhọ những người "Việt Nam Cộng Hòa hoài cổ", như một bài báo vừa qua trên BBC ?
Người Việt Nam Cộng hòa có là thế nào, thì cũng là người Việt Nam.
Ngay cả BBC, điển hình (về nhân sự) cho khẩu hiệu của ông Trọng, "Bắc kỳ, biết lý luận".
Một bài viết bịa đặt hoàn toàn, từ dữ kiện lịch sử cho tới số liệu thống kê, lại được đăng. Do trình độ thẩm định, hay do "Bắc kỳ biết lý luận"?
Dầu thế nào, bất kỳ kế hoạch nào nhằm phát triển quốc gia, tôi đều ủng hộ và sẵn sàng góp ý.
Tôi không đồng ý việc ông Đinh La Thăng, một người Bắc kỳ, lên lãnh đạo Sài Gòn. Điều này trái với tập quán hành chánh. Anh không phải là người địa phương, anh biết gì công việc (kinh tế, văn hóa, giáo dục...) ở đây mà lên lãnh đạo. Nhưng tôi lại ủng hộ, nếu ông Thăng muốn phát triển Sài Gòn, muốn lấy lại danh hiệu "Hòn ngọc Viễn Đông" cho Sài Gòn.
6-4
Tin tức cho biết Tào Mạnh Dũng, sau khi hội kín với hai con là Tào Nghị và Tào Triết ở Trấn Tây thành vào ngày con cá tháng tư hôm trước, đã lấy quyết định "bó chiếu qui hàng" Gia Cát Trọng (tự Khổng lú) và Lưu Quang Côn. Như vậy, Niểng đầu Tướng quân, vốn là phó soái của Tào Mạnh Dũng ngày trước, sẽ lên làm tể tướng.
Niểng đầu tướng quân từ nay "đường ba bước thênh thang cử bộ..."
Nguồn tin này có thể làm nhiều người thất vọng. Sự nghiệp của Mạnh Dũng từ nay là đống tro tàn. Nhưng theo dự đoán của Lốc cốc tử, quyết định của Tào Mạnh Dũng là sáng suốt, biết nương theo mệnh trời. Bởi vì, Tào Mạnh Dũng có thể "lưỡng bại câu thương" với định thủ. Tức là tao chết thì mày cũng bị thương nặng. Nhưng nghĩ lại thì còn sự nghiệp của hai con Tào Nghị và Tào Triết. Còn sống, còn đất dung thân thì còn ngày quật khởi.
Bài học liều mạng của đám tướng lãnh hữu dũng vô mưu của VNCH ngày xưa, cứ muốn tiếp tục bóp cò trong khi đạn không còn viên nào. Không biết thời thế, không biết tiến thoái, rốt cục cả giang sơn bị sụp đổ.
Tào Mạnh Dũng tiến thoái đều rất "lăng ba vi bộ", một tiếng cũng đảng mà hai tiếng cũng đảng. Đảng ở trên đầu mà đảng cũng ở trong tim. Vì vậy Khổng lú và Lưu Quang Côn có muốn diệt Dũng, hay muống "bứng gốc" Tào Nghị, thì cũng e ngại đám quần thần dị nghị.
Bởi vậy, giữ được mạng sống là còn giữ được "sinh lộ". Chớ vãn tuồng như VNCH, thì bây giờ có nói gì cũng bị người ta chê là nói dóc.
6-4
Vừa mới viết tiếp chuyện "cá tháng tư", về quyết định "bó chiếu qui hàng" của Tào Mạnh Dũng, thì bên BBC đăng bài "vì sao lãnh đạo VN chọn Niểng đầu tướng quân"? Chuyện "cá tháng tư" coi bộ lai rai cho hết tháng tư mà chưa hết chuyện.
Trong bài BBC có dẫn ý kiến của nhà bác học người Tây dương tên Cát Lai. Lốc cốc tử không chia sẻ nhận định của nhà bác học này.
Thực ra là dễ ợt. Chọn Niểng đầu tướng quân làm tể tướng là dọn sân cho Lưu Quang Côn nắm trọn quyền hành trong triều.
Thời Mạnh Dũng, tể tướng quyền hành quá lớn, đến đỗi gọi là "lộng hành". Khổng lú (tức Gia Cát Trọng), theo thứ bậc trong triều là đứng trên, mà bị Mạnh Dũng coi không ra gì. Có lần Khổng lú tức hộc máu, lên truyền hình mếu máo, thiệt tình tội nghiệp!
Vì vậy, Khổng lú quyết ra mưu. Lú cùng Lưu Quang Côn, vốn là Cẩu đầu tướng quân dưới trướng Mạnh Dũng, lập kế bẻ giò Mạnh Dũng. Trận TW (số mấy quên rồi), Lú lập đàn cầu mưa, mà thực ra là chơi trò bóp dái, làm cho Mạnh Dũng bất ngờ chỏng gọng té ghế.
Bởi vậy, từ rày về sau, tránh việc chuyên quyền người làm tể tướng thì không ai hợp cách bằng Niểng đầu tướng quân.
Tin Lốc cốc tử đi bà con. Thiên cơ tuy bất khả lậu nhưng cũng hé ra chút cho bà con biết. Thời gian không lâu lắm đâu, chức tể tướng chỉ là "cái cầu chì" cho "chủ tịch nước", theo kiểu tổng thống ở Đài Loan. Còn không là dẹp luôn tể tướng, theo kiểu Mỹ.
Điều lo ngại là sắp tới, Lưu Quang Côn có "hiền đức" như Lưu Bị ngày trước hay không ?
Chuyện này chắc không. Cái chữ "côn" ở đây là "côn đồ".
7-4
Ý kiến của tôi nói về kỳ thị vùng miền ngày hôm qua có vài "comments" đáng chú ý.
Thí dụ, về lịch sử, trường hợp ông Hồ ký hiệp ước sơ bộ 1946. Có người "như đỉa phải vôi" khi thấy tôi viết "ông Hồ nhìn nhận Việt Nam chỉ gồm Bắc kỳ và Trung kỳ" và "Nam kỳ thuộc về Pháp".
Những người sinh ra, lớn lên và chỉ học "sử phịa" trong nước, thì chắc chắn ai cũng có phản ứng như vậy.
Những người này cần nên biết, về vấn đề lãnh thổ, ông Hồ đã từng chấp nhận với Pháp, nước VNDCCH do ông và các đồng chí lập nên chỉ là "một nước tự do thuộc Liên bang Đông dương". Theo ý nghĩa pháp lý, "quốc gia" VNDCCH của ông Hồ chỉ là một "tiểu bang" thuộc về một Liên bang (Đông dương) mà thôi. Tức là quyền hành của ông Hồ chỉ tương đương với một "thống sứ", ở dưới quan toàn quyền.
Vấn đề về lãnh thổ khác, là công hàm 1958 của ông Phạm Văn Đồng. Người ta kết tội ông Đồng nhưng người có trách nhiệm cao nhứt trong nhà nước là ông Hồ (chớ không phải ông Đồng). Cũng dưới thời ông Hồ, theo nội dung của báo Nhân Dân, vùng biển Hoàng Sa đã được nhìn nhận là "vùng biển của Trung Quốc".
Vì vậy, nếu chỉ đọc lịch sử theo lối "đường một chiều", không có ngõ ngách để đi ra, thì kiến thức (và trí tuệ) con người là kiến thức của con ếch ngồi đáy giếng.
Ý kiến khác, có người phê bình, bây giờ vấn đề "hạn hán ở miền Nam" và Biển Đông đang nóng bỏng mà không viết lại đi viết vấn đề kỳ thị vùng miền.
Thật cũng là việc phê bình theo lối ếch ngồi đáy giếng.
Bởi vì, về Biển Đông, tôi là một trong những người đầu tiên, từ ít ra 15, 20 năm trước, đã công bố, trình bày những vấn đề lịch sử, pháp lý về chủ quyền của VN tại HS và TS. Đến nay, hình như tôi là người (duy nhứt) đề nghị được một giải pháp hóa giải công hàm 1958 cũng như những hệ lụy pháp lý tai hại của VNDCCH để lại.
Còn vấn đề khô hạn ở miền Nam, tôi cũng là một trong những người đầu tiên khuyến cáo và đề nghị ra giải pháp ngăn chặn. Sách vở, tài liệu viết về những nguy hiểm của việc xây đập trên sông Cửu Long đã có rất nhiều, tác giả là người VN hay người nước ngoài. Vấn đề là không thấy ai đưa được giải pháp hữu hiệu ngăn chặn việc xây đập.
Tôi đã từng khuyến cáo, từ khi chưa có nước nào xây đập, không ai có thể ngăn cản các nước thượng nguồn như TQ, Lào, Miến và Campuchia xây đập trên sông Cửu Long, đoạn trên lãnh thổ của họ.
Không ai nhìn thấy sự thật này để chấp nhận nó.
Bây giờ đập người ta đã xây, nước đã bị chặn, nhiều nơi đã bị hút đem xả vào nơi khác (như Thái Lan), thì biểu viết cái gì bây giờ?
Phải chi nghe lời tôi ngày xưa, thay vì ngăn cản, thì nên đầu tư, hợp doanh xây dựng đập với người ta. Điều quan trọng ở việc nước sông Cửu Long cạn dòng là mình có thẩm quyền xả nước hồ chứa ở các đập hay không? Mình có thẩm quyền "cấm" việc hút nước sông Cửu Long sang khu vực khác hay không? Nếu làm những chuyện này, từ 20 năm trước, thì bây giờ đâu đến đỗi ?
Nhưng một góp ý, theo tôi là "thú vị", khi so sánh việc đảng CSVN chỉ định Đinh La Thăng làm bí thư Sài Gòn. Theo tập quán hành chánh của CSVN, bí thư tỉnh ủy của một tỉnh, hay thành phố nào đó, luôn là người của địa phương. Ông Đinh La Thăng, một người gốc Bắc Kỳ, lên nắm Sài Gòn, việc này đúng theo chính sách "bí thư phải là Bắc kỳ, biết ný nuận" của Gia Cát Trọng, tự Khổng Lú.
Góp ý nói rằng, Đinh La Thăng lên làm bí thư, cũng tương tự như việc Pháp phong cho Paul Doumer lên làm Toàn quyền Đông dương. Vấn đề là xây dựng đất nước.
Toi thấy so sánh này hết sức thú vị, là đề tài cho một status trong nay mai.
Bởi vì, Bắc kỳ, theo ý kiến này, là một thế lực thực dân như là thực dân Pháp.
Ngày xưa VN lệ thuộc Pháp. Biết bao nhiêu tài nguyên của đất nước, biết bao nhiêu của cải của dân chúng làm ra... phần lớn đều bị rút về xây đắp cho mẫu quốc. Dân VN đáng lẽ là một dân tộc giàu có do siêng năng cũng như đất đai, tài nguyên phong phú, lại trở thành một dân tộc có GDP chỉ "sàng sàng" với khu vực.
Sẽ là thú vị biết bao nhiêu khi nghiên cứu về nạn "thực dân Bắc Kỳ" lên miền đất nước ở phía Nam.
Người ta viết về kỳ thị vùng miền vì muốn cảnh báo đất nước VN sẽ bị phân liệt vì nạn kỳ thị, như dưới thời Tự Đức. Không ai viết như vậy với mục đích đưa đất nước vào tình trạng dưới thời Tự Đức. Một trí thức, dầu tài giỏi cách mấy, chỉ có khả năng dự báo. Còn việc đưa đất nước về đâu là do lãnh đạo.
8-4
Bài viết của ông Trương Thái Du trên BBC còn phạm nhiều sai lầm trầm trọng khác (mà tôi không kịp nhắc trong bài viết phản biện đăng trên BBC, dẫn lại dưới đây).
Thứ nhứt là lẫn lộn tác giả và tác phẩm.
Theo kết quả dò xét trên internet, không có tác giả nào mang tên Nikki Cooper thuộc đại học Bristol viết cuốn "France in Indochina: Colonial Encounters", in năm 2001. Mà chỉ có tác giả Nicola Cooper viết tập "France in Indochina: Colonial Encounters". Tác giả này có tập luận án tiến sĩ 1997, tựa đề "French Colonial Discourses: the Case of French Indochina 1900-1939".
Hai tác giả này (có thể) nghiên cứu về Indochine nhưng hai người hoàn toàn khác nhau.
Mọi người có thể tìm đọc trực tiếp luận án của Nicola Cooper trên net.
Thứ hai, ông Trương Thái Du hoặc đọc mà không hiểu tiếng Anh, hoặc là suy diễn chủ quan ý kiến của Nicola Cooper.
Trong luận án, TS Nicola Cooper dẫn Philippe Franchini nói về "Hòn ngọc Viễn đông". Trong tủ sách của tôi có vài cuốn (Franchini cộng tác hay tác giả).
Kiểm chứng ý kiến của Franchini trong cuốn "Saigon 1925-1945".
Trang 20, tác giả Franchini viết : La "Belle colonie" commence sur le bateau. Une traversé initiation pour les futures colons, avant la découverte de Saigon, la "Perle de l'Extreme-Orient"...
Tạm dịch: (cuộc du hành đến) thuộc địa xinh đẹp bắt đầu trên thuyền. Chuyến vượt (biển) khai môn cho những kiều dân tương lai, trước khi khám phá Sài gòn, "Hòn ngọc Viễn đông".
Rõ ràng Franchini nói Sài gòn là "Hòn ngọc Viễn đông".
Trong luận án của Nicola Cooper, ngoài đoạn chú dẫn Franchini nói về (Sài gòn, Hòn ngọc Viễn đông), có đoạn dẫn khác, nói về cuộc "Expositon Coloniale" tại Vincennes năm 1931, (Cuộc Đấu xảo các xứ Thuộc địa tại Vincennes năm 1931).
Đoạn này tác giả viết "Indochine" được xem như là "la Perle de l'Extreme-Orient".
Vấn đề là, thuộc địa của Pháp lúc đó, ngoài Đông dương, còn có các xứ Bắc Phi. Mục đích của Pháp trong cuộc đấu xảo kỳ này là biểu dương (nói thẳng là khoe khoang) công trình và lực lượng của họ tại các thuộc địa cho các cường quốc cùng thời (nhứt là đế quốc Anh).
Cụm từ "Perle de l'Extreme-Orient" chỉ cho Indochine ở đây phải hiểu là tác giả nhấn mạnh sự nổi bật của các xứ Đông dương so với các xứ Bắc Phi (trong cuộc đấu xảo).
Nếu chỉ từ điểm này lấy làm nền tảng viết bài, không phải để biên khảo, mà để kết luận những người "Việt Nam cộng hòa hoài cổ" những điều họ không có (nói), rõ ràng đây là sự vu khống.
Toàn bài viết của ông Trương Thái Du trên BBC không có một điểm nào dựa trên cái "thật"; cái "đúng".
Tập sách "France in Indochina: Colonial Encounters" với tác giả "Nikki Cooper" là không thật.
Ngồn trích dẫn đã không thật, mà việc diễn giải nội dung trích dẫn đi quá xa sự thật (để trở thành không thật).
Các việc trích dẫn Phạm Quỳnh hay Trần Trọng Kim đều không đúng cách. Vì không tác giả nào nói về Sài gòn (để so sánh với Singapour hay Vọng Các).
Ngoài ra còn những chi tiết cho thấy ông Trương Thái Du có sự hiểu biết rất khiêm nhường về lịch sử Singapour và Mã Lai, như việc cho rằng Singapour là thủ đô kinh tế của Mã Lai.
Nhưng tệ hơn cả là việc suy diễn biểu đồ thống kê để lấy kết luận hàm hồ (GDP Mã Lai cao gấp hai, ba lần VN).
Thật là việc chẳng đặng đừng. Thái độ phách lối quá đáng của ông Trương Thái Du (và bạn bè của ông) qua những comments trên facebook, bắt buộc tôi phải mất thì giờ (vì chuyện ruồi bu này).
Bà con thông cảm.
9-4
Người cộng sản thì có "bí danh". Người miền Nam thì thường hay có "hỗn danh".
Người có nhiều bí danh, có lẽ là ông Hồ. Đọc tài liệu trên internet, sơ sơ ông có 175 cái. Nghe nói họ cần có bí danh là để thuận tiện trong hoạt động bí mật. "Bí danh" thường do tự mình đặt ra.
Còn "hỗn danh", sản phẩm của miền Nam, phổ biến trong giới "lang bạt kỳ hồ", những tay "anh chị", những người "nổi tiếng".... "Hỗn danh" thường do người khác đặt cho mình, từ những đặc điểm, ưu điểm hay khuyết tật mà mình có. Người đặt một "hỗn danh" cho người khác chưa chắc là có ý ác với người đó. Có thể họ đặt vì thân mật, vì kính trọng, nể phục, khen ngợi hay vì sợ hãi.
"Tứ trụ triều đình" dĩ nhiên phải có hỗn danh, vì họ là những người không chỉ "nổi tiếng" mà còn nắm cả vận mệnh của dân tộc và đất nước.
"Tứ trụ" triều trước, bốn ông Gia Cát Trọng (tự Khổng lú), Tư Sùi (có người gọi là Tư Sâu), Ba X và Hùng hói.
Cái tên Gia Cát Trọng là do tôi đặt. Trước kia ông này có tên là "Trọng lú". Không biết ai đặt cái hỗn danh "lú" cho ông này. Nhưng phải nói, người đặt tên chắc "có coi ngày". Cái tên này dính cứng với ông Trọng. Nói tới tên Trọng là người ta nghĩ ngay đến "lú".
Theo tôi, cái tên này chỉ (có thể) đúng với một vài hình thức bề ngoài, chớ không hề thể hiện được cá tính của ông Trọng.
Theo tôi, ông Trọng là người có mưu kế sâu xa.
Người có mưu kế sâu xa thường là "mưu sĩ". Ông Trọng còn cao siêu hơn mưu sĩ.
Cái siêu của ông Trọng là áp dụng được mưu kế, hoạch định được mưu kế, biến mưu kế trở thành một "trận đồ", một chương trình hành động nhằm hạ đối thủ.
Trong "trận chiến" ĐH 13 vừa rồi, 80% ai cũng nói rằng ông Ba X sẽ lên TBT. Từ chuyên gia thượng thặng nước ngoài cho tới học giả khả kính nhiều kinh nghiệm trong nước. Kể ra là không biết bao nhiêu tên tuổi. Ai cũng đồng ý một điều là ông X lên làm TBT.
Vậy mà ông X bị lật.
Tôi là một trong những người hiếm hoi nghĩ rằng ông Trọng sẽ thắng.
Khi mà Hoa Kỳ chấp thuận đón tiếp ông Trọng tại Nhà Trắng thì ông Trọng đã ghi được một bàn thắng ngoạn mục. So với tất cả các TBT tiền nhiệm, ông Trọng đã đạt được thắng lợi cao nhứt: Mỹ nhìn nhận chế độ chính trị của VN. Có thể công lao là do phe "ngoại giao", hay còn nhờ "thời thế". Dầu thế nào, đây là một điểm son của ông Trọng mà chưa ai đạt tới. Trong khi ông X, sau 10 năm làm thủ tướng, có nhiều dấu hiệu chuyên quyền. Tôi có viết rằng, nếu ông này lên TBT thì sẽ có một "đảng ở trong đảng".
Vì vậy ông Trọng rất xứng danh là "Gia Cát Trọng". Gia Cát là lấy từ Gia Cát Lượng, một mưu sĩ (rất) nổi tiếng thời Tam Quốc. Gia Cát Lượng có danh hiệu là "Khổng Minh". Vì vậy danh của ông Trọng phải là "Khổng lú".
Khổng lú Gia Cát Trọng tôi thấy rất xứng cho ông Trọng.
Còn ông Lưu Quang Côn, hỗn danh tôi đặt cho Trần Đại Quang. Ông này có ngoại danh là "Cẩu đầu tướng quân".
Họ Lưu là họ của Lưu Bị, một nhân vật được xem là "hiền đức", người đã mời được Khổng Minh ra giúp, làm nên thế "chân vạc" Tây Thục, cân bằng với Đông Ngô của Tôn Quyền và Bắc Ngụy của Tào Tháo.
Đặt họ Lưu cho Trần Đại Quang có thể là quá cao (cho ông Quang). Nhưng cũng hợp cảnh vì nhờ Khổng Lú mà Quang Côn mới lên làm "vương" đất Vẹt.
Còn chữ Côn là lấy từ "Công". Trần Đại Quang nguyên là đại tướng, bộ trưởng bộ công an. Mà "côn đồ cùng với công an một vần". Cách hành sử của công an VN không khác gì lối hành sử của côn đồ. Con đường ngắn nhứt để vào nghĩa địa hay nhà thương là con đường đi vào đồn công an.
Còn hỗn danh "Cẩu đầu tướng quân", cũng do tôi đặt.
Tôi cũng thường để ý, hễ khi nào tôi viết bài nội dung coi bộ "tế nhị" một chút, thì có một, hai người "hủy kết bạn" trên facebook. Những bài viết thể loại này không có bao nhiêu người bấm "like". Tôi không bao giờ xem việc này làm phiền. Sống trong chế độ cộng sản, công an trị như VN, không lâu lắm còn có vụ con tố cha, vợ tố chồng, anh em tố cáo lẫn nhau vì "có tư tưởng phản động". Không dám bấm "like" là đúng.
Nhưng từ "cẩu đầu" ở đây có tới hai ý nghĩa.
"Cẩu đầu" tiếng Hán dịch sang tiếng Việt có nghĩa là "đầu chó".
Nhưng ở một địa phương thượng du miền Bắc, vùng Hà Giang, thì địa ngữ (Tày) "cẩu đầu" ở đây có nghĩa là "Tụ Mã".
Bà con xem tài liệu tôi chụp ở đây, (một phần) tờ tường trình của Đại tá Penequin, người chỉ huy phân giới biên giới Việt-Trung năm 1895.
Rõ ràng từ "Cẩu đầu trại" được người dân ở đó đọc là "Tụ Mã".
Vì vậy "Cẩu đầu tướng quân" còn được đọc là "Tụ Mã tướng quân".
Vì vậy, bà con cứ việc "like" thoải mái, đừng lo côn an để ý.
Vả lại, chữ "chó" đã từng được nhiều người sử dụng để chỉ nghề này, điển hình ông tướng điệp viên Phạm Xuân Ẩn. Ông này từng nói rằng "công an cũng là nghề "chó săn" mà thôi.
Mai viết tiếp.
9-4
Nhân sự nhà nước đã được sắp xếp hoàn tất. Thấy gì ?
Tứ trụ triều đình, hai người ở cấp cao nhứt là Tổng bí thư và Chủ tịch nước đều là người bắc kỳ.
Nội các chính phủ 22 người thì có 17 người xuất thân từ phía bắc vĩ tuyến 17. Những người này nắm những bộ quan trọng nhứt : bộ công an, bộ quốc phòng và bộ ngoại giao.
Ngoài Nguyễn Xuân Phúc người miền Trung (Quảng Nam), thì nội các có thêm 3 bộ trưởng (người Quảng Nam và Quảng Ngãi).
Dân Nam kỳ lục tỉnh ngoài bà Nguyễn Thị Kim Ngân (Bến Tre) thì còn có hai bộ trưởng người Đồng Tháp.
Chủ trương "Bắc Kỳ biết lý luận" của ông Nguyễn Phú Trọng từ nay được triệt đễ áp dụng trong bộ máy nhà nước VN.
10-4
Hôm trước, trong một status, tôi có nói một điều liên quan đến ông Hồ, nguyên văn như sau :
" Năm 1946, ông Hồ Chí Minh đã ký "hiệp ước sơ bộ" với Pháp đã nhìn nhận nước Việt Nam chỉ gồm Bắc và Trung kỳ. Nam Kỳ thuộc về Pháp."
Dĩ nhiên nhiều người có phản ứng.
Hôm nay thấy cần có vài lời nói thêm về chủ đề này trước khi đóng lại để chuyển qua chủ đề thời sự khác.
Khi nói tới Đông Dương nhiều người tưởng là gồm ba nước Việt, Miên và Lào. Điều này không đúng dưới thời thuộc Pháp.
Đông Dương được Pháp thành lập từ năm 1887 và chấm dứt năm 1954. Ban đầu gọi là "Union Indochinoise - Khối Đông dương", sau đổi thành "Fédération Indochinoise - Liên bang Đông dương".
Liên bang gồm có 5 xứ: Cochinchine (Nam Kỳ), An Nam (Trung kỳ), Tonkin (Bắc Kỳ), Lào và Cambodge.
Tình trạng pháp lý của Cochinchine (Nam kỳ) khác với bốn xứ kia, là "thuộc địa". Đất này đã bị "nhượng đứt" cho Pháp từ thời Tự Đức. Bốn xứ còn lại thuộc diện đất "bảo hộ".
Tức là Nam kỳ có cùng qui chế "thuộc địa" như là các xứ (thuộc Pháp) hiện nay như Guyane, Nouvelle Calédonie, Réunion... Những người dân ở đây, sau này trở thành dân "có quốc tịch Pháp".
Nhật "đảo chánh" Pháp vào ngày 9 tháng 3 năm 1945. Trên danh nghĩa pháp lý, "chủ quyền" của Pháp ở VN xem như chấm dứt (và chủ quyền này chuyển sang Nhật).
Sau khi Nhật thua trận, tháng 9 năm 1945, những vùng đất đã bị Nhật chiếm trước đó, theo "định hướng chính trị" của phe Đồng Minh (mà thực ra là Mỹ) là trả lại độc lập cho các thuộc địa cũ. Trách nhiệm "quản lý" những vùng đất bị Nhật chiếm, tại khu vực Châu Á, phía bắc vĩ tuyến 16 sẽ do quân Trung Hoa của Tưởng Giới Thạch đảm nhiệm. Phía nam vĩ tuyến 16 sẽ do quân Anh đảm nhiệm.
Quân Anh, thay vì "trả độc lập" lại cho VN (theo như khuynh hướng chính trị của Mỹ), thì trả lại cho Pháp. Điều này chỉ có thể giải thích: vì Nam Kỳ là lãnh thổ thuộc Pháp.
Ở miền bắc, quân Trung Hoa thay vì "trả lại độc lập cho VN", thì lại "thương lượng" với Pháp, trao đổi quyền lợi với lực lượng thực dân này. Nhưng việc Pháp trở lại Bắc kỳ "kịch tính" hơn việc trở lại Nam kỳ. Bởi vì ở Bắc kỳ còn có các lực lượng người Việt chống Pháp, được khai sinh (và nuôi dưỡng) trên đất Trung Hoa, như Việt Minh và các đảng phái quốc gia.
Quân Trung Hoa, có lẽ không muốn cạn tàu ráo máng với các lực lượng người Việt chống Pháp, vì vậy đưa điều kiện (ở giờ thứ 25), Pháp phải nhìn nhận chính phủ liên hiệp do ông Hồ lãnh đạo. Vì vậy Hiệp ước Sơ bộ 6-3-1946 ra đời.
Nội dung Hiệp ước, điều 1 nói rằng :
"Le Gouvernement Français reconnait la République du Viet-Nam comme un Etat libre ayant son gouvernement, son parlement, son Armée et ses Finances, faisant partie de la Fédération Indochinoises et de l'Union Françsaise. En ce qui concerne la réunification des trois "KY", le Gouvernement Français s'engage à entériner les décisions prises par les populations consultées par référendum."
Bản dịch tiếng Việt, dẫn từ báo chí trong nước :
"Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia tự do, có chính phủ, có nghị viện, có quân đội, có tài chính của mình, nằm trong Liên bang Đông Dương và khối Liên hiệp Pháp. Chính phủ Pháp cam đoan sẽ thừa nhận những quyết định của cuộc trưng cầu dân ý về vấn đề thống nhất ba kỳ."
Hiệp ước này do Hồ Chí Minh và Vũ Hồng Khanh ký nhận.
Điều đáng chú ý (về pháp lý) trong hiệp ước là ông Hồ (và Vũ Hồng Khanh) đã nhìn nhận VNDCCH, tức phần VN phía bắc vĩ tuyến 16, "nằm trong liên bang Đông Dương".
Như đã nói, Liên bang Đông dương gồm có 5 xứ (Nam Kỳ, Trung kỳ, Bắc Kỳ, Lào và Cambodge).
Tức là, ông Hồ (và Vũ Hồng Khanh) đã nhìn nhận (ít nhứt) : Nam kỳ thuộc Pháp và nước VNDCCH chỉ là một "tiểu bang" trong Liên bang Đông dương mà thôi.
11-4
Nói tiếp về "hỗn danh". Nếu nhớ không lầm thì ông Nguyễn Văn Thiệu, nguyên tổng thống VNCH, có hỗn danh là Sáu Thẹo. Còn nguyên phó TT Nguyễn Cao Kỳ là tướng Râu kẽm. Ông Dương Văn Minh có hỗn danh Minh sún. Trần Văn Hương là ông già Gân (hay ông già Ba Tri)... Cái "hỗn danh" được đặt ra, dính liền với người đó cho tới chết. Vì nó thể hiện một đặc điểm khó có thể chối cãi của người này.
"Hỗn danh" đôi khi được người ta biết đến nhiều hơn tên thật. Thí dụ tướng Ba Cụt, tức Lê Quang Vinh. Hoặc tướng Năm Lửa, tức Trần Văn Soái. Nói tên Lê Quang Vinh (hay Trần Văn Soái) thì chưa chắc ai biết, mà khi nói Ba Cụt (hay Năm Lửa) thì (hầu như) ai cũng biết đó là những thủ lãnh Hòa Hảo, thân cận với đức thầy Huỳnh Phú Sổ.
Trong dân gian thì vô số. Miền Nam sông nước hầu như ai cũng có hỗn danh.
Nhà văn Hồ Trường An có bài viết về hỗn danh đọc cũng thú vị.
Vì vậy tứ trụ triều đình, những người quyết định vận mạng cả nước, phải có hỗn danh. Vấn đề là cái danh của những người này phải đặt thế nào để thể hiện cụ thể "đặc tính" của họ. Như nói đến "tướng Râu kẽm" thì ai cũng biết đó là ông Kỳ. Nói Minh Sún là liên tưởng đến Dương Văn Minh...
X, cái hỗn danh do Trương Tấn Sang (vô tình) đặt ra, trở thành Ba X, dính cứng với Nguyễn Tấn Dũng. Ba X, như tập quán miền Nam, có thể gọi là thầy Ba chích. Đơn giản vì trước đây ông này làm y tá.
Trọng Lú, Gia Cát Trọng tự Khổng Lú. Tư Sang hay Tư Sâu (hay Tư Sùi). Ba X (hay Ba chích). Cuối cùng là Hùng hói. Đó là "tứ trụ" triều trước.
Tứ trụ bây giờ, Khổng lú không thay đổi.
Trần Đại Quang, chưa có ai đặt, ngoài tên Lưu Quang Côn tự là Tụ Mã tướng quân. Tụ Mã, đã nói trong status trước, có nghĩa là "cẩu đầu", tức đầu chó. Chó ở đây lấy từ "chó săn", nguyên là chữ của Phạm Xuân Ẩn chỉ cho nghề công an chỉ điểm. Còn chữ "côn", lấy từ chữ "công" của "công an". "Côn đồ cùng với công an một vần".
Nguyễn Thị Kim Ngân, tôi nghĩ nên đặt bà là Kim Ngân bà bà, tương tự Kim Hoa bà bà một nhân vật võ lâm trong tập Cô gái Đồ long của Kim Dung.
Kim Hoa bà bà là một nhân vật có nhan sắc tuyệt đẹp, võ công rất cao cường. Bà này nguyên đứng đầu "tứ đại pháp vương" của Ma giáo, danh hiệu Tử sam Long vương, đứng trên những nhân vật lớn tuổi và võ công cao hơn là Bạch mi Ưng cương, Kim mao Sư vương và Thanh dực Bức vương. Chữ "tử" trong "tử sam long vương" có nghĩa là màu "tía", hay "tím".
Bà Kim Ngân rõ ràng xứng danh Kim Ngân bà bà. Ngoài nhan sắc, sở thích thì ra ngoài bà hay diện đồ màu "tía", hoặc màu tím.
Còn về võ công, nhìn qua bàn tay của bà (giơ lên hôm tuyên thệ ở QH) ai cũng biết đây là cao thủ, võ nghệ cao siêu ở mức thượng thừa. Bàn tay này nếu không luyện tinh thục "thiết sa chưởng" thì cũng đã thành công "thất thương quyền". Cũng như Tử sam Long Vương, Kim Ngân bà bà luôn được đồng môn tin tưởng ở mức độ cao. Tử sam Long vương tuổi nhỏ, võ nghệ thua xa tam đại pháp vương. Nhưng những người này kính phục, bầu lên đứng đầu nhóm.
11-4
Báo chí trong và ngoài nước, thỉnh thoảng thấy đăng tải tin "nhà nước VN tuyên bố vô hiệu lực công hàm 1958 của TT Phạm Văn Đồng".
Không dễ tuyên bố khơi khơi như vậy đâu "ông nhà nước". Bút sa thì gà chết. Có điều dân mình nó hơi bị "ngu", đảng và nhà nước nói gì nó cũng tin cái rụp.
Nhắc lại, hiệp ước sơ bộ ông Hồ ký với Pháp vào tháng 3 năm 1946, theo đó nhìn nhận VNDCCH là một "quốc gia tự do trong Liên bang Đông dương và khối Liên hiệp Pháp. Pháp cam kết sẽ tôn trọng việc trưng cầu dân ý việc thống nhứt ba kỳ".
Rõ ràng nội dung Hiệp ước sơ bộ không thể áp dụng. Ông Hồ mắc mưu người Pháp.
Để "hóa giải" hiệu lực hiệp ước, ông Hồ không có cách nào khác ngoài việc phát động chiến tranh để không thi hành hiệp ước.
Trở lại công hàm 1958. Chuyện nội bộ thuộc quốc gia thì "ông nhà nước" có thể giải thích thế nào cũng được. Nhưng chuyện liên quan đến "quốc tế" thì phải theo tập quán hay luật quốc tế. Tức là, "bút sa thì gà chết". Không thể tuyên bố "phủ nhận" khơi khơi.
Tức là, muốn hóa giải công hàm 1958 hôm nay, ngoài việc phát động chiến tranh thì chỉ còn có cách thức "thương lượng" với TQ. Các việc đặt giàn khoan 981 ngoài của Vinh Bắc Việt (nhưng thuộc khu vực biển Hoàng Sa) hiện thời cho ta thấy việc thương lượng với TQ là không dễ. TQ xem HS là chuyện đã rồi. Vấn đề bây giờ là HS có hiệu lực biển là bao nhiêu ?
Đảng và nhà nước tự đặt mình vào ngõ cụt. Trước dư luận, đảng và nhà nước liên tục "nói láo" về những vấn đề Biển Đông.
Bởi vì, công hàm 1958 còn có thể hóa giải theo một trình tự pháp lý khác. Đó là thực thi công cuộc hòa giải dân tộc để kế thừa danh nghĩa VNCH.
12-4
Về chuyến (dự trù) viếng thăm VN của Obama...
Ông Phó thủ tướng kiêm bộ trưởng bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh mới trả lời phỏng vấn báo chí về chuyến công du Việt Nam của tổng thống Mỹ Obama dự trù vào cuối tháng 5. Nghe lời ông thì có vẻ chuyến thăm của Obama đã chắc ăn như "đinh đóng cột".
Theo tôi, nếu Obama là một người biết tuân thủ nguyên tắc, chắc chắn ông sẽ hủy bỏ chuyến công du VN vào cuối tháng 5 tới.
Những bằng chứng vừa qua về đàn áp, chà đạp nhân quyền, bắt bớ, tuyên án những người khác chính kiến với những bản ản nặng nề... cho thấy nhà nước VN không hề tôn trọng những giá trị cơ bản nhứt về quyền con người đã được hiến chương LHQ qui định.
Quan niệm về nhân quyền giữa chính phủ Mỹ và VN hiện hữu những mâu thuẩn lớn. Nhà nước VN vẫn còn giữ khoảng cách rất dài giữa sự hứa hẹn, hay cam kết qua các công ước quốc tế đã ký, với sự thi hành trên thực tế.
Các việc "đấu tố" những ứng cử viên QH vừa qua là bằng chứng về các việc chà đạp quyền công dân. Những vụ "tiếp xúc cử tri", lẽ ra phải do phía ứng cử viên tổ chức và triệu tập cử tri nhằm trình bày quan điểm và chương trình hành động của mình, thì lại do "dư luận viên" phường khóm đứng ra tổ chức. Theo nội dung các clips video đã được các ứng cử viên nạn nhân công bố trên mạng, thì cuộc "tiếp xúc cử tri" thực sự là một cuộc "đấu tố" thời cộng sản bán khai, hay là hành vi "ném đá" phạm nhân ở thời tiền sử. Các ứng cử viên bị dư luận viên đột lốt cử tri mạt sát, xúc phạm nhân phẩm, danh dự cá nhân. Dĩ nhiên đây là các hành vi phạm pháp nhưng nhà nước CSVN vẫn sử dụng thường xuyên như là một vũ khí nhằm bảo vệ chế độ.
Sai lầm lớn lao của TT Obama là đã tiếp đón TBT Nguyễn Phú Trọng vào tháng 5 năm ngoái cũng như việc nhìn nhận thể chế chính trị của VN. Obama đã vô tình bảo kê cho các hành động vô nhân của đảng CSVN trên chính người dân của mình.
Đây là những lý do quan trọng mà TT Obama phải cân nhắc lại.
Lý do khác, chính phủ vừa được thành lập ở VN, nói là "chính phủ lâm thời", mà thực ra là một chính phủ được lập nên bằng các việc vi phạm hiến pháp. Trên nguyên tắc luật học, đây là một chính phủ không "chính danh".
Nguyên tắc nền tảng của "Etat de droit - nhà nước pháp trị" (mà Việt Nam dịch là nhà nước pháp quyền) thì "luật có giá trị cao nhứt và tuyệt đối".
Đơn giản bởi vì "luật" thể hiện ý chí của dân tộc.
Vấn đề là người ta áp dụng "luật" như thế nào ?
Cách thông thường, người ta "dựa vào luật" mà hành sử. Công dân trong một nước phải tôn trọng luật pháp.
Thí dụ, về luật đi đường, người ta không thể vượt đèn đỏ, đi ngược chiều hay chạy quá tốc độ... Các hành vi này bị xem là vi phạm pháp luật.
Hiến pháp VN, điều 4 qui định đảng CSVN là "lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội". Điều này thể hiện trên thực tế (từ khi VNDCCH lập quốc đến nay), tất cả nhân sự trong bộ máy nhà nước VN đều là đảng viên đảng CSVN. Mọi quyền lực của quốc gia tập trung vào tay đảng.
Nhưng không phải vì vậy mà "một hay vài lãnh đạo" nào đó nhân danh "đảng" muốn làm gì thì làm. Bởi vì, ngay ở điều 4 cũng đã qui định "các tổ chức đảng và đảng viên phải hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật".
Đảng là một "tổ chức chính trị". Ý chí của đảng là ý chí của toàn thể đảng viên, toàn thể nhân sự TƯ, hay ý chí của nhân sự BCT ?
Ý chí của đảng, nếu có, thành lập chính phủ mới, chỉ là ý chí của một vài nhân sự trong đảng mà thôi.
Vấn đề là những người này phải "hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật".
Hiến pháp, các điều 74 và 88 qui định Quốc hội có quyền "miễn nhiệm" chủ tịch nước và thủ tướng.
Nhưng các điều luật này sẽ được áp dụng trong các trường hợp nào ?
Thí dụ trên, về luật giao thông. Người ta chỉ áp dụng luật khi có dấu hiệu (vì còn phải chứng minh) phạm luật.
Nguyên tắc cơ bản về luật, một điều luật chỉ được áp dụng khi luật này bị vi phạm, hay đã hội đủ những điều kiện để thi hành điều luật.
Quốc hội đã "miễn nhiệm" Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, sau đó là Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, rõ ràng là không lý do. Quí ông này chưa hề "từ nhiệm" cũng như không hề vi phạm một điều gì để quốc hội có thể ra biện pháp "miễn nhiệm".
Áp dụng luật khi điều luật này không (hay chưa) hội đủ điều kiện để thi hành là vi hiến.
Obama có thể nào công du sang Việt Nam để bắt tay với một ông tướng Công an, tiếm danh chủ tịch nước, trong lúc bàn tay ông này vẫn còn đang nắm một cái còng ?
13-4
Bà Kim Ngân lên diễn đàn thú nhận trước quốc hội rằng: "mục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại không đạt được."
Nói trắng ra là "kế hoạch" của đảng "công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước" hoạch định từ 20 năm trước đã thất bại.
Kết quả của việc thất bại này là gì ?
Đất nước Việt Nam lạc hậu, con người Việt Nam nghèo hèn.
Trước đây đất nước VN cũng lạc hậu, nhưng nhứt định không thua kém Hàn quốc, Thái Lan...
Trước đây người Việt cũng không giàu, nhưng nhứt định họ không hèn như hôm nay.
Vậy thì ai chịu trách nhiệm ?
Tôi nghĩ rằng đảng CSVN đã không còn tính "chính đáng" nào để tiếp tục lãnh đạo đất nước. Nếu khiên cưỡng tiếp tục, đảng sẽ đưa đất nước và dân tộc này vào đường diệt vong.

14-4
Về cái bánh chưng hai tấn rưởi.
Nghe nói dân Sài Gòn vừa làm cái bánh chưng nặng 2,5 tấn để cúng quốc tổ Hùng Vương. Không biết mục đích làm cái bánh "khủng" này là nhằm "phá kỷ lục" hay để cúng các vua Hùng ?
Nếu để "phá kỷ lục", theo lối "tô hủ tiếu lớn nhứt", "đòn bánh tét dài nhứt"... thì kệ. Ai ở không, có tiền, muốn nối tiếng... thì cứ việc làm. Bởi vì cái "danh" cũng có đôi ba đường, "danh thực" và "danh hảo".
Ai làm chuyện gì thì kệ người ta.
Nghĩ tới nghĩ lui, lại bái phục má tôi. Nếu tính ra của cải và công sức, mỗi năm má tôi có thể mướn nhân công làm cả chục cái bánh chưng đại loại như vậy. Nhưng bả không làm. Hàng năm má tôi mướn xe chở gạo về quê bố thí, nhân các dịp tết, thanh minh... Những lúc lụt lội, hán hán (như những ngày hôm nay) thì cũng có những chuyến xe "đột xuất" chở gạo đi cho. Tiền phong bì (cho nhà nghèo), tiền xe chuyên chở, tiền mướn nhân công, tiền gạo... đều xuất ra từ túi của má tôi. Mà hầu hết người nhận, không ai biết mặt mũi má tôi là ai, tên gì, ở đâu... Mọi người chỉ biết ông tài xế, những người đi phát gạo.
Nói tới má tôi mà không nói tới bà dì, chị ruột của má tôi, là bất công.
Bà dì tôi, con cái đều đi Mỹ, mỗi tháng tụi nó gởi về cho bà "tiền trầu cau" xài khoảng 1.500 đô một tháng. Mấy đứa nó cũng cất cho bà dì một cái nhà (to đùng) và một cái chùa nho nhỏ để bả làm bố thí. Vụ này trước kia có "lên báo nhà nước". Vấn đề là, bây giờ thì bà dì tôi phải bỏ nhà, bỏ luôn chùa để đi nơi khác. Nhờ "lên báo nhà nước", "lưu manh" lưu lạc đâu từ miền Bắc, ngày đêm tụ tập trước chùa đòi tiền.
Nhưng mà gia đình tôi có lối hành sử rất lạ. Những thằng "lưu manh" đòi tiền, theo lối "bôi trơn", là nhứt định một cắc cũng không cho. Nhà cửa, chùa chiềng cất lên, chẳng thà bán rẻ. Dì tôi và má tôi hiện vẫn còn làm từ thiện, nhưng từ thiện nặc danh, để khỏi bị bọn "chó" hạch sách.
Trở lại cái bánh chưng hai tấn rưởi. Tôi e rằng không có "quốc tổ" nào chứng giám hết cả. Mà nếu có, cả họ nhà "quốc tổ", 18 đời vua Hùng cùng tất cả con cháu sống lại, "ăn" cũng không hết.
Trong khi dân miền Nam bị hạn hán, cuối năm nay không biết có bao nhiêu nhà sẽ đi làm ăn mày? có bao nhiêu nhà trai phải bán thận, gái phải bán trinh để kiếm lấy cái ăn ?
Hai năm trước tôi có bàn ngắn viết về "quốc tổ".
Trở lại "vấn đề" quốc tổ.
Quốc tổ không phải là người "đẻ" ra dân tộc mà là người "dựng" lên đất nước. Quốc tổ chớ đâu phải tiên tổ. Quốc ở đây là nước.
Người dân tộc gốc Hmong, gốc Nùng, Dao, Thái... ở thượng du Bắc Việt; người dân tộc gốc Ba Na, Hrê, Mnong... ở Tây nguyên; người Khmer ở miền Nam, người Chăm ở Phan Rang... có phải là người Việt hay không ?
Những người thuộc các dân tộc nói trên đều là công dân Việt (có quốc tịch Việt Nam). Những dân tộc này (một số)... đã sinh sống, an cư lạc nghiệp ở địa phương đó trước cả vua Hùng lập quốc.
Mới đây, báo chí đăng tải tin mới khai quật được di tích người "Việt cổ" ở An Khê (Bình định), nghe nói niên đại là 80.000 năm.
Nếu cho đây là di tích "Việt cổ", thì "nước" của vua Hùng chỉ thuộc hàng cháu chắt, ít ra 100 đời.
Nước Văn Lang (của vua Hùng) chỉ mới lập sau này. Trước đó tổ tiên người Việt cũng đã có "nước" (văn hóa Phùng Nguyên, Đông sơn v.v... ; nhà Hồng Bàng, nước Xích Quỹ...)
Cúng quốc tổ Hùng vương mà không cúng những quốc tổ khác, là bất công.
Khi nói "quốc tổ" VN là vua Hùng, thì "nước" của vua Hùng này chỉ ở châu thổ sông Hồng mà thôi ! Vấn đề "nước" của vua Hùng đã mất vào tay người Tàu cả ngàn năm. Sau 1 ngàn năm, đất nước đó còn lại cái gì ?
Cũng vậy, đất nước từ đèo Ngang trở vô Nam đâu phải nước của vua Hùng ?
Mà nếu ta xét lại trên phương diện lịch sử và địa lý, đến thế kỷ 15 đất Bình định vẫn còn là đất Chiêm.
Chúng ta (người Việt gốc) vui chơi, mừng ngày giỗ vua Hùng. Trong khi một bộ phận lớn công dân Việt, người gốc Chàm, gốc Miên, gốc Hoa, gốc Tày, gốc Nùng, gốc Thái.... đứng ngoài cuộc.
Ngay cả những người miền Trung, miền Nam... ông tổ của họ nhứt định không phải vua Hùng. Ông Tổ của họ là các chúa Nguyễn, các vua triều Nguyễn v.v...
Vùng đất cao nguyên chỉ mới được Pháp sáp nhập vào VN vào đầu thế kỷ 20.
Người trong cuộc càng vui chơi, người ngoài cuộc càng xa cách.
Vì vậy cần tương đối hóa ý nghĩa của ngày "giỗ tổ". Không phải khi ông Hồ nói "các vua Hùng có công mở nước, bác cháu ta cùng nhau giữ nước" thì chuyện "mở nước" của vua Hùng là đúng.
Suy nghĩ như ông Hồ, cũng như ông Trọng ngày nay: "TBT phải là Bắc kỳ, biết lý luận", mọi chức vụ đảng, nhà nước đều giao cho dân Bắc kỳ, thì chất keo liên kết giữa những người dân sống trong một nước sẽ không còn.
Muốn giữ được chất keo đoàn kết các dân tộc Việt thì cần phải tương đối hóa quan niệm "quốc tổ" cũng như phải xét lại chính sách "tập quyền" của dân Bắc kỳ.
Có ngày giỗ "quốc tổ" là đúng. Mà người việt Nam có nhiều "quốc tổ" chứ không phải chỉ có vua Hùng.
Ngô Quyền cũng là một vị "quốc tổ", vì đã dành lại độc lập cho dân Việt sau 1 ngàn năm đô hộ.
Gia Long, Minh Mạng... cũng là những vị "quốc tổ". Nếu không có những vị vua này thì đất nước VN chỉ ngừng ở Đèo Ngang.
Nếu tôn vinh, thờ phụng vua Hùng mà không tôn vinh những người có công mở nước và dựng nước, như Ngô Quyền, Gia Long, Minh Mạng... ta thấy có công bằng hay không ?
Và nếu tất cả quyền lực quốc gia đều tập trung vào dân gốc Bắc kỳ, liệu nhà nước này có chính đáng hay không ?
15-4
Tổng bí Gia Cát Trọng vừa mới đi tham quan "kiểm tra tình hình triển khai nghị quyết đại hội XII của đảng" ở Quảng Ninh. Dịp này ông có tuyên bố lăng nhăng, báo chí đăng tải ý gom lại như sau:
"Làm thế nào để “nhốt” quyền lực vào trong cơ chế, thể chế".
Thiệt tình tôi "khoái" cái cách xài chữ của ông Khổng lú, "quyền lực" là con quái vật, phải "nhốt" nó lại.
Đúng vậy, quyền lực ở đâu cũng vậy, từ cổ chí kim, nếu không có cơ chế "chế tài" thì quyền lực trở thành con quái vật phanh thây đất nước, hút máu nhân dân.
Điển hình là ở đất nước Việt Nam. Dân tình đâu đâu cũng nghèo, đất nước đâu đâu cũng điêu tàn. Chỉ có đảng viên là giàu.
Đi đâu, từ làng quê hẻo lánh cho tới chốn thị thành, nhà nào "to" nhứt, nhà đó của đảng viên. Ra đường, xe nào mới nhứt, "xịn" nhứt... xe đó của đảng viên.
Bởi vì bao nhiêu quyền lực đều tập trung vào tay đảng. Đảng là con "quái vật" quyền lực. Đảng viên mập tròn lợn ỉ. Nhân dân ốm o cây sậy. Bao nhiêu máu mủ của nhân dân đảng đều hút cạn kiệt.
Bây giờ ông Khổng lú muốn "nhốt" quyền lực vào "cơ chế". Dân nghe nói thích chưa ?
Vấn đề là làm sao để nhốt ?
Lực lượng công an, còn đảng còn mình, trong hiến pháp đã qui định phải trung thành với đảng. Quân đội cũng vậy.
Mà quyền lực là gì, trong một thể chế độc tài như VN, nếu không phải là cây súng, cái còng, nhà tù, các điều luật HS 88, 258... ?
Tôi ủng hộ ông Khổng lú "nhốt" quyền lực này lại.
Tức là phải tách công an, quân đội ra khỏi đảng. Tức là dẹp bỏ hệ thống đảng ủy trong công an và quân đội. Phải để người ngoài đảng, phi chính trị, lãnh đạo công an và quân đội.
Sau đó là "nhốt" đảng vào "qui chế". Tức phải định nghĩa rõ rệt tư cách pháp nhân của đảng trước pháp luật. Đảng làm sai thì đảng bị chế tài theo pháp luật (chớ không phải trớt quớt là chịu trách nhiệm trước nhân dân).
Ngoài ra, phải đặt các cơ chế dân chủ để thể hiện các hình thức ủy nhiệm, chuyển giao quyền lực quốc gia.
Nhưng vụ này coi bộ khó. Ông Khổng lú và phe cánh đã "ngồi xổm" lên hiến pháp, gấp gáp hạ bệ Tào Mạnh Dũng và Tư Sùi vì lo sợ "đem dài lắm mộng".
Khổng lú vì muốn nắm "quyền lực" đã "vi hiến", tức phỉ nhổ vào cơ chế. Bây giờ lại muốn sử dụng "cơ chế" để kiểm soát quyền lực.
Tức cười quá đi.
16-4
Nói về bầu cử quốc hội.
Từ nhiều tuần qua tôi đã viết rằng việc Quốc hội làm thủ tục "miễn nhiệm", sau đó bầu lại các chức danh chủ tịch quốc hội, chủ tịch nước và thủ tướng là "vi hiến".
Vi hiến bởi vì Quốc hội đã áp dụng luật về "miễn nhiệm" trong khi điều luật này không (hay chưa) hội đủ điều kiện để thi hành.
Nguyên tắc cơ bản về luật, một điều luật chỉ được áp dụng khi luật này bị vi phạm, hay đã hội đủ những điều kiện để thi hành điều luật.
Đã đành Hiến pháp qui định các điều 74 và 88 theo đó Quốc hội có quyền "miễn nhiệm" chủ tịch nước và thủ tướng. Nhưng người ta không thể áp dụng luật này một cách bất kỳ.
Luật nào cũng vậy, người ta chỉ có thể thi hành luật khi (và chỉ khi) nó hội đủ các điều kiện để thi hành.
Thí dụ luật giao thông. Luật qui định cấm xe vượt đèn đỏ, cấm xe đi ngược chiều...
Cảnh sát giao thông thi hành điều luật này khi (và chỉ khi) người đi xe vượt đèn đỏ hay lưu thông ngược chiều.
Quốc hội đã "miễn nhiệm" Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, sau đó là Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, rõ ràng là không lý do. Quí ông này chưa hề "từ nhiệm" cũng như không hề vi phạm một điều gì để quốc hội có thể ra biện pháp "miễn nhiệm".
Lãnh đạo CSVN có lên tiếng bào chữa rằng chính phủ hiện thời chỉ là "chính phủ lâm thời". Sau khi Quốc hội bầu xong, vào cuối tháng năm, sẽ bầu lại nhân sự lãnh đạo vào tháng bảy. Dĩ nhiên giải thích này không làm cho thủ tục "miễn nhiệm" trở thành hợp hiến hay lấy lại được tính chính danh của "chính phủ lâm thời".
Vấn đề là, thủ tục "miễn nhiệm" đã vi hiến thì nhân sự được bầu lên thay thế cũng vi hiến. Vì vậy chính phủ này không có "chính danh".
Lý ra, việc "kiện toàn nhân sự" theo ý của ông Trọng đã có thể diễn ra một cách hợp hiến, hợp pháp.
Theo qui định của hiến pháp và pháp luật, Quốc hội khóa 13 có thể giải tán sớm hơn nhiệm kỳ, nếu việc này có sự đề nghị của UBTVQH và được sự đồng ý của 2/3 đại biểu.
Khi Quốc hội giải tán và được bầu lại, hệ quả đương nhiên các chức danh chủ tịch quốc hội, chủ tịch nước và thủ tướng cũng phải được bầu lại. Bởi vì nhiệm kỳ các chức vụ lãnh đạo quốc gia này tùy thuộc vào nhiệm kỳ của Quốc hội. Quốc hội khóa 13 chấm dứt nhiệm kỳ thì nhiệm kỳ của các chức vụ lãnh đạo quốc gia cũng chấm dứt.
Tức là, Chủ tịch nước, Thủ tướng và Chủ tịch Quốc hội đương nhiệm phải từ chức.
Vấn đề đơn giản chỉ có vậy mà ông Trọng không làm. Ông không làm vì không biết luật hay ông đã quen xài "luật rừng" ?
Nếu trường hợp "vi hiến" này xảy ra trong một quốc gia pháp trị, chắc chắn sẽ đưa đến một sự khủng hoảng lớn về chính trị. Hệ quả đưa đến là quốc hội sẽ giải tán, các chức vụ lãnh đạo quốc gia (mới bầu lên) sẽ bị bãi nhiệm. Khủng hoảng hứa hẹn lâu dài, vì hiến pháp là nền tảng xây dựng quốc gia.
Vấn đề trầm trọng hơn trong tương lai, Quốc hội khóa tới cũng sẽ mất đi tư cách "đại biểu cao nhứt của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhứt".
Hành vi của MTTQ loại bỏ những ứng cử viên ĐBQH, như ông Trần Đăng Tuấn, là một sự vi phạm trầm trọng nguyên tắc dân chủ.
Việc lựa chọn đại biểu là "quyền" của người dân, qua cuộc đầu phiếu, chớ không phải là quyết định trong văn phòng của MTTQ địa phương.
Các việc "đấu tố", mà thực chất là nhục mạ, xúc phạm danh dự và nhân phẩm cá nhân của các ứng cử viên đại biểu khác... của MTTQ, hay của phường, khóm... những ngày vừa qua, đã vi phạm trầm trọng các giá trị nền tảng về nhân quyền.
Mặt khác, các việc này chứng tỏ rằng nhà nước CSVN không hề tôn trọng những hứa hẹn với cộng đồng quốc tế. Điển hình là Tuyên bố Sunnylands mới đây, chữ ký còn chưa ráo mực (giữa các nước ASEAN và Hoa Kỳ vào trung tuần tháng 2 năm 2016).
Khoản 4 của Tuyên bố :
"4. Chúng tôi cam kết đảm bảo cơ hội cho tất cả người dân chúng ta, thông qua tăng cường dân chủ, quản trị tốt và tuân thủ các quy định của pháp luật, thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền và quyền tự do cơ bản, khuyến khích tinh thần khoan dung, ôn hòa, và bảo vệ môi trường;"
Cam kết "đảm bảo cơ hội cho tất cả người dân", nếu xét trên phương diện bầu cử QH kỳ này, rõ ràng nhà nước VN đã ngồi xổm trên những gì mà họ vừa ký.
Tôi nghĩ rằng, những ứng cử viên ĐBQH, nạn nhân của MTTQ, như ông Trần Đăng Tuấn, hay những ứng cử viên khác, có thể gởi thư lên lãnh đạo các nước ASEAN, như Miến Điện, Mã Lai, Phi, thậm chí Campuchia... và đặc biệt Hoa Kỳ, yêu cầu quí vị này làm áp lực lên lãnh đạo VN để lời cam kết này được thi hành.
Nhưng, như đã nói, viễn ảnh một quốc hội "không có chính danh" đã được thành hình. Chính phủ khóa tới được bầu, vì vậy cũng không có chính danh.
17-4
Nói về Lưu Quang Côn được Đảng hội làm lễ "đăng quang" Chủ tịch nước ngày 2 tháng tư, đến nay đã hai tuần. Tình hình là văn phòng chủ tịch nước chờ "điện thư" của các nước đồng chí anh em gởi đến chúc mừng. Thật tình hình là văn phòng chờ sái cổ mà không thấy tăm hơi thơ ai gởi hết.
Bọn ASEAN, vốn đồng hội đồng thuyền, mà cách cư xử thiệt là bạc bẽo. Đến nay ngoài thằng Lèo thì đéo có thằng nào gởi lời chúc mừng. Ngay cả thằng Cam, vốn trước nay gọi dạ bảo vâng, giờ cũng ngó lơ.
Còn nói gì đến bọn tư bản giẫy chết. Xe cán chó tụi nó còn đăng báo. Vậy mà Quang Côn lên làm chủ tịch nước đéo có báo nào đăng.
Mẹ tổ, chắc lỗi do thằng tuyên giáo Vịt thông tấn xã không chịu loan tin chớ gì ?
Buồn tình, hôm qua Quang Côn lên báo khoe "hàng", nói rằng lực lượng côn an hình sự là "nắm đấm thép" của chế độ.
Thiệt là uy trấn, thiết thủ thủy thượng phiêu Lưu Quang Côn. Mặt dân nào giờ bầm dập, nay mới biết nguyên nhân.
Ngày Quang Côn "đăng quang", vốn đã được Khổng lú xủ quẻ, là ngày 1 tháng tư. Tức là ngày "con cá". Nhưng Quang Côn tính vốn dị đoan, kỵ ăn cá, xin dời lại một ngày. Mà ngày 2 tháng tư, theo lịch sách của Lốc cốc tử, là ngày "tam nương kỵ hành thầu", tức là ngày "sát chủ", theo lối đi chơi cũng lỗ huống là đi buôn. Quang Côn chọn ngày này cho cuốc hụi làm lễ đăng quang. Xui là phải.
Nếu đứng trên quan điểm "chiêm tinh" mà xét, các sao "kiết" hôm đó đều vắng mặt. Bầu trời trống trơn. Chỉ có hai ngôi sao mặt dày, là Putin và Tập Cận Pèng, có mặt.
Cả thế giới, Việt Nam bạn bè biết bao nhiêu nước, trước hai anh Pu và Tập, thì chỉ có "đồng chí Chum-ma-ly Xay-nha-xỏn, Chủ tịch nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào đã gửi điện mừng".
Vụ này chắc có "âm mưu". Miệng mồm ai ăn mắm ăn muối đồn "vi hiến", bây giờ thiệt linh nghiệm.
Nghe nói tháng năm sắp tới Obama sẽ ghé qua đây. Chưa chắc chuyến đi này được thực hiện. Bởi vì, Quang Côn lên ngôi là "vi hiến", quyền lực trong tay Quang Côn là không chính danh. Obama làm sao có thể bắt tay với một người "tiếm quyền" ?
Nhưng với Obama thì chuyện gì cũng có thể. Ngay cả chuyện Quang Côn "còng" Obama lúc hai bên bắt tay cũng là chuyện có thể.
18-4
Người ta mơ ước xây dựng Sài gòn để sớm lấy lại danh hiệu "Hòn ngọc Viễn Đông".
Vấn đề là xây dựng theo mô hình nào?
Bởi vì có nhiều mô hình thành công, cũng như có nhiều mô hình thất bại.
Những mô hình thất bại, để "làm gương", là những mô hình New York, Tokyo, Bangkok, Hồng Kông, Jakarta, Thượng Hải...
Điểm chung (thất bại) của các thành phố này là thường xuyên bị lụt, do mặt đất thấp vì bị lún. Do đô thị hóa, nhiều nơi đất thấp hơn mặt nước biển. Các khu công kỹ nghệ kế cận thành phố trước đây đã đào giếng hút nước, khiến mạch nước cạn kiệt, làm cho đất bị sụt. Mặt khác, sức nặng những cao ốc cũng khiến cho mặt đất lún nhanh hơn.
Tốc độ đất lún ở Bangkok hiện nay là 3 cm một năm, sau khi lệnh cấm hút nước giếng được áp dụng và các khu công nghiệp dời xa thành phố. Trước đây vài năm, mức độ lún là 10 cm một năm.
Tokyo, New York, Jakarta, Thượng Hải... cũng vậy.
Sài gòn tuy chưa phát triển ở mức độ các thành phố trên, cũng không nằm ở khu vực cửa sông, cạnh biển, nhưng năm nào, vào mùa mưa là Sài gòn lụt lội. Mặt đất Sài gòn cũng đã lún nhiều so vời vài thập niên trước đây.
Bài học cho Sài gòn là không thể để mặt đất tiếp tục lún.
Bây giờ lại thấy có những "dự án" xây khu thương mại cao tầng tại trung tâm Sài Gòn.
Theo tôi, các việc xây cất cao ốc ở Sài Gòn cần suy tính lại. Các thành phố thất bại Bangkok, Tokyo, New York... đều phát triển theo chiều cao.
21-4
Cử tri kiến nghị kiện cái gì ở Biển Đông ?
Thời sự tuần này có hai sự kiện nổi bật: 1/ Cử tri 15 tỉnh thành đề nghị kiện Trung Quốc về vấn đề Biển Đông và 2/ Tân Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc khuyên dân không chỉ sống chung với lũ mà còn sống chung với hạn, mặn. Sự kiện thứ hai tạm dời lại cho ngày mai.
Về sự kiện thứ nhứt, theo tin tức báo chí, nguyên nhân thúc đẩy cử tri 15 tỉnh thành đề nghị kiện TQ ở Biển Đông là do “thái độ bức xúc đối với những vi phạm của Trung Quốc ở Biển Đông, nhất là hành động xây dựng đảo nhân tạo tại Trường Sa và Hoàng Sa, đánh bắt cá trên vùng biển Việt Nam, tấn công tàu cá ngư dân Việt Nam”.
Theo tôi, vấn đề kiện tụng cần phải cân nhắc lại cho kỹ, vì hệ lụy của vụ kiện rất lớn. Kiện thì có thắng có thua. Nếu VN thắng kiện, VN đạt những điều gì hoàn toàn không ai xác định được. Vì kết quả tùy thuộc vào thiện chí của TQ có muốn thi hành lệnh Tòa hay không. Nếu VN thua, thiệt hại sẽ rất lớn. VN không chỉ có thể mất vĩnh viễn HS và TS cho TQ, mà còn thiệt hại phần lớn vùng biển Kinh tế Độc quyền của VN (EEZ, 200 hải lý tính từ đường cơ bản).
Kiện tụng là một vấn đề thuộc về chuyên môn. Ý kiến của người dân, cho dầu là số đông, nhưng số đông không đồng nghĩa là "đúng".
Câu hỏi đặt ra là VN kiện TQ về cái gì ?
Theo ý kiến của cử tri (mà báo chí dẫn lại ở trên), là kiện về các việc 1/ "xây dựng đảo nhân tạo", 2/ "đánh bắt cá trên vùng biển VN" và 3/ "tấn công tàu cá của ngư dân VN".
Nếu chỉ dựa lên những ý kiến này, thiển ý của tôi, việc đi kiện đồng nghĩa với cuộc phiêu lưu bất định.
Bởi vì trước hết VN phải chứng minh các điều: 1/ Các đảo HS và TS mà TQ đã hay đang xây dựng thuộc chủ quyền của VN. 2/ Bằng chứng về TQ đánh cá trên vùng biển của VN. Và 3/ các bằng chứng TQ tấn công tàu cá của VN.
Điều 1, VN chỉ có thể kiện TQ lý do họ xây dựng đảo nhân tạo khi VN chứng minh được rằng các bãi đá mà TQ đang xây dựng thuộc chủ quyền của VN. Bởi vì không có luật nào cấm TQ xây dựng các đảo nhân tạo trong vùng biển, hay trên các bãi đá thuộc chủ quyền của họ.
Trên phương diện pháp lý, các bằng chứng từ phía TQ đưa ra trên diễn đàn LHQ nhằm chứng minh chủ quyền của họ ở HS và TS, như công hàm 1958 hay các bản đồ, sách giáo khoa... đã khiến lập luận chủ quyền của VN yếu đi.
VN hiện nay vịn vào việc "liên tục quốc gia" để chứng minh VN có chủ quyền ở HS và TS mà điều này khó có thể chứng minh.
VNDCCH, sau 1954, luôn quan niệm thực thể chính trị VNCH ở miền Nam là "Ngụy". Cuộc chiến 54-75 là cuộc chiến "giải phóng" đánh Mỹ cứu nước. Chính phủ hợp pháp ở miền Nam, theo quan niệm của VNDCCH, là chính phủ MTGPMN. Như vậy, trên phương diện "liên tục quốc gia", có một khoảng thời gian "bất định", từ 1954 cho đến khi MTGPMN thành hình 20-12-1960.
Trong khoản thời gian này chính phủ nào của VN "quản lý" HS và TS ?
VNDCCH quan niệm chính phủ VNCH là "ngụy", "tay sai đế quốc Mỹ" thì chủ quyền của HS và TS khoảng thời gian "bất định" này sẽ giải thích ra sao?
Một số lập luận cho rằng sau 1975 CHMNVN kế thừa di sản VNCH.
Ta tạm chấp nhận như vậy. Vấn đề là quốc gia tên gọi CHXHCNVN không thể cùng lúc kế thừa hai di sản đối nghịch : VNCH và VNDCCH.
VNDCCH nhìn nhận chủ quyền của TQ qua các bằng chứng như công hàm 1958, các bản đồ, các tập giáo khoa... Trong khi tư cách pháp nhân của VNCH bị VNDCCH phủ nhận đồng thời chủ quyền của VNCH tại HS và TS thì bị TQ chống đối.
Vì vậy, ở điểm 1, với tình trạng pháp lý hiện nay, đi kiện TQ vì "Các đảo HS và TS mà TQ đã hay đang xây dựng thuộc chủ quyền của VN" là phiêu lưu. VN không có hy vọng thắng. Mà thua thì mất hết HS và TS.
Điểm 2, kiện TQ vì tàu TQ "đánh bắt cá trên vùng biển VN".
Vấn đề là VN phải chứng minh các vị trí mà tàu TQ đánh cá thuộc quyền quản lý của VN (theo luật Biển 1982).
Điều này không dễ dàng chứng minh, nếu các tàu của TQ đánh cá trong khu vực "chồng lấn", do hệ quá các "hứa hẹn" của lãnh đạo VN trong quá khứ, hay do hệ quả hiệu lực EEZ của các đảo HS và TS.
Cần nhắc lại là báo chí VNDCCH, thời thập niên 60 của thế kỷ trước, đã có nhiều bài viết nhìn nhận vùng biển HS thuộc về TQ.
Cũng cần nhắc lại, nghi vấn TBT Lê Khả Phiêu đã nhìn nhận có VN "3 vùng biển tranh chấp" với TQ. Tức là, đối với lãnh đạo CSVN, vùng biển TS là vùng "có tranh chấp".
Bây giờ kiện cái gì nếu tàu đánh cá của TQ hoạt động ở các khu vực "có tranh chấp" đó?
Đi kiện với những điều kiện như vậy là pháp lý hóa việc "tranh chấp". Hệ quả việc này là "chia hai" các vùng biển có tranh chấp với TQ.
Dĩ nhiên khu vực biển HS thì không có tranh chấp. Lập trường của lãnh đạo CSVN thể hiện qua công hàm năm 1958, hay các bài báo đăng trên Nhân Dân năm 1965... đủ để chứng minh việc này.
Điểm 3 TQ "tấn công tàu cá của ngư dân VN".
VN chỉ có thể kiện TQ với nhiều phần thắng nếu trở lại vụ giàn khoan HD 981 của TQ cắm trên thềm lục địa của VN vào tháng 5 năm 2014. VN có thể có những bằng chứng không thể chối cãi đểi kiện và đòi TQ bồi thường. Vấn đề là "thời gian tính", bây giờ các nạn nhân của vụ này có thể đi kiện được nữa hay không?
Mặt khác, ngoài vụ "tấn công tàu VN" trong vụ giàn khoan HD 981, VN khó có thể chứng minh được các vụ khác, TQ tấn công tàu của VN ở trên vùng biển của VN. Trong khi tàu bè của VN thường xuyên bị nhà nước Indonesia phá hủy do nạn đánh cá lậu.
Vì vậy, theo tôi, kiến nghị của cử tri, với tình hình chính trị hiện nay, VN không thể thắng kiện.
Toàn bộ hồ sơ pháp lý về chủ quyền của VN tại HS và TS là dựa lên VNCH. Trước quốc tế, VN đã ra Bạch thư, hay ra các công hàm phản biện, đều dựa lên VNCH.
Nhưng trên thực tế, những hành vi của dân chúng, cho dầu vô tội vạ, nếu thấy có liên quan đến VNCH đều bị nhà nước CSVN trừng trị.
Các vụ như anh thanh niên tên Nguyễn Viết Dũng, chỉ vì mặc áo "giống như quân phục VNCH", hay vụ em Nguyễn Mai Trung Tuấn mặc áo có thêu cờ VNCH, hay vụ hai phụ nữ phất cờ VNCH trước tòa Lãnh sự Mỹ... đều bị tòa án CSVN kết án nặng nề.
Các việc này cho thấy nhà nước CHXHCNVN hôm nay vẫn xem đống tro tàn của quá khứ VNCH là kẻ thù cần phải tiêu diệt.
Anh lấy tư cách gì để "kế thừa" di sản từ một kẻ mà anh luôn xem là "kẻ thù"?
Anh chỉ có thể "cướp" những gì kẻ thù anh có nhưng anh không thể "kế thừa" của cải của người này.
Vì vậy, việc kiện tụng, theo tôi, VN chỉ có thể thắng TQ trước Tòa quốc tế nếu quốc gia VN hôm nay kế thừa danh nghĩa của VNCH. Mà việc kế thừa không phải nói bằng miệng, mà phải thể hiện bằng hành động cụ thể.
Tôi đã đề nghị các hành động cụ thể như giải pháp hóa giải công hàm 1958 cũng như các phương pháp kế thừa thông qua việc "hòa giải quốc gia" (hay hòa giải dân tộc, tùy cách gọi).
Do đó, thay vì kiến nghị "đi kiện TQ", theo tôi, cử tri nên kiến nghị việc "hòa giải quốc gia" để việc kế thừa VNCH được thể hiện. Mà hành vi cụ thể trước mắt là vận động thả tất cả tù chính trị cũng như những tù nhân mà tội của họ có liên quan đến VNCH, như cậu bé Trung Tuấn và các phụ nữ phất cờ VNCH trước Tòa lãnh sự Mỹ ở Sài Gòn.
22-4
Câu hỏi "vì sao Việt Nam là một quốc gia không chịu phát triển" đã từng đặt ra, đã từng có nhiều câu trả lời. Báo chí trong và ngoài nước nhiều thập niên nay đã từng đăng tải những bài viết, những bài phỏng vấn có nội dung như vậy. Kiểm điểm lại, thấy rằng câu trả lời nào cũng đúng, nhận định nào cũng hay, cũng có thể là giải pháp. Nhưng từng thập niên trôi qua, VN vẫn là một quốc gia không chịu phát triển. Nếu xét ở một số mặt, VN không chỉ là một quốc gia tụt hậu, mà còn là một quốc gia đang trên đường phân rã.
Hiện tượng phân rã dễ thấy nhứt là người dân đã không còn sự tha thiết, ràng buộc đối với đất nước nữa.
Đất nước trở thành một thứ của cải mà ai cũng có thể ăn cắp và phá hoại.
90 tỉ đô la, khoảng 50% tổng sản lượng quốc gia của VN, đã bị chuyển lậu ra nước ngoài. Trong khi, bằng con đường chính thức, hàng năm có vài chục ngàn người Việt đăng ký vào nước Mỹ bằng con đường "đầu tư". Ai có 500.000 đô la đầu tư vào nước Mỹ thì có thể được cấp "thẻ xanh".
Bà Phạm Chi Lan vừa thốt lời "bi ai" rằng "đi định cư nước ngoài cả, đất nước này ai xây dựng?".
Những người có tài, có khả năng kinh doanh đều chọn môi trường nước ngoài để đầu tư. Những du học sinh học thành tài hầu hết đều chọn phương hướng ở lại nước ngoài làm việc.
Thì cũng là bình thường thôi: đất lành thì chim đậu và tư bản, cũng như người cộng sản, không có tổ quốc.
E rằng câu nói từ thập niên 80: "nếu cây cột đèn biết đi thì nó cũng vượt biên" vẫn tiếp tục đúng.
Nguyên nhân do đâu? Điều này ai cũng thấy (là do đảng CSVN) nhưng không ai dám nói thẳng, chỉ mặt đặt tên.
Những ngày qua hiện tượng cá biển chết lan tràn, trải dài hàng trăm cây số, từ vùng Hà Tĩnh cho tới Huế. Có những loại cá nước sâu cũng phơi bụng đầy bãi biển. Tức là vấn đề hết sức nghiêm trọng, lý ra ở tầm mức quốc gia. Nếu nguyên nhân đến từ nguồn ô nhiễm, thì nguồn này vô cùng lớn, chất thải vô cùng độc hại. Di căn của nó có thể từ vài năm đến vài chục năm, ảnh hưởng đến đời sống hàng chục triệu người.
Tin tức cho biết là các cơ quan chức năng địa phương không được quyền vào khu Vũng Áng để khám nghiệm.
Điều này cho thấy "lãnh đạo Hà Tĩnh phải thế nào mới ra như vậy chớ" ?
Hà Tĩnh là nơi "đóng góp" nhân sự cho đảng nhiều hơn hết. Thì Hà Tĩnh là nơi VN bị mất chủ quyền sớm nhứt.
Tân thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc vừa qua có câu nói để đời: bây giờ người dân không chỉ làm quen sống với lũ mà còn phải sống với hạn, mặn.
Suy rộng ra thì từ nay người dân cũng phải tập sống chung với ô nhiễm.
Thực ra, chìa khóa thành công của mọi quốc gia trên thế giới là ý thức về "trách nhiệm" của từng thành tố trong xã hội.
Ở VN, đã đành, lãnh đạo không có trách nhiệm mà tầng lớp trí thức cũng không biết khái niệm thế nào về "trách nhiệm".
Một chi tiết buồn cười nhưng cũng nên nhắc. Hiện hay bà tổng thống Brasil Dilma Roussef hiện đang trong cơn xoáy chính trị vì bị đe dọa "lật đổ". Lỗi lầm của bà, được ghi trong Hiến pháp, (tiếng Pháp) là "Crime de responsabilité", tạm dịch là "tội phạm về trách nhiệm". Bằng chứng phía đối lập đưa ra là bà Roussef đã "gian lận số liệu kinh tế", việc này đã giúp cho bà thắng cử tổng thống 2014. Hạ viện đã bỏ phiếu thuận (lật đổ). Số phận của bà Roussef nằm trong tay của Thượng viện, nơi có thẩm quyền xét tội "Crime de responsabilité".
Trở lại Việt Nam, vụ tiệm phở trễ hạn đăng ký 5 ngày đã bị công an bị truy tố hình sự, ta thấy mọi phía đã "nhập cuộc". Từ hội luật gia, đến bí thư Đinh La Thăng, rồi đến thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc. Ông tướng Nguyễn Anh Minh nói rằng vấn đề "nhỏ xíu bằng móng tay".
Vấn đề to lớn, việc "vi hiến" do miễn nhiệm (chủ tịch nước và thủ tướng) không có lý do vừa qua, lý ra là một khủng hoảng, có thể gây rối loạn chính trị lâu dài. Vậy mà ta không hề thấy bất kỳ một luật gia nào của VN lên tiếng, ra một nhận định. Ở xứ người, chỉ một lỗi nhỏ "như móng tay", kiểu bà Roussef (hay Clinton ngày trước) cũng bị thượng, hạ viện hạch sách, đòi lật đổ.
Việc trước mắt, vụ ô nhiễm ở Hà Tĩnh, lý do gì khu Vũng Áng trở thành đặc khu "bất khả xâm phạm" của nước ngoài ? Vụ ô nhiễm này sẽ giải quyết ra sao ?
Còn nhiều chuyện khác, về lãnh thổ, hải phận quốc gia. Ai có trách nhiệm để cho TQ xây dựng các đảo nhân tạo, đe dọa an ninh và toàn vẹn lãnh thổ của VN ?
Nếu lãnh đạo không có trách nhiệm với công việc mình làm, thì người dân nào nhận chịu trách nhiệm?
Khi không ai còn trách nhiệm, đất nước chỉ chờ ngày tan rã mà thôi.
24-4
Nhân vụ truy tố hình sự vụ quán Cà phê "Xin chào", nói về khuyết điểm nội tại của "pháp chế XHCN".
Vụ truy tố hình sự chủ quán cà phê "Xin chào" đã bật ra nhiều khuyết điểm nội tại của "pháp chế xã hội chủ nghĩa" (législation socialiste) mà nếu không có "dư luận" lên tiếng qua mạng internet, như Facebook, người ta sẽ không bao giờ phát hiện ra được.
Hệ quả của việc truy tố, không chỉ đơn thuần ảnh hưởng ở "môi trường kinh doanh", như ý kiến ông Lê Mạnh Hà, phó chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ:
“Nếu vụ này ông bán cà phê bị thua sẽ đưa ra một thông điệp rất xấu cho môi trường kinh doanh, có nghĩa rằng mọi doanh nghiệp, mọi người kinh doanh đều có thể bị đi tù”.
Ở đây ông Lê Mạnh Hà chỉ nói đến "người kinh doanh", là ông chủ quán "Xin chào". Nhưng song song đó còn có "vụ án" của người chủ cho mướn đất, không làm kinh doanh. Ông này cũng đã bị (công an quận Bình Chánh) truy tố hình sự vì tội "cất chòi nuôi vịt".
Hai vụ "truy tố hình sự", đối với chủ quán "Xin chào" và người chủ đất, có liên quan với nhau. Động lực đã khiến cho công an và VKS (quận Bình Chánh) truy tố, ai cũng nhìn thấy và bàn tán rộng rãi trên mạng internet. Đó là do vị trí "đắc địa" của miếng đất.
Khuyết điểm (nội tại) của pháp chế xã hội chủ nghĩa, thứ nhứt, thấy được qua trường hợp này, là pháp luật đã không áp dụng như một "trật tự pháp lý", nhằm bảo đảm tính công bằng (về pháp lý) cho mọi thành tố trong xã hội.
Pháp luật đã bị những người có chức quyền lạm dụng để phục vụ cho lợi ích riêng tư.
Điều cần bàn là thái độ lạm dụng quyền lực (của công an và VKS) sẽ bị luật pháp chế tài như thế nào ?
Trong trường hợp này, cả hai trụ cột quyền lực nhà nước là hành pháp (công an) và Tư pháp (Viện Kiểm sát) có sự phối hợp, nếu không nói là thông đồng với nhau.
Dầu vậy nó thể hiện đúng với tinh thần nội dung Hiến pháp ở Khoản 3, Điều 2:
"Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp."
Khi mà các quyền "hành pháp, lập pháp và tư pháp" được Hiến pháp qui định là "thống nhất", thì việc "kiểm soát" giữa các "nhánh" quyền lực là không hiện hữu.
Vụ quán "Xin chào", phía đóng vai trò "kiểm soát" là "dư luận", tức những người sử dụng Internet, nhứt là Facebook, chớ không phải là Viện Kiểm sát hay Công an. Riêng về Quốc hội, đại diện thẩm quyền lập pháp, thì "im như thóc".
Từ nào giờ Quốc hội đã chỉ đơn thuần là một bó hoa trang trí.
Khuyết điểm thứ hai của "pháp chế xã hội chủ nghĩa" là không có thủ tục "pháp lý" nào để truy tố đại diện VKS và Công an, nếu những người này "phạm pháp".
Nghe nói ông chủ tịch VKS quận Bình chánh đã bị thẩm quyền thành phố Sài Gòn "ngưng chức". Còn phía công an thì nghe nói sẽ do "bộ chính trị" quyết định.
(Trước đây vài hôm, ông thiếu tướng công an Phan Anh Minh đã đọc báo cáo cho thấy sự bất lực của phía công an hình sự đối với những tội phạm là đảng viên. Nhũng tội phạm là đảng viên thì công an không được quyền điều tra mà phải đưa về BCT).
Tức là việc "trừng phạt" những công chức (đại diện quyền lực nhà nước) khi họ phạm pháp, không theo một thủ tục "pháp lý", với thủ tục tố tụng và hình phạt được định nghĩa theo "khung pháp lý". Số phận của họ được quyết định tùy thuộc vào cách thể hiện quyền lực của một công chức cao cấp hơn.
Trở lại trường hợp vụ án Đoàn Văn Vươn, những người đại diện quyền lực nhà nước đã lạm dụng pháp luật, sử dụng pháp luật để chiếm đoạt của cải của gia đình Đoàn Văn Vươn. Nhờ dư luận xã hội Đoàn Văn Vươn bảo vệ được tài sản. Dầu vậy ông Vươn vẫn phải đi tù. Còn (những) người lạm dụng pháp luật, như ông đại tá Đỗ hữu Ca, (chắc phải là đảng viên) thì được thăng lên tướng và chuyển sang làm việc ở địa phương khác.
Khuyết điểm này (của pháp chế XHCN) đã làm cho bệnh "tham nhũng" trong xã hội VN trở thành kinh niên (chronique). Ai là đảng viên cũng đều có thể tham nhũng mà không bị trừng phạt (theo pháp luật). Tham nhũng ngày càng bành trướng, công khai, pháp luật nghiêm khắc tới đâu cũng vô phương chữa trị.
Khuyết điểm thứ ba, sự "thống nhất" của các quyền "hành pháp, lập pháp và tư pháp" đã tạo nên phe nhóm "quyền lực-quyền lợi" trong xã hội.
Trở lại vụ án Đoàn Văn Vươn, ta thấy phe nhóm được cấu kết từ cá nhân có quyền lực cao nhứt. Những kẻ thủ phạm lạm dụng quyền lực được cá nhân này "chống lưng". Do dư luận xã hội phản đối quá mức, chẳng đặng đừng người "có quyền lực cao nhứt" lên tiếng vuốt đuôi, xoa dịu dư luận. Cuối cùng, kẻ phạm tội thay vì ngồi tù thì được thăng chức cao hơn. Còn nạn nhân thì vào tù ngồi bóc lịch.
Pháp chế XHCN mục đích như vậy là để bảo vệ đảng viên. Cấp trên bao che cho cấp dưới. Dân tình oan ức mà không có luật pháp nào bảo vệ. Người dân bỏ xứ mà đi thì cũng hợp lý thôi.
Mạng internet trong chừng mực trở thành "cứu tinh" của nhân dân VN, đóng vai trò kiểm soát (cách thực thi) quyền lực (cho đến khi nó vẫn chưa bị "thống nhất" vào tay của đảng).
Mà ảnh hưởng thực sự của "dư luận" cũng rất "vô chừng".
Trong xã hội đã có hàng vạn, hàng triệu vụ án tương tự. Người dân nào (vô phúc) có của cải, có mảnh đất ở vị trí "đắc địa", thì người dân đó có triển vọng sớm trở thành "dân oan". Ngay cả những người gia đình "liệt sĩ", đã từng hy sinh cho đảng, cũng như đóng góp nhiều cho đất nước.
Khuyết điểm nội tại của "pháp chế xã hội chủ nghĩa" là pháp luật bảo vệ quan chức tham nhũng chớ không nhằm diệt trừ tham nhũng.
Hôm trước tôi có viết bài về "nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa".
Về nội dung, nhà nước mà VN đang xây dựng không phải là một nhà nước mang nội hàm của "Etat de Droit" hay "Rule of law", là các khái niệm dân chủ tự do về mô thức xây dựng nhà nước.
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa VN (mà đảng đang xây dựng) là một "tổ chức quyền lực", pháp luật là nhằm củng cố quyền lực giai cấp lãnh đạo, chớ không nhằm xây dựng một "trật tự pháp luật", theo như bản chất tự tại của các nhà nước pháp trị (Etat de Droit - Rule of Law) ở các xứ dân chủ tự do.
Mọi quyền lực nhà nước pháp quyền XHCN không phục tùng vào pháp luật như một nhà nước pháp trị (Etat de Droit - Rule of Law).
Bởi vì, theo Marx và Angels, "nhà nước" chỉ là một "công cụ bảo vệ giai cấp":
"nhà nước là tổ chức chính trị của giai cấp đang thống trị về kinh tế, nhằm bảo vệ trật tự đang có và đàn áp sự phản kháng của giai cấp khác."
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa VN hiện nay thể hiện 100% ý nghĩa nhà nước của Mác. Nó chỉ là một công cụ để bảo vệ giai cấp. Giai cấp ở đây là giai cấp có "thẻ đỏ".
VN không thể nhập nhằng mãi khái niệm "nhà nước" của Marx-Angels và "nhà nước" dân chủ tự do. VN có thể sẽ trả giá rất đắt trong tương lai.
Khi gia nhập TPP, người ta sử dụng "luật quốc tế" để phân xử những tranh chấp, lãnh đạo (đảng viên CSVN) không thể núp dưới "quy trình" hay "lỗi hệ thống" để trốn trách nhiệm.
Ông Trọng được đề nghị làm TBT lần nữa vì ý định muốn "diệt trừ tham nhũng". Điều này cần được ủng hộ vì không có quốc gia nào có thể phát triển mà nạn tham nhũng hoành hành.
Nhưng trong một chế độ "hiện đại", người ta dùng "pháp luật" để cai trị, để diệt trừ tham nhũng, chớ không thể là "đạo đức".
Các nước Á Đông, có văn hóa tương đồng với VN, phát triển mạnh như Nhật, Nam Hàn, Đài Loan, Singapour... đều là các quốc gia "pháp trị", luật pháp nghiêm minh áp dụng cho mọi người, tự hạ dân cho tới cấp lãnh đạo (chớ không phải là đức trị).
Đạo đức là một phạm trù rất tương đối, nó có thể là mẫu mực cho xã hội này nhưng nó có thể là "tội phạm" ở xã hội khác.
Nhà nước hiện đại không ai nhắc tới đạo đức mà người ta chỉ quan tâm là mọi người có bình đẳng trước pháp luật hay không?
Nhà nước nào cũng dùng pháp luật để cai trị. Điều cốt lõi là nhà nước này có phục tùng pháp luật hay chế ngự pháp luật ?
Nếu phục tùng pháp luật, đây là chế độ "pháp trị - rule of law". Ngược lại, như VN hiện nay, đó là chế độ "dụng pháp trị - rule by law".
Tức là ý muốn "diệt trừ tham nhũng" để xây dựng một quốc gia VN giàu mạnh (của ông Trọng) có đạt được hay không, là có xây dựng được "nhà nước pháp trị" hay không ?
Những hình thức như Thủ tướng lên tiếng can thiệp, bí thư nhập cuộc... đều không nói lên điều gì, ngoài mục tiêu mị dân.
Người dân cần pháp luật phải được thưc thi công bằng cho mọi người. Tức cần "công lý" chớ không cần những lời chim chóc đạo đức giả.
26-4
Về việc ô nhiễm ở Vũng Áng, có bạn đặt câu hỏi rằng VN có thể kiện Formosa hay không?
Câu trả lời hiển nhiên là được. Không chỉ ở các Tòa thuộc pháp quyền (juridiction) VN, mà còn có thể ở các Tòa quốc tế. Các luật sư VN có thể ngay từ bây giờ tham khảo (vô số) án lệnh của các Tòa quốc tế về việc ô nhiễm môi trường để có thể áp dụng cho trường hợp Vũng Áng.
Các vụ tàu dầu nước ngoài bị chìm, hay các hãng hóa chất, chế tạo sắt thép, kỹ nghệ... làm ô nhiễm vùng biển, môi trường của HK (hay ở các nước khác) đã bị xử phạt rất nặng, hàng trăm tỉ đô la. Điều quan trọng là phải có các bằng chứng ô nhiễm và những ước lượng về thiệt hại được chứng nhận bởi một tổ chức có thẩm quyền. (Do đó ý kiến về việc mướn một tổ chức quốc tế để kiểm nghiệm là cần thiết).
Vấn đề không hề đơn giản, như sự lựa chọn giữa "cá hay nhà máy", mà phó giám đốc Formosa đã đặt ra cho VN. Nếu chứng minh được Formosa là tác nhân của vụ làm chết cá, tàn phá môi trường, thì Formosa phải bồi thường đích đáng. Bởi vì nghĩa vụ bảo vệ môi trường thuộc về Formosa. Người ta có thể sản xuất sắt thép, sản phẩm plastique... mà không hề làm chết cá, ô nhiễm môi trường, đúng như nội dung các công ước quốc tế về môi trường đã được LHQ chuẩn nhận.
Đồng thời nạn nhân cũng có thể kiện nhà nước CSVN trước Tòa quốc tế. Có thể ràng buộc vì hợp đồng, nhà nước VN đã bị mất chủ quyền lãnh thổ tại khu vực Vũng Áng cho ban giám đốc Formosa. Nhưng không phải vì vậy mà nhà nước VN có lý do để phủi trách nhiệm của mình.
Áp dụng nguyên tắc 21 của Hội nghị Stockhom của LHQ về Môi trường, theo đó một quốc gia không được quyền sử dụng lãnh thổ của mình (hay lãnh thổ mình chiếm đóng) để tạo ra việc ô nhiễm môi trường. (Lý ra, VN đã có thể kiện TQ ở vấn đề ô nhiễm trong việc đào xới lòng biển để xây dựng đảo nhân tạo).
Nếu Formosa được bảo vệ (miễn trừ thẩm cứu) vì một số điều khoản của hợp đồng thì nhà nước CSVN phải chịu hoàn toàn trách nhiệm.
26-4
Bà chị bên kia đặt vấn đề "chúng ta để lại gì cho tương lai" ? Haizzz.. câu hỏi thật là "tình hình"...
Thật ra mình đã để lại rất nhiều cho thế hệ tương lai. Kể ra vài thứ:
Những khu rừng ngập bùn bô xít bao la, không cây không cỏ, không có thú hoang, không nhà không cửa...
Những vùng biển hàng trăm cây số không còn san hô, không còn tôm cá, thậm chí rong cũng không mọc được... vì ô nhiễm những hóa chất độc địa cũng như các loại kim loại nặng.
Những ruộng đồng ngập mặn nuôi tôm không được, trồng lúa không xong...
Những bờ đất bị biển gặm nhắm dần, mỗi năm vài trăm thước,
Những vùng đất ngập nước biển, mỗi năm nước dâng lên vài cm...
Những con sông kiệt sức cạn dòng...
Mình để lại cho thế hệ tương lai nhiều thứ lắm. Toàn là tiêu sản.
Đứa trẻ mới oa oa chào đời thì đã mang nợ 2.000 đô la.
Để lại những thành phố tan hoang di tích, chỉ trơ những cao ốc xài 30 năm sau phải tốn công đập đi xây lại...
Tình hình, thật là tình hình...
27-4
Không phải cứ nhân danh "nhà nghiên cứu quốc tế" thì mỗi lần "phán" là đúng.
Nếu theo dõi báo chí VN, trên BBC, RFA, RFI... những lời "phán" của các "chuyên gia", "nhà nghiên cứu quốc tế" người Việt... về các vấn đề "chuyên môn", ta thấy phần lớn là "trật lất".
Những lãnh vực bao quát khó kiểm chứng như địa chính trị Biển Đông, chuyện "xoay trục của Mỹ", chuyện vùng nhân diện phòng không của TQ ở Biển Đông, chuyện Phi kiện TQ về cách diễn giải Luật Biển 1982, chuyện tranh chấp VN-TQ về chủ quyền biển đảo... lạc quan cách mấy ta cũng thấy sức ép lên VN mỗi ngày một nặng nề. Điều này hoàn toàn trái ngược với những nhận định "la vie en rose" của của các học giả Việt.
Còn chuyện kiểm chứng được, như chuyện "bói" Tổng bí thư vừa rồi. Phải nói tất cả "các nhà nghiên cứu quốc tế" đều tiên đoán sai. Ai cũng nói rằng TBT sẽ là Ba Dũng. Những bài nghiên cứu đồ sộ, đăng trên báo chí nước ngoài, trong những "viện nghiên cứu chiến lược" nước ngoài... còn đó làm chứng. Báo chí như BBC, RFA, RFI... tranh nhau phỏng vấn họ. Rốt cục, nước bọt cũng là bong bóng, không ai nói đúng được điểm nào.
Bây giờ nói về "đường sắt cao tốc". Câu hỏi là VN có cần thiết xây dựng đường sắt cao tốc hay không ?
Đến nay hệ thống đường sắt VN vẫn là những gì còn sót lại từ thời Pháp thuộc. Tiếp tục sử dụng nó cho đến khi nào ?
Mơ ước của lãnh đạo, của bất kỳ quốc gia nào, là xây dựng hạ tầng cơ sở đất nước để thuận tiện cho việc phát triển bền vững. VN có thể nào bỏ qua hệ thống đường sắt cao tốc hay không?
Nếu theo ý kiến của những "nhà nghiên cứu quốc tế" thì dân VN cứ ngồi đó mà mơ hái sao trên trời. Theo họ, xe lửa cao tốc của Nhật còn lỗ sặc máu, VN theo chân để phá sản à ?
Không ai cãi việc xe lửa Shinkasen của Nhật là lỗ. Ngay cả xe TGV của Pháp cũng không đem lại lợi nhuận.
Nhưng tại sao lãnh đạo Nhật, Pháp lại (tiếp tục ngu xuẩn) đầu tư, lỗ thì kệ lỗ, tiền công quĩ cứ ào ào xuất ra để bảo trì (thậm chí xây dựng thêm) hệ thống đường xe lửa này như vậy ?
Mà cũng không thiếu những lãnh đạo (ngu xuẩn) của các nước (giẫy chết) khác bỏ tiền xây dựng hệ thống xe lửa cao tốc TGV cho đất nước của họ.
Bởi vì lãnh đạo người ta nhìn vấn đề bằng con mắt "vĩ mô". Người ta tính là hệ thống đường sắt sẽ đóng góp vào GDP của quốc gia là bao nhiêu ? Nếu số tăng trưởng GDP (đến từ Shinkasen hay TGV) cao hơn số lỗ, thì người ta vẫn phải làm.
Thử nhìn vào hệ thống điện lực. Hãng điện quốc gia EDF của Pháp lỗ kinh niên, cũng giống như VN. Không lẽ dẹp nó hay sao ?
Người ta đâu có tính (không xa hơn thửa ruộng) phải không ?
Vì vậy việc xây dựng hay không hệ thống đường xe lửa cao tốc VN, câu trả lời sẽ đến từ các nghiên cứu (giả thiết) là hệ thống này sẽ làm cho GDP của VN tăng trưởng (hay suy thoái) là bao nhiêu ?
Chớ không phải đến từ một bài bài vô thưởng vô phạt nói về xe lửa Shinkasen của Nhật bị lỗ.
28-4
Mới đọc một bài báo bên VnEconomy, nói về "nhu cầu minh bạch và ứng xử văn minh" trong vụ Formosa. Một số chi tiết quan trọng liên quan đến Formosa đã được tác giả bài báo công bố như sau :
"Trong 5 năm gần đây, tổng lượng thuế Formosa đã nộp vào Hà Tĩnh đã vượt con số 10 ngàn tỷ đồng dù chưa đi vào sản xuất. Trong khi đó, về phía Formosa, “thu nhập” là con số không tròn trĩnh vì đơn giản là chưa có sản phẩm để bán ra thị trường."
Điều cần kiểm chứng lại là số tiền thuế 10 ngàn tỉ mà Formosa đã đóng cho Hà Tĩnh.
Ở đâu cũng vậy, người ta chỉ nộp thuế khi có doanh thu. Chưa vào hoạt động, doanh thu là dê rô. Formosa đóng thuế gì ở đây ?
Còn vụ "giải ngân", bài báo cho biết:
"theo số liệu mới nhất của UBND tỉnh Hà Tĩnh, tổng số tiền giải ngân của Formosa vào dự án tính đến hết tháng 3/2016 là 98% của số vốn đăng ký, tức khoảng gần 10 tỷ USD."
Cũng cần phải kiểm chứng lại. Nghe nói Formosa được "vay ưu đãi" ở các ngân hàng VN. Bao nhiêu phần trăm vốn từ ngoài đổ vô, bao nhiêu là vốn từ ngân hàng VN ?
Bài báo viết :
"Theo kế hoạch chung, cuối tháng 6 này lò cao số 1 sẽ chạy chính thức, bắt đầu cho ra lò những mẻ thép thương mại đầu tiên."
Một bài báo khác cũng đăng tin:
"Chi cục Hải quan Cửa khẩu Vũng Áng (Cục Hải Quan Hà Tĩnh) cũng xác nhận, trong thời gian qua Formosa nhập gần 300 tấn hóa chất vào Việt Nam để phục vụ quá trình thi công và chuẩn bị vận hành các nhà máy nhiệt điện."
Nhà máy chưa chạy, 300 tấn hóa chất còn tồn kho, tại sao đường ống dẫn nước thải "đã chạy" ? Không những chạy mà còn chạy mạnh, mỗi ngày thải ra hàng chục ngàn thước khối chất thải.
Hàng chục ngàn thước khối chất thải đổ theo cống (của Formosa) dẫn ra biển hàng ngày là do nhà máy nào ?
Ta không thể loại trừ giả thuyết chất thải từ những nhà máy khác (trên thế giới) của Formosa được tàu bè cập vào Vũng Áng. Nhà nước VN có thể đã ký nhận những điều khoản dễ dãi về môi trường, cho phép Formosa làm những điều mà các nơi khác nghiêm cấm. Cũng không thể loại trừ lý do quan chức Hà Tĩnh đã bị Formosa dùng tiền bạc "kiểm soát", cho phép hãng này làm những việc không đúng với hợp đồng.
Cá chết phải có nguyên nhân. Một số khoa học gia VN đã lên tiếng đưa ra những nhận định khá thuyết phục. Nếu nguyên nhân do thủy triều đỏ, tức "hoa tảo nở", thì các loại sinh vật sống dưới đáy biển sẽ không bị ảnh hưởng. Cá dưới đáy biển chết nguyên nhân phải do chất thải.
Vấn đề là, muốn truy tìm thủ phạm, ta phải có bằng chứng cụ thể. Tức là phải lấy những mẫu nước đúng phương cách và việc thử nghiệm phải đúng theo chu trình của nó.
Việc mướn một cơ quan khoa học quốc tế để giảo nghiệm là cần thiết. Mà sự việc đã xảy ra trên hai tuần. Bằng chứng theo thời gian sẽ "tan" vào nước biển mênh mông.
29-4
Bên BBC đăng hai bài báo, tựa đề là hai câu hỏi : một là Việt Nam có tìm ra lý do cá chết hàng loạt ? và hai là Mỹ sẽ bỏ cấm vận vũ khí với Việt Nam?
Hai bài báo, hai câu hỏi hoàn toàn « trớt quớt » với nhau dầu vậy nó có chung một câu trả lời. Đó là chính trị (và ngoại giao).
Về câu hỏi một, không phải chỉ có cá chết lan tràn, trên 250 cây số biển, từ Quảng Bình cho tới Đà Nẵng. Mà người ta đã thấy chim chết ở đảo Chim. Chim ăn cá. Cá chết thì chim phải chết thôi. Người ta cũng thấy rừng (ngập mặn Kỳ Anh, Hà Tĩnh) cây đước chết hàng loạt. Chim cá bị chất độc làm chết. Cây cũng bị chết thôi. Người ta cũng bắt đầu chết (vì lặn dưới nước biển khu vực Vũng Áng). Người chết mới « sơ sơ » vì người khôn hơn chim, không ăn cá nữa. Dầu vậy, câu trả lời VN có tìm thấy thủ phạm làm cá (chim, rừng và người) chết hay không, là tùy ở Bắc Kinh (hay Đài Bắc).
Câu hỏi hai, Mỹ có bỏ lệnh cấm vận vũ khí sát thuơng cho VN hay không. Câu trả lời cũng sẽ thấy ở Bắc Kinh.
Đúng vậy, Bắc Kinh chớ không phải ở Hà Nội hay do nhân quyền.
30-4
Nếu vẫn chưa bỏ tư duy kẻ chiến thắng muốn nói thánh nói tướng thế nào cũng được thì VN vẫn mãi mãi sẽ là một quốc gia không chịu phát triển.
Vietnamnet có đăng bài viết, ý kiến cho rằng Sài Gòn (trước 75) là thành phố ăn bám, chỉ sống nhờ vào viện trợ. Thực ra ý kiến này không phải chỉ có mới đây mà đã có từ trước 30-4, đến từ sự tuyên truyền của CS miền Bắc. Vấn đề đến nay vẫn còn có những người (thuộc giới lãnh đạo cao cấp, trí thức, nhà báo...) tin tưởng đúng là như vậy, thì việc phát triển VN thật là mù mịt.
Nhớ lại những ngày sau 30-4, vĩa hè Sài Gòn đang xanh cỏ bỗng nhiên bị đào xới lên trồng khoai lang. Nhà nào có sân đều khoanh lại làm chuồng nuôi heo, gà. Thậm chí nhà có sân thượng cũng che sơ sài vài tấm ván, biến thành chuồng heo. Tất cả đều tuân theo khẩu hiệu của đảng CSVN "gia tăng sản xuất", "lao động là vinh quang"...
Cuối cùng, đến năm 1979 kết quả cả nước suýt chết đói !
Người cộng sản Việt có cái tư duy dốt nát, cứ tưởng "lao động", "gia tăng sản xuất"... là phải "làm ra sản phẩm". Sản phẩm phải là "vật chất", như củ khoai, con heo, con gà...
Sài Gòn, cũng như nhiều thành phố lớn khác, đâu phải là nơi để trồng khoai, nuôi heo, nuôi gà... Sản phẩm đâu phải đơn thuần là "vật chất" ? Sản phẩm còn có sản phẩm của "trí tuệ".
Sài Gòn, cũng như Hà Nội khi xưa, là những nơi "đào tạo con người". Mà "vốn con người" mới là quan trọng, to lớn gấp ngàn, triệu lần vốn vật chất.
Ông Bill Gates làm ra hãng Microsoft. Hãng này đâu có sản xuất ra "vật chất" theo lối củ khoai, hột gạo, con heo... như VN. Lâu lâu họ làm ra một "sản phẩm" tròn như cái dĩa, lớn bằng bàn tay, gọi là Windows, Office, SQL Server, Exchange Server... chi chi đó. Ai trên thế giới này xài máy tính đều phải xuất tiền ra mua. Một cái dĩa như vậy trị giá có khi vài tấn lúa.
Thế giói có hàng trăm, hàng ngàn ông tương tự như Bill Gates. Ông nào cũng là tỉ phú. Tài sản của họ không kém với tổng sản lượng quốc gia VN.
Bên Singapour, ông Lý Quang Diệu trước đây, nếu ban đầu lập quốc mà khuyến khích dân "sản xuất" kiểu trồng khoai, nuôi heo... (theo kiểu lãnh đạo VN) thì làm sao nước này tiến bộ như hôm nay?
Đại Hàn và Đài Loan, từ những thập niên 60, 70... đâu có khác gì VN ? Những nước này cũng chậm tiến, nghèo, dân chúng hầu hết sống về nghề nông... như VN. Nếu mà lãnh đạo của họ cũng khuyến khích nuôi heo, trồng khoai... thì đất nước của họ làm gì có những hãng Samsung, Hyundai, Formosa... ?
Khác nhau tư duy, quan niệm về "vật chất", "sự lao động"... lãnh đạo Hàn Quốc, Đài loan, Singapour... đưa dân tộc của họ lên làm chủ. Còn VN, do tư duy ngu xuẩn đã đưa dân cả nước xuống làm con ở, làm mướn cho người ta.
Ông chủ của Formosa trước kia, tài sản và khả năng thua xa những người Hoa ở Chợ Lớn. Khi mà những doanh nhân Đài Loan khởi nghiệp, họ bắt đầu bằng việc chế tạo những vật dụng nhôm, plastique... thì doanh nhân ở Chợ Lớn đã vượt xa, về khả năng cũng như vốn liếng. Sài Gòn thì những doanh nhân VN đã lập các hãng cơ khí chế tạo xe, đóng tàu, chế tạo dược phẩm, xi măng... Trong khi các nước Singapour, Hàn quốc, Đài Loan, Thái Lan... về kỹ nghệ "cao cấp" tương tự thì vẫn còn ở phía sau.
Sài Gòn trước kia không sản xuất heo, khoai... nhưng đã đào tạo ra những "con người văn hóa". Những người này, sau 75, tay trắng vượt biên sang nước ngoài, không bao lâu là tạo dựng được căn bản, sự nghiệp trên đất người. Một số thành công lớn trong xã hội Mỹ, Pháp... Đơn giản vì họ "có học", họ là bác sĩ, kỹ sư, giáo sư... Bằng cấp của họ được nhìn nhận, hoặc chỉ phải tu nghiệp lại một, hai năm. Thế hệ người Việt thứ hai, thứ ba... phần lớn đều có bằng cấp đại học.
Cái tư duy ngu xuẩn của người cộng sản Việt đến nay vẫn tiếp tục tồn tại. Bằng cấp của VN hiện nay không đâu nhìn nhận. Nhìn nếp sống dân chúng ba miền ta kiểm chứng điều đó.
Đó là tư duy "sống chung với lũ, với hạn, mặn". Tại sao phải sống chung, làm như không có giải pháp nào khác ?
Bốn thập niên đã bỏ phí. Bốn thập niên qua, cộng sản VN đã thành công đào tạo người dân VN thành những con người "lao động cơ bắp". Bây giờ không sống chung với lũ, với hạn, mặn thì phải làm gì ?
Đọc những ý kiến của trí thức, nhà báo, của những lãnh đạo VN... đến bây giờ mà họ vẫn ý thức sai về giá trị của sự lao động. Mà khi ý thức sai thì tư duy kinh tế sẽ sai. Người dân vì vậy muôn đời vẫn phải sống chung với lũ, với hạn, mặn. Và sắp tới sẽ phải sống chung với ô nhiễm.
Bỏ nước ra đi là đúng thôi.
30-4
Hôm kia tôi có viết một status ngắn, nói là nguyên nhân làm cá chết ở Vũng Áng sẽ tìm thấy ở Bắc Kinh (hay ở Đài Bắc). Vì sao ?
Cá chết hàng loạt ở Vũng Áng chắc chắn nhà cầm quyền đã biết từ cả tháng trước rồi. Mà không phải chỉ có cá, rừng phòng hộ ven biển khu vực này, cây cũng chết hàng loạt, báo chí đăng tải từ tháng 3. Trong khi đó chim chóc sống ở đảo gần đó cũng chết.
Nếu nhà cầm quyền "có thiện chí", muốn truy tìm ra nguyên nhân vì sao cá chết (hay cây rừng chết), người ta chỉ cần lấy mẫu nước, mẫu cá, mẫu đất bùn... thử hai ngày sau là biết kết quả.
Bây giờ ta thấy lãnh đạo ở Đà Nẵng rủ nhau đi tắm biển (30-4), đi ăn cá nục hấp ở chợ. Cũng thấy báo chí đăng tải tin nhà nước sẽ cho thu mua cá do ngư dân đánh bắt ở biển xa. Đồng thời nhà nước cũng sẽ giúp đỡ cho những gia đình ngư dân bị thiệt hại.
Tất cả các việc này hoặc là đóng tuồng hề, hoạc là nhằm trấn an dư luận, mua thời gian để màn bi kịch sắp sữa buông màn.
Đến bây giờ (cả tháng) mà chưa có kết quả thử nghiệm là ta biết sẽ không bao giờ có kết quả thử nghiệm. Kết quả sau này có đưa ra, với mẫu cá, mẫu nước biển ở Vũng Áng, lúc chất thải đã lan tỏa khắp Biển Đông.
Formosa vô tội vạ. (Nếu chất thải đến từ những hãng khác, chắc chắn đã bị trừng phạt). Bởi vì Formosa được Gia Cát Trọng chống lưng. Cũng như Bô Xít ở Đắc Nông, đó là chủ trương lớn của đảng và nhà nước.
Tác hại của ô nhiễm, chắc chắn là kim loại nặng, sẽ không tác động tức thời lên con người. Vài năm, thậm chí chục năm sau, cả làng, cả tỉnh cùng lúc bị một chứng bệnh (như về thần kinh, gan, thận, ung thư... tùy theo chất bị nhiễm). Nhiều trường hợp ô nhiễm trên thế giới cho ta thấy việc này.
Lãnh đạo Đà Nẵng ăn cá, tắm biển... chỉ có một ngày. Số lượng chất ô nhiễm mà họ hấp thụ là không đáng kể. Còn người dân sinh sống bằng nghề cá sẽ tiếp xúc với cá, với biển suốt cả cuộc đời của họ.
Formosa chưa đi vào hoạt động mà môi trường đã hủy hoại như vậy. Vào hoạt động thì đất nước này không bao lâu sẽ trở thành vùng đất chết.
Đó là kết quả của đảng CSVN, lãnh đạo từ 40 năm qua. Giáo dục thiên về ngu dân, đào tạo vốn con người ngang với con thú. Con người ngoài khả năng cơ bắp thì không còn biết suy nghĩ gì khác. Rốt cục phải đi làm nô lệ cho xí nghiệp nước ngoài, ngay trên đất nước của mình.
Đảng CSVN đã trở thành một tập đoàn tay sai, làm đầu nậu cho tư bản nước ngoài khai thác, bóc lột dân tộc VN. Ngay cả lúc tập đoàn nước ngoài phá hoại, làm ô nhiễm đất nước, đảng CSVN cũng đứng về phía người nước ngoài để che đậy sự thật.
Đất nước về đâu?

Aucun commentaire:

Enregistrer un commentaire

Remarque : Seul un membre de ce blog est autorisé à enregistrer un commentaire.