vendredi 16 décembre 2016

Nhật ký tháng giêng (2016).
Đăng lại những ý nghĩ vụn viết trong tháng giêng năm ngoái trên trang facebook.  
6-1
Bao giờ thì TQ lập lại kịch bản Hoàng Sa 17 tháng giêng 1974 ?
Mục đích TQ xây dựng các phi đạo ở các đảo nhân tạo ở TS (từ năm trước đến nay) chắc chắn không phải để cho... chim ỉa. Phi đạo làm xong TQ sẽ cho máy bay đến thử. Và cũng dĩ nhiên, thử xong, thấy ok, TQ sẽ cho máy bay ra đóng ở đó.
Nếu các nước (có quan hệ) không muốn TQ đặt các căn cứ không quân, hải quân... tại các đảo nhân tạo này thì các nước phải có biện pháp ngăn chặn từ đầu.
Thí dụ nôm na, khi thấy thằng mất dạy mon men châm lửa đốt nhà thì mọi người phải lấy gậy đập vào tay nó. Không ngăn nó, nó sẽ đốt nhà. Vấn đề là nhà cháy và sẽ cháy lan.
Các nước chỉ lên tiếng phản đối lấy lệ, TQ cứ vậy mà tằm ăn lên, đặt tất cả vào việc đã rồi.
Năm 2014, khi TQ đang ráo riết xây dựng và mở rộng các đảo nhân tạo, đồng thời với việc Phi nộp hồ sơ kiện TQ tại Tòa Trọng Tài ở La Haye (Hòa Lan), tôi đã tiên đoán rằng TQ sẽ hoàn tất việc xây dựng trước tháng 7-2015. TQ muốn các công trình xây dựng đảo kết thúc trước thời điểm Tòa ra phán quyết "có hay không có thẩm quyền" để xử kiện. Điều này đã xảy ra đúng như vậy.
Sự việc hôm nay, TQ cho máy bay ra thử phi đạo. VN và một số nước lên tiếng phản đối. Nhưng có ai làm được gì TQ ?
Chuyện máy bay thử phi đạo là chuyện đã rồi. Bước tiếp theo TQ sẽ đưa ra các đảo nhân tạo những giàn ra đa, các giàn hỏa tiễn địa không, các ụ súng đại bác lớn nhỏ... cùng với những tốp lính thiện nghệ phòng vệ. Các đảo nhân tạo sẽ trở thành các căn cứ quân sự, theo mô thức Diego Garcia của Mỹ ở Ấn độ dương. Sẽ có vài phi đội chiến đấu cơ cũng như tàu chiến các loại sẽ thường trực có mặt ở các nơi đây. Bước đầu căn cứ Phú Lâm (Hoàng Sa) đã hoàn tất, bây giờ là các đảo nhân tạo TS.
Tôi cũng tiên đoán rằng TQ sẽ hoàn tất các việc này trước tháng 7 năm 2016, thời điểm (có thể) Tòa Trọng tài ra phán quyết (vụ Phi kiện TQ về đường chữ U chín đoạn cũng như việc diễn giải và áp dụng các điều ước của bộ Luật Biển 1982).
Phán quyết của Tòa kỳ này cũng sẽ không làm gì được TQ. Bởi vì TQ đặt tất cả vào sự việc đã rồi.
Còn bước tiếp nữa của TQ là gì ?
Mục đích của TQ là sẽ đặt vùng "nhận diện phòng không" (ADIZ) trên Biển Đông, với các đảo nhân tạo là các điểm cơ bản.
Nhưng TQ không thể đặt vùng "nhận diện phòng không" nếu các đảo trong vùng biển này còn nằm trong tay các nước khác.
Vì vậy, TQ sẽ phải chiếm tất cả các đảo TS hiện đang trong tay của VN và Phi.
VN không thể tiếp tục thái độ thụ động chịu đòn, lâu lâu (bị đánh đau quá) mới lên tiếng kêu "ái" một cái. Những công hàm của VN phản đối TQ ở LHQ không thuyết phục được ai. Bởi vì, công hàm phản biện lại của TQ có nội dung thuyết phục hơn. TQ nói có sách, mách có chứng. Lãnh đạo VN, cũng như nhà nước tiền nhiệm của VN, đã nhiều lần nhìn nhận HS và TS là của TQ rồi. Bây giờ VN đâu thể nói ngược lại ?
VN không thể giới hạn hành động "trong lời nói", mà phải thể hiện bằng hành động. Mà hành động nào cũng vậy, nhứt là chiến tranh, phải dành được tính chính đáng.
Mà hành vi duy nhứt để VN có thể dành được tính chính đáng (về hành động) là kiện TQ ra một trọng tài quốc tế.
Nhưng việc này xem ra nằm ngoài tầm tay VN. VN vác đơn đi kiện bây giờ thì mục đích là để được thua. Bởi vì sác suất thắng là 0%.
VN hôm nay vẫn xem là kẻ thù những người còn nuối tiếc "tư tưởng VNCH". Những vụ án mới đây, chỉ cần một người mặc đồ giống như quân phục VNCH ngày xưa, thì đã bị Tòa án XHCN tuyên án nặng nề.
Tư cách nào các học giả VN hôm nay lên tiếng trước quốc tế là CHXHCNVN đã "kế thừa" VNCH chủ quyền tại HS và TS ?
Trong khi đó, lập trường chính thức của đảng và nhà nước là chỉ có một "quốc gia VNDCCH duy nhứt", đó là VNDCCH. Học giả VN cố gắng củng cố lập trường này bằng cách phủ nhận hiệu lực của Hiệp ước Genève 1954 cũng như Hiệp định Paris 1973 (có một quốc gia VN duy nhứt, thống nhứt ba miền và toàn vẹn lãnh thổ). Báo chí vẫn thường xuyên bênh vực Phạm Văn Đồng, xem ông là một trong những người sáng lập nên nước VNDCCH. Tất cả những nỗ lực (tuyên truyền) này chỉ nhằm xóa dấu vết VNCH ra khỏi ký ức của những người VN.
Lập trường này cũng là lập trường của TQ. TQ có nhìn nhận thực thể chính trị VNCH bao giờ ?
TQ nuôi dưỡng lập trường này để có "thế đứng" về pháp lý trong tranh chấp chủ quyền lãnh thổ ở Biển Đông. Không có VNDCCH, không có công hàm 1958 của Phạm Văn Đồng, không có các tập sách giáo khoa, tài liệu bản đồ do nhà nước VNDCCH in ấn ra, thì TQ lấy cái gì để chứng minh chủ quyền của họ tại HS và TS ?
Dĩ nhiên, sử gia cộng sản xứ nào cũng rất tài tình việc phịa sử.
Lịch sử chủ quyền của TQ cũng được dàn dựng như "cây đuốc sống Lê Văn Tám" của VN. Nhưng sử phịa thì đầy dẫy mâu thuẩn, không thuyết phục được ai.
Trên phương diện quốc tế công pháp, những bằng chứng "lịch sử" trong trường hợp tranh chấp chủ quyền ở HS và TS, sẽ không có "trọng lượng" bằng các bằng chứng pháp lý. Những văn kiện, kết ước trao đổi hay ký kết giữa quốc gia, hay thái độ của quốc gia trước một hành vi của quốc gia khác... mới là yếu tố quyết định trong vụ kiện.
Vì vậy TQ mọi cách nuôi dưỡng đảng CSVN, hà hơi, tiếp máu cho sử gia, học giả VN. Càng vinh danh VNDCCH, vết tích VNCH càng nhạt phai trong ký ức tập thể, thì chủ quyền của TQ ở HS và TS càng được củng cố.
VN, ngoài việc đưa công hàm phản đối, lâu lâu phát ngôn nhân BNG lên tiếng yêu cầu TQ thế này, thế kia... VN không có hành vi nào khác có thể làm quan ngại TQ.
Đó là chủ trương của hai đảng, hai nước.
Chủ trương này của VN chắn chắn tiếp tục, cho đến khi TQ hoàn tất việc quân sự hóa các đảo nhân tạo (dự đoán trước tháng 7 năm 2016).
Và cứ như vậy tiến lên, TQ sẽ mở màn cuộc "tấn công phòng vệ", "giải phóng các lãnh thổ của tổ quốc hiện bị ngoại nhân chiếm đóng", lập lại kịch bản 17-1-1974 ở Hoàng Sa. Các đảo ở TS hiện do VN chiếm đóng sẽ trở về TQ.
VN hôm nay nếu đi kiện là thua chắc. Mà không làm gì hết thì các đảo TS cũng sẽ mất.
Việc này có thể "không nhằm nhò gì", nói như ông Hồ, ba cái đảo chim ỉa. TQ quản lý giúp thì có sao đâu?
VN hay Phi (và các nước khác) có thể quan niệm rằng các đảo TS (và HS) là các đảo đá (điều 121 khoản 3 UNCLOS), không có hiệu lực ZEE 200 hải lý. Đơn giản vì chúng không có nền kinh tế tự túc.
Nhưng TQ (và các nước khác) có thể có lập trường khác. Điển hình, đảo san hô Okino Tori Shima của Nhật bị ngập dưới nước, họ đòi 200 hải lý vùng ZEE. Nhật đòi được sao TQ không đòi được ? Đó là chưa nói đến các trường hợp các đảo nhỏ của Pháp và các nước khác.
Biển Đông vì vậy cũng mất về tay TQ.

6-1
Tôi thấy ngoài ông Trọng ra thì còn ai hội đủ tiêu chuẩn "vừa phải là bắc cờ, vừa phải biết ný nuận" ? Không nẽ ông Quang nùn ?
Có người nói không phải, Quang kia chớ không phải Quang nùn. Quang kia nà Quang cao, thuộc bộ công an.
Tôi không tin. Đảng CSVN không có truyền thống đưa lãnh đạo công an (hay quốc phòng) lên làm TBT. Thử dò lại danh sách tổng bí thứ đảng CSVN từ trước đến nay sẽ thấy điều này.
LK Phiêu là một ngoại lệ. Ông là một tướng lãnh quân đội, chức cao nhứt (trước khi lên TBT) là Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị. Ông lên TBT ngày 26-12-1997. Ngoại lệ khác của LK Phiêu là ngồi vừa ấm đít thì bị Đổ Mười lật, chưa đủ nhiệm kỳ. Nông Đức Mạnh lên TBT tháng 4-2001.
Bắc cờ hay nam cờ thì đã sao ?
Vấn đề của Đại hội kỳ này là có lập mô hình "tam đầu chế" để thay mô hình "tứ trụ" lâu nay hay không ?
Theo chỉ thị 30-5-2014 (khoản 3 Về công tác chuẩn bị nhân sự và bầu cử cấp ủy) của BCT nội dung "thực hiện mô hình bí thư cấp ủy đồng thời là chủ tịch hộ đồng nhân dân các cấp" có thể đã được thực thi ở Hà Nội và Sài gòn. Tức là thành ủy và chủ tịch chủ tịch UBND là một người.
Nếu "tam đầu chế" được thực hiện thì Tổng bí thư có lẽ cũng là Chủ tịch nước. Nếu quyền hành của chức vụ này được củng cố, tam đầu chế sẽ trở thành tổng thống chế theo lối Đài Loan. Thủ tướng chỉ là "cầu chì" cho tổng thống (lúc gặp thất bại về đường lối). Quyền lực của vị này bao trùm thiên hạ.
Người thì muốn Ba X làm, nhứt là những người "đón gió" ở hải ngoại. (Ông X mà rớt thì dám có nhiều người tự vận chớ chẳng chơi!). Nhưng theo lẽ thường thì các đảng viên không ai muốn trong đảng lại có thêm một đảng nữa. Đó là đảng tiền-quyền xà nẹo với nhau. Ông X vì vậy có ít sác suất để thắng. (Ngoại trừ đảng đã trở thành đảng tiền-quyền xà nẹo).
Tôi thấy thì có thể là ông Trọng. Ông này nắm trong tay nhiều con cờ quan trọng. Có điều ông hơi lú một chút. Có thể do chuyện này mà ông đánh mất cơ hội.
Anh Tư sùi hay anh Hùng hói khó có thể là giải pháp đứng đầu tam đầu chế. Mấy ông này chỉ có hy vọng nếu mô hình tam đầu chế không được áp dụng. Tức là tứ trụ vũ như cẩn, quyền hành không ai chế ngự ai. Tức là việc nước vẫn nát bét như nồi cháo heo. Trách nhiệm thì "tập thể" chịu. Còn cá nhân thì huề.

7-1
Nghe bà Nguyễn Thị Bình than vãn (trên báo chí) việc nhà nước không biết trọng dụng và đãi ngộ nhân tài. Vấn đề là bà Bình là một thành tố tạo nên bộ máy nhà nước này.
Lời tâm sự của bà Bình cho thấy cái mô hình nhà nước (và xã hội) mà bà góp công lao xây dựng lên đã thất bại hoàn toàn. Điều quan trọng là bà vẫn không thấy rằng nó đã thất bại. Những ý kiến của (trong bài phỏng vấn) chỉ vá víu, như cố gắng hà hơi làm sống dậy một thây ma đã chết.
Về vấn đề đãi ngộ. Trong bất kỳ một quốc gia bình thường, với sự phát triển trung bình, không hề hiện hữu một chính sách "đãi ngộ" đặc biệt cho một tầng lớp dân chúng nào đó. Nhứt là khi lớp người đó là lớp "trí thức". Bất kỳ chính sách "đãi ngộ" nào (của nhà nước) cũng thể hiện việc bất công trong xã hội.
Ở các nước bình thường, người ta đặc biệt chiếu cố, hay ưu tiên, cho một số người nào đó, vì lý do họ già cả, tật nguyền, những người sinh ra vốn đã thua kém những con người bình thường khác. Những giúp đỡ cho lớp người này chỉ nhằm tạo tình "liên đới" và sự "công bằng" trong xã hội mà thôi.
Một xã hội bình thường là một xã hội được xây dựng trên nền tảng "công bằng về quyền".
Anh là "trí thức" và tôi là "công nhân", hai bên đều có "quyền" và "cơ hội" như nhau để tiến thân trong xã hội.
Nếu nhà nước tạo ra những cơ chế ưu đãi, chỉ dành cho lớp trí thức, hay chỉ dành cho một tầng lớp dân chúng nào đó, thì nhà nước đã trở thành nhà nước của giai cấp.
Nhà nước XHCN là nhà nước của giai cấp. Giai cấp đó là giai cấp vô sản. Sự đãi ngộ (của nhà nước VN) trước dây chỉ dành cho giới vô sản. Những việc như "đãi ngộ", "trọng dụng"... trở thành "chính sách" của nhà nước (đặc quyền dành cho giai cấp vô sản). Những thành phần khác của xã hội như "trí, phú, địa, hào", thì mọi người VN ai cũng biết số phận "đào tận gốc, trốc tận rễ" của họ ra sao.
Vấn đề là "quốc tế vô sản" đã sụp đổ. Chủ nghĩa Marx-Lenin đã phá sản. CSVN mất chỗ dựa tư tưởng, dầu vậy họ biện hộ rằng khối XHCN sụp đổ là do thực hiện không đúng định hướng của Marx-Lenin. Họ vẽ vời ra cái gọi là "kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa", mục đích không phải để "tiến lên XHCN", mà để tồn tại (và giữ đặc quyền đặc lợi). Đại khái là họ phải lùi một bước, chấp nhận những thành phần khác (trí thức, tư sản... vốn là kẻ thù trước kia) là những thành phần cơ bản của xã hội.
Bản chất của xã hội VN đã là ưu tiên cho giai cấp vô sản. Cái nhập nhằng "kinh tế thị trường" làm nội qui đảng CSVN thay đổi. Từ nay đảng viên CS được quyền "làm giàu".
Sự ưu tiên cho giai cấp vô sản bị lạm dụng. Nhóm nhỏ vô sản nắm quyền trước kia, nay lại được quyền "làm giàu". Có quyền lực trong tay thì tiền tài xếp hàng chạy vô túi. Ưu tiên cho giai cấp vô sản bị lạm dụng, biến tướng thành sự ưu tiên cho giai cấp đảng viên.
Vì vậy một người bằng cấp (nước ngoài) đầy mình, khi về VN là không có đất dụng võ. Bởi vì họ không thuộc giai cấp ưu tiên.
Mà không phải chỉ có vậy.
Một cậu bé VN gần đây trở thành một khoa học gia về không gian đại tài ở HK. Cậu này khi ở VN phải đạp xích lô để sống.
Tức là, xã hội VN hiện nay (do bà Bình góp công dựng lên) không phù hợp cho một sự phát triển bình thường, như những quốc gia bình thường khác. Cây quít trồng ở đâu cũng ra trái ngọt. Chỉ ở VN thì ra trái chua. Lỗi ở đâu? do VN hay do trái quít ?
Bà Chi Lan mới nói trên báo một câu (nghe được), đại khái: "khi nói tới kinh tế thị trường thì không có cái gì định hướng nó hết".
Bà Chi Lan đã thấy được cái bất bình thường của xã hội VN. Còn bà Bình thì không thấy.

8-1
Ông bà mình có câu : "nói phải củ cải cũng nghe". Nhưng đối với đàn cừu, phải quấy gì chúng cũng nghe hết.
Chuyện là ai đó vừa lên tiếng phê bình thái độ của "những nhà dân chủ" khi những người này có ý kiến về nội bộ đảng CSVN nhân Đại hội XII. Đúng sai, phải quấy chưa biết, có điều trên facebook hôm nay tự nhiên im lặng như chùa bà đanh. Không còn thấy ai viết về chuyện này nữa.
Những vấn đề thuộc nội bộ đảng CSVN, ai tốt ai xấu, ai đi ai ở, ai lên ai xuống, ai thân Mỹ ai thân Tàu... thực ra cũng là vấn đề của cả đất nước và dân tộc này. Người thân Mỹ lên có lẽ là tốt cho đất nước và dân tộc hơn là người thân Tàu. Và cũng có lẽ người tốt lên dân sẽ ít khổ hơn là người xấu.
Hiện nay không ai có thể xóa bỏ đảng CSVN để có thể thiết lập một chế độ mới. Những lời phê bình đại khái như vậy có thể có một giá trị nhứt định trên phương diện đạo đức. Nhưng trên nền tảng quyền lợi của đất nước và dân tộc thì (những lời phê bình đó) không có chỗ đứng.
Lời phê bình đó chỉ có giá trị khi mà dân tộc này có một lựa chọn khác về chính trị.
Những bài viết từ nội bộ đảng CSVN tung ra, theo tôi, đó là những bằng chứng, những dữ kiện cụ thể để sau này người viết sử trung thực viết lại "lịch sử đảng". Không có những bài viết này thì làm sao ta biết được nội bộ đảng CSVN nát bấy như nồi cháo heo ?
Nghĩ lại thì thấy thật là uổng. Cơ quan tình báo trung ương của Mỹ (CIA) hàng năm bỏ ra hàng chục tỉ đô la (thậm chí hàng trăm) để cho người đi "nằm vùng", móc nối, hay mua sắm dụng cụ nghe ngóng tin tức, rồi phải mướn người phân tích và tổng hợp tin tức.
Họ đổ bạc tỉ ra để làm gì ?
Đơn giản là họ chỉ muốn biết ai là kẻ thù của nước Mỹ.
Tin tức nội bộ đảng CSVN vẫn truyền tải đó thôi. Để ý các trang quảng cáo facebook thì sẽ thấy.
Nhưng dân chúng bàng quang từ rày trở đi không còn cơ hội để biết ai là du kích văn hóa, ai ủng hộ người nào, theo phe nào, chống phe nào.
Uổng quá phải không ?

9-1
Đồng chí và đồng chó.
(châm ngôn Đại hội đảng lần thứ XII : quăng cục xương ra ta sẽ biết ai là chó)
« Chủ nghĩa lý lịch » của người cộng sản hiện đang làm khó gia đình anh Ba X. Oan oan tương báo, gậy ông đập lưng ông, cho dầu anh Ba là người cầm chịch hội đồng nhà nước. Đàn em dưới trướng anh Ba đầy dẫy, ngoài xã hội cũng như trên fây búc. Từ công an, quân đội cho tới đám cò ke lục chốt dư luận viên trên các mạng xã hội đều ở dưới trướng anh Ba. Dầu vậy anh Ba cũng khó có thể tránh được món « ám khí », đòn đánh ngay bọng dái…. Từ những người đồng chí thân thuơng của anh Ba. Tình đồng chí 40 năm phút chống trở thành tình đồng... chó (má).
Chủ nghĩa lý lịch ở VN từ xưa đến nay là ông thần hộ vệ cho chế độ. Người ta thấy nó thể hiện man mác khắp mọi nơi, mọi lúc. Đi xin một tờ giấy, bất kỳ cho mục đích gì, người xin phải điền vào khoảng trống trong tờ giấy rõ ràng nguồn gốc, nghề nghiệp của anh em, cha mẹ, ông bà… của mình. Đến nay đã gần ½ thế kỷ nhưng câu hỏi « trước 1975 làm gì » vẫn còn thấy tồn tại trên các đơn từ quan trọng.
Người ta phân loại nhân dân VN bằng « hồ sơ lý lịch ». Loại « tốt », có hồ sơ lý lịch trong sáng, kiểu « gia đình có công với cách mạng », hay ba đời vô sản, làm nông, làm lao động… Còn loại « xấu » là những người có liên hệ đến « ngụy quân », « ngụy quyền »… nói chung là những thành phần có quan hệ với chế độ cũ. Những người có lý lịch « xấu » muôn đời không vào làm việc trong các cơ quan nhà nước.
Sống trong xã hội cộng sản ai cũng trải qua cái cảnh mọi người phải dè chừng lẫn nhau. Người này để ý người kia. Thấy người nào « nói xấu chế độ » là người kia có bổn phận phải đi tố cáo. Người nào bị kẻ khác tố cáo là « phản động », cuộc đời xem như đi vào ngõ hẹp, cái nhãn « phản động » ảnh huỏng đến con cháu ba đời. Đây cũng là chủ nghĩa « lý lịch ».
Cái phản xạ « lý lịch » đến nay vẫn còn man mác trong xã hội.
Chủ nghĩa lý lịch không chỉ tàn phá mối giềng đạo lý giống nòi, mà làm cho con người VN nghi kị lẫn nhau. Con tố cha, vợ tố chồng, anh em tố cáo lẫn nhau… là chuyện thường ngày trong xã hội VN. Sự nghi kị tác hại như át xít, nó sẽ làm phân hủy gia đình, xã hội. Quốc gia chờ ngày tan rã.
Một thống kê, cách đây khá lâu, cho thấy chủ nghĩa « lý lịch » tác động ngay trên chính sách đầu tư của nhà nước. Các vùng, miền… tỉ lệ đầu tư khác nhay vì chủ nghĩa lý lịch. Miền Nam, trên mọi mặt từ giáo dục, xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông… đều không được ưu tiên. Dân chúng miền Nam vẫn bị kỳ thị về lý lịch, như là một giống dân thứ cấp : « ngụy dân ».
Chủ nghĩa lý lịch đã giúp cho đảng CSVN giữ vững được quyền lực. Cha làm quan thì tất nhiên con cũng ưu tiên được làm quan, theo kiểu cha truyền con nối. Bằng không một người làm quan cả họ được nhờ.
Thử nhìn qua thân thế gia đình anh Ba X. Anh lên cầm chịch hội đồng nhà nước thì con cái anh, đứa lớn thì làm thuợng thư kiêm luôn tổng đốc, đứa kế thì nắm chắc hầu bao làm chủ ngân hàng (mới nghe nói làm chủ tới 50 tỉ tiền obama), còn đứa út thì được đôn lên làm xếp đảng đoàn chi đó…
Nhìn qua chung quanh, sự việc nhân sự lãnh đạo các huyện toàn là người nhà, hay việc bổ nhiệm nhân sự tỉnh Quảng Nam… cũng là nhờ lý lịch.
Trở lại vấn đề anh Ba X. Con gái anh Ba bị các đồng chí của anh tố cáo có quốc tịch Mỹ. Đúng sai không cần biết, điều đáng nói là bây giờ anh Ba trở thành nạn nhân của « chủ nghĩa lý lịch ».
Ở các xứ giẫy chết, khi con cái quá tuổi trưởng thành thì cha mẹ không còn trách nhiệm. Chuyện của con là chuyện của con, không liên quan gì đến cha.
Oan oan tương báo là vậy.
Tôi thì tin thuyết nhân quả, luân hồi. Anh Ba đã sử dụng « lý lịch » để ngoi lên tột đỉnh. Chắc chắn anh cũng sẽ bị « lý lịch » vùi anh xuống tận đáy. Anh gây tội ác quá nhiều. Ác lai ác báo.
Khí đó đồng chí trở thành đồng chó.

9-1
Tôi không chia sẻ nhận định vì lý do "lợi dụng đại hội XII, lãnh đạo VN đang họp", TQ cho máy bay đáp xuống phi trường đảo nhân tạo Chữ Thập của TS Trần Công Trục trên BBC (cũng như nhiều nhà nghiên cứu khác đã nói mấy ngày nay trên báo chí).
Bởi vì, nếu đại hội 12 của đảng CSVN thuận buồm xuôi gió thì đã kết thúc vào tháng 12 năm ngoái rồi.
Lý do TQ chọn thời điểm tháng giêng là vì lý do thời tiết. Những ai có nghiên cứu về Biển Đông đều biết rằng, khu vực giới hạn từ vĩ tuyến 10° đến 15° bắc (tức khu vực Trường Sa), biển sẽ êm từ khoảng tháng giêng cho đến tháng 8. Trên bộ thì tháng giêng là mùa khô (cho đến tháng 6, tùy vĩ độ). Đây là yếu tố quan trọng về quân sự. Cuộc chiến 1979 xảy ra vào mùa xuân (mùa khô). Cuộc chiến Hoàng Sa cũng xảy ra vào mùa xuân (17 tháng giêng, biển êm). Biến cố Gạc Ma năm 1988 vào tháng ba (biển êm).
TQ chọn thời điểm bây giờ (tháng giêng) mục đích là hoàn tất việc quân sự hóa đảo Chữ Thập trước tháng 7 (trươc khi Tòa CPA ra phán quyết). Mỗi ngày phi cơ vận tải (Airbus) của TQ đáp xuống phi trường này hàng chục lượt. Tôi cho rằng chỉ trong tuần tới hệ thống ra đa và phòng không của TQ sẽ được đưa vào hoạt động.
Tôi cho rằng, có hay không có đại hội đảng CSVN, lãnh đạo VN cũng sẽ không có cách nào để ngăn cản TQ. Những việc gởi công hàm phản đối hay khiếu nại lên Tổ chức hàng không dân sự quốc tế sẽ không đem lại kết quả nào. Rất có thể trong tương lai gần, Tổ chức hàng không dân sự quốc tế sẽ hoạch định lại vùng kiểm không (FIR) trong khu vực. Bởi vì khi các phi trường tại các đảo nhân tạo của TQ đi vào hoạt động thì tổ chức này không có lý do để loại trừ. Tôi cũng tiên đoán rằng TQ sẽ nộp đơn lên Tổ chức hàng không quốc tế để xin hoạch định lại khu vực kiểm không. Và việc này cũng sẽ xảy ra trước tháng 7.
Đừng lầm lẫn "vùng nhận diện phòng không - ADIZ" với vùng "không kiểm - FIR". Vùng ADIZ thuộc phạm trù quốc phòng, thông thường được thiết lập trên lãnh thổ, vùng lãnh hải (và vùng ZEE) của quốc gia. Tức là vùng không gian thuộc về "chủ quyền" (hay quyền chủ quyền) của quốc gia. Phi cơ một quốc gia khi vào vùng ADIZ của một quốc gia khác mà không thông báo có thể bị bắn hạ. Trong khi đó, khi phi cơ lấn vào vùng không kiểm (FIR) do một nước nào đó trách nhiệm thì quốc gia này không được quyền xâm phạm chiếc phi cơ này. Đơn giản vì FIR thuộc về "dân sự".
Hiện nay các chuyến bay của TQ có lấn qua vùng kiểm không của VN (FIR) mà trong vùng này VN không hề có bất kỳ một "quyền" nào. Nghe nói khu vực lấn nằm trong "không phận quốc tế". (Chết người một cái là vùng không gian trên hải phận ZEE là vùng tự do bay, tương tự như tự do hàng hải).
Đây là hệ quả của VN khi để cho TQ làm những việc "đã rồi". Bây giờ VN không còn trách ai được nữa. Điều này tôi đã cảnh bảo (nhiều lần) hồi năm ngoái.
Khi việc quân sự hóa các đảo hoàn tất, TQ sẽ tuyên bố vùng "nhận diện phòng không ADIZ".
Lúc đó mới là chết thật.

10-1
Thực sự tôi khoái cách giật tít của VOA về các tin tức liên quan đến VN và TQ.
Mới hôm rồi giật tít "Việt nam triển khai tàu ngầm ra Biển Đông để 'xua đuổi' TQ".
Nghe ghê chưa ? Tàu ngầm VN "xua đuổi" TQ, nghe té ghế chưa ?
Tàu ngầm VN bây giờ có mấy chiếc ? lặn ra được tới đâu ?
Nghe nói gần đây mua 6 chiếc kilo của Nga. Hải quân VN cũng được Nga đào tạo một số nhân sự về tàu ngầm.
Tức là kinh nghiệm lặn còn chưa có, nói chi đánh với đấm.
VN có tổng cộng 6 chiếc kilo. TQ cũng có loại Kilo tương tự, nhưng đã đưa vào sử dụng từ lâu (57 chiếc, tức khoảng 10 lần hơn VN). Ngoài ra hải quân TQ còn có 6 tàu ngầm nguyên tử loại tấn công. Hải quân TQ từ năm 2005 đã lên hàng thứ 3 trên thế giới. Nghe nói TQ đang chế tạo loại tàu ngầm "supercavitation" để đạt vận tốc siêu âm. Tin này chắc tin vịt, để hù Mỹ.
Hôm nay VOA giật tít "Trung Quốc ‘bay lén’ vào không phận do Việt Nam quản lý"
Hai chữ "bay lén", cũng như hai chữ "xua đuổi" ở trên, đều được ghi trong hai dấu nháy nháy ''.
Đọc xong cũng thấy "sướng" trong bụng. Thâm ý của tác giả rất là sâu. Phải đọc giữa hai hàng chữ.
Cái tít này cần phải hiểu là "Việt Nam 'chửi lén" khi TQ bay vào không phận do VN quản lý".
Còn cái tít trên, phải đọc là "tàu ngầm VN bị TQ xua đuổi".
Không phải hay sao, máy bay VN lén phén ra đó là TQ bắn rụng liền. Tàu ngầm cũng vậy luôn. Quên nói là TQ cũng có loại trực thăng dò tàu ngầm như hải quân Mỹ. Hôm trước tàu vận tải của VN không trang bị vũ khí đi ngang qua đá Subi thì bị hải quân TQ chỉa súng uy hiếp.
Vì vậy, cho tôi ngã nón bái phục cách dùng chữ (cách giật tít) của nhà báo VOA.
Lãnh đạo VN thì đang họp đại hội. Tôi nghi rằng đại hội này còn kéo dài, cho tới hết năm nay (2016) và còn có thể kéo sang năm 2017.
Đại hội bây giờ (được học giả VN) xem như là bãi cát để họ cắm đầu vô đó. Cái gì họ cũng nại lý do đại hội nên VN đéo làm được cái gì (TQ).
Còn phía đảng CSVN, đại hội trở trành hầm trú ẩn để họ tránh tiếng dư luận. Tụi tao đang họp, có nghe thấy đéo gì đâu ?


11-1
Nếu ông Trọng thâu tóm quyền lực đảng và nhà nước, điều lợi cho phe dân chủ là ta biết ngay rằng đâu là đá đâu là vàng. Với đầu óc thủ cựu, ông Trọng sẽ giới hạn mọi không gian tự do còn phôi thai của VN. Đá ra đá, vàng ra vàng. Phe dân chủ sẽ gặp khó khăn trong thời gian đầu, nhưng thắng lợi sau cùng sẽ có thực chất và bền vững.
Còn ông X lên, quyền lực đảng và nhà nước sẽ tập trung trong tay của ông. Một cuộc "thanh trừng" sẽ diễn ra, âm thầm nhưng khốc liệt. Phe nào chống ông sẽ bị trừng phạt nặng nề.
Ông X sẽ thanh lọc lại đảng, củng cố quyền lực nhà nước, bằng cách hợp nhất quyền lực đảng và nhà nước. Hệ thống "đảng ủy" sẽ xóa bỏ. Việc này có thể tiết kiệm ngân sách nhà nước đến 1/3, nhưng thành phần nào chống ông X sẽ bị loại. Điều này có thể đem lại một số lợi ích về phát triển đất nước. Dân VN không còn cảnh một cổ hai tròng (đảng và nhà nước). Nhưng không có điều gì bảo đảm rằng cái tròng còn lại sẽ siết cổ người dân ít chặt hơn hai cái tròng trước. Hệ quả là đảng CSVN trở thành đảng X.
Về đối ngoại, từ mười năm nay, ông X là gương mặt đại diện cho VN trên trường quốc tế. Chính phủ do ông lãnh đạo đã ký kết nhiều hiệp định quốc tế. Các nước liên hệ dĩ nhiên mong muốn ông X tiếp tục lãnh đạo để các kết ước được thực hiện (như nội dung đã ký). Điều này không có nghĩa là lợi ích của dân tộc và đất nước VN được bảo đảm. Các hiệp ước, như TPP, nghiên cứu cho kỹ lại thì sẽ thấy VN chỉ có lợi trên phương diện "làm công". Ngay cả các lãnh đạo VN cũng không dấu diếm điều này. Ai cũng khoe điểm mạnh của VN là "công nhân rẻ". Còn các sinh hoạt kinh tế khác thì VN (chơi dao) nắm phần lưỡi. Thí dụ, phương diện pháp lý. Nếu có tranh chấp giữa chủ đầu tư và VN, luật quốc gia VN sẽ không áp dụng mà vấn đề sẽ đưa ra "tòa án TPP" phân giải. Tức là chủ quyền quốc gia của dân tộc VN đã mất.
Về vấn đề "tự do" và "dân chủ", có thể bề mặt, không gian tự do ở VN sẽ mở rộng hơn. Nhưng tất cả, nhứt cử nhứt động của mọi người dân đều dưới sự kiểm soát của công an. Điều này "quốc tế" bất cần. Kinh tế làm ăn được thì chỉ cần cái áo dân chủ hoa hòe một chút thì tất cả ô kê.
Ta sẽ thấy báo chí được thả lỏng hơn trước. Thậm chí có một vài đảng phái chính trị được hoạt động. Nhưng chính những điều này làm nền dân chủ đích thực sẽ không bao giờ xây dựng được.
Trong thời gian vừa qua, những tranh chấp nội bộ đảng CSVN ta đã thấy (và đã thất vọng) vì nhiều trang web, nhiều nhà "dân chủ" đã lên tiếng ủng hộ (mộ cách sổ sàng) ông X (hay ông Lú). Những nhà dân chủ, những tố chức dân chủ, những trí thức dân chủ... này tự tố cáo mình chỉ là "những cánh tay nối dài" của những nhóm quyền lực trong đảng CSVN.
Vì thế nền "tự do dân chủ" mà ông X dựng lên chỉ "hoa hòe", không có thực chất, mục đích là củng cố quyền lực cho phe cầm quyền.
Tức là, đối với dân tộc VN, ông X lên là một tai họa. Những nhà trí thức, những nhà dân chủ chân chính phải biết điều này.


11-1
Ông X và phe nhóm gây nợ máu cho « đồng chí » đã nhiều, nhưng nợ tiền bạc (do tham nhũng), đất đai (truất hữu ruộng đất) đối với nhân dân lại càng nhiều hơn.
Ông Thanh, ông Ngọ vì sao chết ? Ông X xuống thì sự thật mới hy vọng được thiết lập.
Các đại tập đoàn nhà nước (Vinashin, Vinaline…) vì sao phá sản ? Cũng chỉ khi nào ông X xuống thì sự thật mới hy vọng thiết lập.
Và cũng chi khi ông X xuống, dân nghèo mới hy vọng giữ lại được mảnh đất cắm dùi.
Nhưng ông X không thể xuống một cách « đơn giản » được.
Status hồi sáng tôi viết phân tích lợi hại cho đất nước (và cho sự nghiệp dân chủ hóa VN) ai lên thì tốt hơn. Khi tôi viết ông X lên sẽ là đại họa cho dân tộc thì phe thân ông X vào chọi đá tới tấp. Dĩ nhiên thôi. Ông X mà xuống thì lôi kéo theo dây mơ rể má, tiền và quyền xà nẹo. Số phận (ngay cả số mạng) của họ chưa chắc đã giữ được. Tham nhũng ai nấy ngập mặt. Bộ luật HS qui định, tham nhũng cỡ « hạm » như vậy không tử hình thì cũng chung thân.
Vì vậy, phe ông X mọi cách sẽ giữ quyền.
Kịch bản « đảo chánh » đã có nhiều người nói.
Một kịch bản khác, ông X và phe nhóm có thể khai thác để làm áp lực trong đại hội, là hăm dọa trưng cầu dân ý để đưa miền nam độc lập (dưới vĩ tuyến 17). Điều này có qui định theo Hiệp định Paris 1973.
Ông Dũng và phe nhóm có thể nhân danh CPMNVN để làm điều này.

12-1
Vấn đề chủ quyền lãnh thổ đã nhiều lần là yếu tố quyết định vận mạng ngôi vị TBT.
Lê Khả Phiêu bị lật đổ tại Đại hội IX vào tháng 4 năm 2001 với lý do "bán đất nhượng biển" cho Trung Quốc. Nhiệm kỳ TBT của Lê Khả Phiêu chưa tới hạn (lên TBT ngày 26-12-1997, trên lý thuyết hết hạn ngày 26-12- 2002). Hai hiệp ước về biên giới được ký kết dưới thời Lê Khả Phiêu : Hiệp định phân định biên giới trên đất liền (ngày 30 tháng 12 năm 1999) và Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ (ngày 25 tháng 12 năm 2000). Hai hiệp ước này kết liễu sự nghiệp chính trị của LKP.
Cũng trong Đại hội IX Nông Đức Mạnh được bầu làm TBT. Lý do bầu ông Mạnh cũng (có lẽ) liên quan đến vấn đề "lãnh thổ".
Ông Mạnh vốn người dân tộc Nùng mà vùng biên giới Việt-Trung là địa bàn sinh hoạt của dân tộc này. Theo một số tài liệu đã được phía VN công bố, sau chiến tranh 1979, phía TQ đã sử dụng những chính sách ưu đãi để chiêu dụ những dân tộc Tày, Nùng... trở về TQ. Điều cần biết là dân tộc Tày, Nùng có cùng nguồn gốc với dân tộc Choang ở Quảng Tây. Quảng Tây và Quảng Đông là vùng "tự trị" của TQ (Lưỡng quảng tự trị quốc). Nếu việc này thành công, một số vùng lãnh thổ của VN (thuộc các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn...) sẽ thuộc về TQ. Vì vậy ông Nông Đức Mạnh được chọn làm TBT, với mục tiêu hóa giải chính sách chiêu dụ của TQ. Việc này thành công. Ngoài vùng đất mang tên Trình Tường (thuộc tỉnh Quảng Ninh), của VN theo các Công uớc Pháp-Thanh (1887-1895) về biên giới, bị nhượng cho TQ. Các vùng khác thì được bảo toàn.
Trong vụ "tuyển chọn" TBT kỳ này (Hội nghị XII), vấn đề chủ quyền biển đảo (lý ra) cũng là yếu tố quyết định. Nhân vật đáng lẽ dành được nước "thượng phong" là Nguyễn Tấn Dũng, thì ông này đã bỏ qua nhiều dịp may hãn hữu để lập công trạng.
Là người đứng đầu nhà nước, ông Dũng là người có thẩm quyền để đưa ra những quyết định có giá trị pháp lý. Dịp may lần thứ nhứt bỏ qua :
Tháng 5 năm 2014, lúc TQ đưa giàn khoan Haiyang Shiyou 981 vào thềm lục địa của VN, việc này đã mở ra cho VN một thời cơ hiếm có để VN có thể giải quyết những vấn đề tranh chấp biển đảo với TQ. Nhứt là vấn đề HS đã đông lạnh từ 1974 đến nay. Tôi có viết thư đề nghị Nguyễn tấn Dũng lập hồ sơ kiện TQ ra Tòa CIJ. Nếu việc này xúc tiến, VN có thể đã hâm nóng lại vấn đề tranh chấp chủ quyền tại HS (buộc TQ nhìn nhận HS là lãnh thổ tranh chấp). Nhân việc này, VN có thể làm "đông lạnh" những hoạt động của TQ tại các bãi đá chiếm năm 1988. Tức là VN đã tránh được hoàn cảnh "tiến thoái lưỡng nan" hôm nay là phi trường trên đảo (nhân tạo) Chữ Thập được TQ đưa vào sử dụng.
Chính phủ do ông Dũng cầm đầu đã bỏ qua thời cơ này. Mà thời cơ qua đi thì không trở lại. Bây giờ nếu muốn vác đơn đi kiện cũng không biết phải kiện điều gì để đơn không bị bác và có cơ may để thắng.
Dịp may thứ hai, tôi cũng đã từng đề cập tới. VN noi gương Mã Lai kiện Singapour, trong vụ Singapour bồi đắp khu vực eo biển Johor, vào năm 2003 tại Tòa Án về Luật Biển.
VN đáng lẽ phải kiện TQ tại Tòa án về Luật Biển về các hoạt động hút, bồi tại đá Chữ Thập và đá Châu Viên (Cuarteron). Vì hai hoạt động này của TQ trục tiếp gây thiệt hại cho quyền thuộc chủ quyền của VN, cũng như phá hoại môi trường biển. Nếu chính phủ do ông Dũng cầm đầu làm việc này thì chắc chắn đã không có tình trạng khó xử hôm nay. Bởi vì trong vụ kiện Mã Lai-Singapour, Tòa ra phán quyết nhanh chóng là yêu cầu phia Singapour ngưng mọi hoạt động có thể gây thiệt hại cho Mã Lai (và môi trường biển).
Chính phủ của ông Dũng đã không làm bất kỳ động thái nào, có hiệu quả lâu dài, để đối phó với những hành vi bành trướng của TQ.
Nếu ông Dũng có lòng vì đất nước, thì bất chấp những cản trở của BCT, ông phải làm các việc này. Ở VN hiện nay, chỉ có ông Nguyễn Tấn Dũng là có tư cách để làm. Ông không làm, thì ai làm?
Vì vậy, ý kiến này tôi viết ra hôm nay, không phải để bênh vực ai hay đả phá ai, mà có mục đích cho mọi người thấy sự thật những vấn đề của đất nước.
Quốc gia hưng vong thất phu hữu trách.
Tôi là người đầu tiên (và duy nhứt) đã vào văn khố Pháp để lục lọi hồ sơ về biên giới Việt-Trung. Tôi đã công bố những tài liệu nhằm cảnh báo những sai lầm của VN, nếu không điều chỉnh sẽ đưa lại việc mất đất cho TQ.
Trong vấn đề tranh chấp Biển Đông, đến nay tôi cũng chỉ là người duy nhứt lập được một hồ sơ pháp lý (coi được) về Biển Đông. Và tôi cũng là người duy nhứt đề nghị nhà nước VN những kế sách khả thi để bảo toàn quyền và lợi ích của VN nhằm chống lại sự bành trướng của TQ.
Với tư cách một kẻ "thất phu", những việc tôi làm là tận sức lực rồi. Trái banh trong chân những người lãnh đạo, không phải ở nhân dân.
Mất nước, mất biển, mất đảo... vì vậy là do những người lãnh đạo.

13-1
VN sẽ có một Putin ? Tin buồn cho cả dân tộc.
Một Putin độc tài đã làm cho nước Nga bất ổn, dân Nga nghèo hơn và hòa bình thế giới bấp bênh.
VN có một Putin, với tất cả đặc điểm của Putin (nhưng dốt, ngạo mạn và hung bạo hơn), lại còn có cả một dự án "gia đình trị" trong tay, tương lai VN sẽ càng thêm mù mịt.

15-1
Phải chăng Tuyên bố Cairo 1943 và Tuyên Bố Potsdam 1945 đã nhìn nhận chủ quyền của Trung Quóc tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ?
Ngày 11 tháng 12 năm 2015 Đại diện thường trực của nhà nước CHND Trung Quốc tại Liên Hiệp Quốc đã ra công hàm, mục đích phản biện các lý lẽ của Phi tại Tòa CPA, nội dung như thường lệ khẳng định quyền, quyền lịch sử và chủ quyền của TQ ở Biển Đông. Nhưng lần này nội dung công hàm còn cho biết các văn kiện quốc tế trước Thế chiến thứ II, như Tuyên bố Cairo 1943, Tuyên bố Potsdam 1945 và một số văn kiện khác, nhìn nhận chủ quyền của TQ tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Đại diện của VN tại LHQ có ra công hàm phản đối đồng thời và tái khẳng định chủ quyền của VN tại HS và TS. Nhưng không thấy phía VN đề cập đến các văn kiện quốc tế mà TQ đã nhắc trong thông cáo của mình.
Có thật là các Tuyên Bố Cairo, Tuyên bố Potsdam (và các văn kiện quốc tế khác) đã nhìn nhận chủ quyền của TQ tại Hoàng Sa và Trường Sa, như nội dung của công hàm công bố tại LHQ ngày 11-12-2015 ?
Không có câu trả lời nào cụ thể hơn bằng cách xem xét lại các văn kiện trên (và các văn kiện khác, có liên quan đến Nhật trong Thế chiến Thứ II).
1/ Tuyên bố Cairo: tháng 11 năm 1943, ba lãnh tụ Theodore Roosevelt, Winston Churchill và Tưởng Giới Thạch gặp nhau tại Cairo, thủ phủ nước Ai Cập, thảo luận về điều kiện để Trung Hoa đứng về phía Đồng minh cũng như mục đích của cuộc chiến. Sau cuộc họp, một bản tuyên bố chung được công bố trước công chúng, gọi là “Tuyên bố Cairo”.
Nguyên văn bản Tuyên bố (tạm dịch lại) như sau:
"Mục đích chiến đấu duy nhất của (các nước Đồng minh) là kết thúc cuộc xâm lược của Nhật Bản. Các nước Đồng Minh không hề có mục tiêu mở rộng lãnh thổ. Chúng tôi chỉ giải phóng các vùng lãnh thổ đã bị Nhật Bản chiếm đóng bởi bạo lực."
Các vùng đất mà Nhật Bản phải từ bỏ :
Tất cả những đảo ở Thái Bình Dương mà Nhật đã chiếm từ sau Thế chiến I;
Trả lại cho Trung Hoa những vùng mà Nhật đã cướp của Trung Hoa như Mãn Châu, Đài Loan và quần đảo Bành Hồ;
Tất cả các vùng lãnh thổ mà đế quốc Nhật đã chiếm bằng vũ lực;
Nhân dân Hàn Quốc lấy lại chủ quyền đất nước mình trong một thời gian nhất định.
Những điểm cần nhấn mạnh trong bản Tuyên bố :
a) Các cường quốc (gồm Trung Hoa) không có mục tiêu mở rộng lãnh thổ. b) lãnh thổ Nhật trả lại cho Trung Hoa gồm Mãn Châu, Đài Loan và quần đảo Bành Hồ.
Tuyên bố Cairo không có dòng chữ nào qui định "trả Hoàng Sa và Trường Sa lại cho Trung Hoa."
Nhật chiếm HS và TS trên tay Pháp (là đại diện hợp pháp của đế quốc Việt Nam). Sau đó Nhật sáp nhập hành chánh hai quần đảo này vào huyện Đài Loan (nhượng địa của nhà Thanh theo Hiệp ước Simonoseki).
Tuyên Bố nói là trả Đài Loan cho Trung Hoa nhưng không vì vậy mà có thể diễn giải HS và TS phải trả cho Trung Hoa.
Bởi vì Tuyên bố còn nói: Nhật phải trả tất cả các đảo ở Thái Bình Dương (bao gồm HS và TS) đã chiếm trước Thế chiến Thứ II cũng như tất cả các vùng lãnh thổ mà đế quốc Nhật đã chiếm bằng vũ lực.
Vấn đề là trả cho ai ?
Hòa ước San Francisco 1951 (nói ở dưới), mặc dầu hai phía Trung Hoa đều không tham gia, cũng đã xác lập một thực tế là các vùng lãnh thổ này trả lại cho chủ cũ của nó. Như Triều Tiên được trả độc lập. Quần đảo Kourils trả cho Nga. Đài Loan và Bành Hồ trả cho Trung Hoa. Dĩ nhiên, HS và TS phải trả lại cho VN.
Nội dung Tuyên bố Cairo còn nhấn mạnh ở điều: các cường quốc không có mục tiêu mở rộng lãnh thổ.
Nhà Thanh đã nhượng (vĩnh viễn) Đài Loan và Bành Hồ cho Nhật. Việc này đã xảy ra trước hai trận Thế chiến. Tưởng Giới Thạch tham dự Hội nghị Cairo với Mỹ và Anh, các bên thảo luận về điều kiện để Trung Hoa chính thức đứng về phía Đồng minh trong cuộc chiến. Nội dung Tuyên bố Cairo cho thấy điều kiện của họ Tưởng (TH tuyên bố chiến tranh với Nhật) là lấy lại Mãn Châu, Đài Loan và Bành Hồ.
Không có văn kiện nào (vào thời đó) cho thấy HS và TS nằm trong “tầm nhắm” của Tưởng Giới Thạch. Điều này khẳng định qua các kết ước trao đổi quyền lợi và quân sự mà họ Tưởng đã ký kết với Pháp năm 1946. Theo đó quân Pháp vào thế quân Tưởng ở miền Bắc, đổi lại, Pháp nhượng đường xe lửa Vân Nam-Hải Phòng cùng một số quyền lợi về kinh tế khác cho Trung Hoa. Đồng thời quân Pháp cũng đổ lên các đảo HS và TS, cắm mốc mới và tái khẳng định chủ quyền.
Vì vậy, bất kỳ nhà nước Trung hoa nào dựa vào Tuyên bố Cairo đòi thêm HS và TS là có mục đích "mở rộng lãnh thổ", đương nhiên trái ngược với tinh thần của bản Tuyên Bố.
Lập luận công hàm ngày 11-12-2015 của Đại diện TQ tại LHQ, cho rằng Tuyên bố Cairo nhìn nhận HS và TS thuộc TQ, là không đúng.
2/ Tối hậu thư Potsdam : còn gọi là Tuyên bố Potsdam, là tối hậu thư của các nước Đồng minh Hoa Kỳ, Anh và Trung Hoa gởi cho Nhật Bản ngày 26 tháng 6 năm 1945. Văn kiện này quan trọng vì được sự nhìn nhận vô điều kiện của Nhật. Nội dung tối hậu thư tái xác nhận hiệu lực Tuyên ngôn Cairo.
Nội dung gồm một số điều :
"Thi hành các điều đã xác định theo tuyên bố Cairo;
Lãnh thổ Nhật Bản sẽ chỉ giới hạn trên các đảo Hondo, Hokkaido, Kiousiou và Si Kok cũng như trên một số đảo nhỏ khác sẽ được xác định do các nước đồng minh;
Nhật sẽ bị hoàn toàn giải giới và các lực lượng quân đội Nhật sẽ giải ngũ. "
Nội dung tuyên bố này không nói đến số phận các vùng lãnh thổ của các nước bị Nhật chiếm (trước Thế chiến II) mà chỉ xác nhận hiệu lực Tuyên bố Cairo.
Cho rằng Tuyên ngôn Potsdam nhìn nhận chủ quyền của TQ tại HS và TS cũng không đúng sự thật.
3/ Các văn kiện quốc tế khác.
Ngoài hai văn kiện mà Đại diện TQ (tại LHQ) đã nhắc trong công hàm, ta có thể kể đến các văn kiện khác sau Thế chiến II, có liên quan đến số phận các vùng lãnh thổ bị Nhật chiếm đóng. Đó là:
Hòa ước San Francisco 1951.
Hòa ước Trung-Nhật 1952.
Hiệp ước Hòa bình và Hữu nghị Trung-Nhật 1978.
3.1 Hòa ước San Francisco 8 tháng 9 năm 1951, Nhật ký hiệp định hòa bình (tập thể) với 48 quốc gia (hay lãnh thổ mới trả độc lập) có tuyên bố chiến tranh với Nhật. Cả hai phía Trung Hoa, CHNDTQ (lục địa) của Mao Trạch Đông hay Trung Hoa Dân quốc (Đài loan) của Tưởng Giới Thạch đều không tham dự Hội nghị San Francisco.
Mặc dầu nội dung Hòa ước San Francisco không liên quan đến hai phía Trung Hoa. Đài loan không tham gia, còn lục địa, Châu Ân Lai tuyên bố vô giá trị các hiệp ước San Francisco. Dầu vậy, nội dung Hòa ước có tầm quan trọng vì quyết định số phận những lãnh thổ do Nhật chiếm.
Điều 2 của Hòa ước San Francisco 8-9-1951 qui định :
Tạm dịch:
Nhật phải từ bỏ mọi quyền, danh nghĩa (chủ quyền) và mọi yêu sách tại:
(a) Triều Tiên, và công nhận nền độc lập của xứ này,
(b) đảo Đài Loan và quần đảo Bành Hồ,
(c) quần đảo Kouriles và phần đảo Sakhaline cũng như các đảo khác đã nhượng cho Nhật qua Hiệp ước Portsmouth năm 1905,
(d) tại các đảo đã được giao cho Hội Quốc Liên quản lý và theo quyết định của Hội đồng Bảo an ngày 2 tháng 4 năm 1947,
e/ vùng Bắc cực,
(f) các quần đảo Spratly (Trường Sa) và quần đảo Paracels (Hoàng Sa).
Như vậy hiệu lực Tuyên ngôn Cairo 1943 được Hòa ước San Francisco xác nhận.
Điểm mờ của Hòa ước là ngoài Triều Tiên (Nhật trả độc lập), các vùng lãnh thổ, kể cả Đài Loan và Bành Hồ, thì không ghi là phải trả về cho nước nào.
Điểm "mờ" pháp lý này sẽ phải giải thích ra sao?
Trường hợp Đài loan và Bành Hồ, Tuyên Bố Cairo 1943 đã nói rõ: trả về cho Trung Hoa. Rắc rối là ở thời điểm ký kết Hòa ước San Francisco, Trung Hoa có đến hai đại diện: Trung hoa Dân quốc do Tưởng Giới Thạch lãnh đạo ở Đài Loan và Cộng hòa Nhân dân Trung quốc ở lục địa do Mao Trạch Đông lãnh đạo. Những tác giả của Hòa ước đã biết rõ việc này, do đó phải hiểu “điểm mờ” là phe nào chiếm được thì thuộc về bên đó.
Còn số phận các vùng lãnh thổ khác, như HS và TS, theo thuật ngữ công pháp quốc tế là Nhật từ bỏ đơn giản, không chỉ định đối tượng (in favorem). Số phận các vùng lãnh thổ này, cũng như ý nghĩa Hòa ước San Francisco, xem bài viết ở đây.
3.2 Hòa ước Trung-Nhật 28-4-1952.
Tháng 4 năm 1952, Nhật chọn phía Trung Hoa Dân quốc là đại diện cho Trung Hoa để ký riêng hiệp định Hòa bình. Nhật đã chọn phe Tưởng là chính thức đại diện cho Trung Hoa để ký hiệp ước hòa bình, thay vì nhà nước cộng sản của Mao Trạch Đông. Đây không phải là một lựa chọn « chiến lược », mà do thủ tục pháp lý : nhà nước Trung Hoa Dân Quốc của Tưởng Giới Thạch có tuyên bố chiến tranh với Nhật, còn Mao thì không.
Điều 2 Hiệp ước Hòa bình 28-4-1952 giữa Trung Hoa Dân quốc và Nhật Bản, nguyên văn như sau:
“It is recognized that under Article 2 of the Treaty of Peace with Japan signed at the city of San Francisco in the United States of America on September 8, 1951 (hereinafter referred to as the San Francisco Treaty), Japan has renounced all right, title and claim to Taiwan (Formosa) and Penghu (the Pescadores) as well as the Spratly Islands and the Paracel Islands. ”
Tạm dịch: Hai bên nhìn nhận rằng theo điều 2 của Hiệp ước San Francisco ngày 8-9-1951, Nhật từ bỏ mọi quyền, danh nghĩa chủ quyền cũng như mọi yêu sách về đảo Đài Loan, Bành Hồ cũng như quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa.
Các học giả Đài Loan cho rằng nội dung điều 2 Hiệp ước đã nói rõ HS và TS trả cho Trung Hoa Dân Quốc.
Điều này không đúng.
Không thấy đoạn nào trong điều ước này nói Nhật giao Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Hoa Dân Quốc (tức Đài Loan hiện nay). Chỉ thấy ghi là hai bên “nhìn nhận điều 2 của Hiệp ước San Francisco 8-9-1951”.
Mà điều 2 Hiệp ước San Francisco không hề nói HS và TS thuộc về nước nào.
Mặt khác, điều 2 Hòa ước San Francisco ghi rõ: Japan renounces all right, title and claim to the Spratly Islands and to the Paracel Islands. (Nhật phải từ bỏ mọi quyền, danh nghĩa (chủ quyền) và mọi yêu sách tại HS và TS).
Ý nghĩa của đoạn văn này là Nhật đã không còn bất kỳ “quyền” nào tại HS và TS, kể cả “quyền” trả chúng cho Trung Hoa.
Tức là, muốn biết số phận các vùng lãnh thổ này ra sao, ta phải tìm hiểu nội dung Hòa ước San Francisco 1951 (xem bài viết theo link dẫn trên).
Vấn đề khác, làm cho các học giả Trung quốc khó ăn nói, là phía lục địa không nhìn nhận nội dung hòa ước San Francisco 1951, cũng như không nhìn nhận nhà nước Trung hoa Dân quốc của Tưởng Giới Thạch ở Đài Loan (tức không nhìn nhận những kết ước của nhà nước THDQ của họ Tưởng đã ký với các nước khác).
Thì bây giờ dựa vào đâu để lấy lý lẽ từ nhà nước Trung hoa Dân quốc ?
3.3 Hòa ước Trung-Nhật 12-8-1972.
Theo chân Hoa Kỳ, Nhật công nhận Bắc Kinh là đại diện cho nước Trung Hoa duy nhứt. Ngày 12-8-1972 Nhật ký Hòa ước với lục địa. Tất cả các kết ước trước đó giữa Nhật và Trung Hoa Dân quốc xem như vô hiệu lực (caduc), kể cả hòa ước 28-4-1952.
Vấn đề là TQ không có tuyên bố chiến tranh với Nhật. Nước CHNDTQ của Mao Trạch Đông khai sinh sau khi Nhật đầu hàng tháng 8-1945. Không có tuyên bố chiến tranh sao lại ký hiệp ước hòa bình ?
Nội dung Hòa ước 12-8-1972 tái khẳng định nội dung Tuyên bố Potsdam 1945.
4/ Kết luận:
Công hàm của Đại diện TQ ở LHQ, nói rằng các văn kiện quốc tế như Tuyên bố Cairo, Truyên bố Potsdam (và các văn kiện khác) nhìn nhận HS và TS thuộc chủ quyền của TQ là không đúng sự thật.
Về hiệu lực hai hòa ước Nhật-Trung 1952 và Nhật-Trung 1972, một số học giả quốc tế như Marwyn Samuels, trong tác phẩm “Contest for the South China Sea”, xuất bản từ thập niên 80 của thế kỷ trước cho rằng : “kết hợp hai hiệp ước 1952 và 1972, thì quan điểm của Nhật, tuy không chính thức nhưng đã rõ ràng. Các đảo này được coi là một phần của Trung Quốc.”
Các đảo này là HS và TS.
Đây là một kết luận rất sai của Samuels.
Thứ nhứt, nhân dịp hai bên Nhật và TQ thiết lập bang giao, Bộ trưởng bộ Ngoại giao Nhật là Masayoshi Ohira cho biết: hòa ước Nhật-Trung 1952 đã không còn lý do hiện hữu và (tuyên bố) chấm dứt.
Khi một hiệp ước bị tuyên bố không còn hiệu lực, liệu ta có thể “kết hợp” nội dung của nó với nội dung kết ước mới (thay thế nó) hay không ?
Thứ hai, giả sử rằng người ta chấp nhận hiệu lực việc “kết hợp” hai hòa ước 1952 và 1972. Vấn đề là làm thế nào một quốc gia hiện hữu hai lập trường trái ngược nhau về lãnh thổ ?
Trung cộng không nhìn nhận hội nghị San Francisco 1951, không nhìn nhận hiệu lực Hiệp ước San Francisco. Hiệp ước 1972, về vấn đề lãnh thổ, khẳng định lại Tuyên bố Potsdam 1945.
Trong khi Trung Hoa Dân quốc (tức Đài Loan hiện nay) lại nhìn nhận hiệu lực Hiệp ước San Francisco 1951. Hòa ước 1952, trong phần qui định về lãnh thổ, xác định hiệu lực và nhắc lại nội dung (điều 2 Hiệp ước San Francisco).
Ý kiến của Samuels vì vậy không có căn cứ pháp lý. Dầu vậy ý kiến này thường xuyên được các học giả (kể cả VN) trích dẫn.

17-1
Tòa CPA sẽ phân xử về "chủ quyền" trong vụ Phi kiện TQ ?
Ngày 23 tháng giêng năm 2013, Bộ Ngoại giao Phi trao công hàm cho Bắc Kinh thông báo việc Phi đã nộp hồ sơ đưa Trung Quốc ra Tòa trọng tài theo Phụ lục VII của Công ước Quốc Tế về Biển 1982. Hồ sơ kiện của Phi được Tòa Trọng tài Thường trực (La Hague, Hòa Lan) thụ lý.
Tháng 6-2014, Tòa thông báo cho Trung Quốc, nước này có 6 tháng để nộp bản phản biện, thời hạn chót là ngày 15-12-2014. Như đã biết, từ ngày 19 tháng 2 năm 2013, bộ Ngoại giao TQ đã ra cho biết TQ từ chối tham gia vụ kiện, cũng như không nhìn nhận thẩm quyền của Tòa. Một bản Tuyên bố về lập trường (của TQ đối với vụ kiện) đã được TQ công bố ngày 7-12-2014.
Theo TQ : 1/ Tòa không có thẩm quyền vì cốt lõi của vụ kiện liên quan đến “chủ quyền lãnh thổ” mà điều này không thuộc phạm trù của Công ước Quốc tế về Biển 1982. 2/ Vụ kiện liên quan đến vấn đề “phân chia ranh giới biển” mà điều này TQ đã bảo lưu năm 2006 (loại trừ mọi biện pháp trọng tài có mục đích phân chia ranh giới biển).
Thái độ không tham gia vụ kiện và không nhìn nhận thẩm quyền của tòa của TQ cũng không cản trở được quá trình thụ lý của Tòa Thường Trực.
Thông cáo ngày 13 tháng 7 năm 2015, Tòa CPA phán 10 điều. Các điểm quan trọng là : a) Tòa được thành lập đúng theo qui định Phụ lục VII của Công ước về Luật Biển. b) Việc không tham gia của TQ không ảnh hưởng đến thẩm quyền của Tòa... d) không hiện hữu bên thứ ba mà sự vắng mặt của phía này có ảnh hưởng đến thẩm quyền của Tòa...
Tức là Tòa tuyên bố "có thẩm quyền" trong vụ xử.
Dầu vậy, thẩm quyền của Tòa bị giới hạn ở các việc "tranh chấp có liên quan đến việc giải thích hay áp dụng công ức", theo như nội dung Thông cáo ngày 13-7:
"Tòa trọng tài thành lập theo Phụ lục VII có thẩm quyền xem xét một tranh chấp giữa các Quốc gia Thành viên Công ước trong phạm vi tranh chấp đó liên quan đến việc giải thích hay áp dụng Công ước."
Ngày 29 tháng 10 năm 2015 Tòa ra phán quyết sơ thẩm về nội dung các yêu sách của Phi. Tòa tuyên bố có thẩm quyền phân xử một số điều và bảo lưu (đồng thời yêu cầu Phi bổ túc lý lẽ) một số các yêu sách khác.
Phán quyết sơ thẩm của Tòa cũng nhắc là phía TQ có thời hạn chậm nhứt là ngày 1 tháng 1 năm 2016 để nộp những lý lẽ phản biện về nội dung các lý lẽ của Phi đã trình bày trước Tòa.
Ngày 11-12-2015, Đại diện Thường trực của TQ ở LHQ đã gởi công hàm phản biện các lý lẽ của Phi. Nội dung nhấn mạnh rằng các văn kiện quốc tế trước Thế chiến thứ II như Tuyên bố Cairo 1943, Tuyên bố Potsdam 1945 (và các văn kiện khác) đã nhìn nhận chủ quyền của TQ tại HS và TS. TQ còn vịn vào Hiệp ước 1898 ký kết giữa Tây Ban Nha và Mỹ nhằm chứng minh rằng lãnh thổ của Phi đã được xác định rõ rệt, theo đó Phi không có chủ quyền ở các đảo Trường Sa.
Bài viết của tôi hôm qua đã phản biện rằng các văn kiện gồm Tuyên bố Cairo 1943, Tuyên bố Potsdam (cũng như hòa ước San Francisco 1952; Hòa ước Trung-Nhật 1952 hay Hiệp ước hòa bình và hữu nghị Trung-Nhật 1978) không hề nhìn nhận chủ quyền của TQ tại HS và TS.
Lý lẽ của TQ có thuyết phục được Tòa hay không là do yếu tố VN, là bên thứ ba có quyền và lợi ích có thể bị ảnh hưởng đến vụ kiện.
Phán quyết ngày 29-10-2015 Tòa cho rằng vụ kiện sẽ không làm thiệt hại đến VN, vì thẩm quyền của Tòa bị giới hạn trong các việc giải thích và áp dụng các điều ước của bộ Luật Biển 1982.
Nhưng công hàm ngày 11-12-2015 của TQ, ta lại thấy lý lẽ phản biện của nước này lại vịn vào yếu tố "chủ quyền". TQ cho rằng họ có chủ quyền trên các đảo thuộc Biển Đông. Điều này (TQ cho rằng) được củng cố bởi các văn kiện pháp lý quốc tế.
Tòa không thể bỏ qua yếu tố "chủ quyền" do TQ nại ra. Một số các yêu cầu của Phi trước Tòa nội dung phán quyết có thể thay đổi (hay trái ngược) nếu các thực thể địa lý ở đây thuộc chủ quyền của TQ hay của VN.
Tôi đã viết trong bài hôm qua, phía VN có ra công hàm phản biện, dầu vậy nội dung công hàm không thấy nhắc đến các yếu tố pháp lý mà phía TQ đã nại ra. Quyền và lợi ích của VN bị đe dọa.
Theo tuyên bố của tòa, phán quyết chung cuộc sẽ ra vào khoảng giữa năm 2016. Nếu VN không lên tiếng về vụ này, phán quyết của Tòa có thể sẽ thuận lợi cho TQ: các thực thể đang tranh chấp (giữa Phi và TQ) thuộc chủ quyền của TQ.
(ghi chú thêm của tác giả, ngày 46-12-2016: nhận định này là đúng, sau khi kiểm chứng lại nội dung Phán quyết ngày 12-7-2015 của Tòa Trọng tài thường trực. Tòa mặc nhiên nhìn nhận chủ quyền của TQ tại Scarborough và "im lặng" về chủ quyền các bãi mà TQ đã chiếm ở TQ tháng 4 năm 1988.)


17-1
Thử giải mã những tính toán chiến lược của TQ qua các động thái gần đây.
Tôi nhận được từ người quen, ngày 2 tháng 1 năm 2016, bản công hàm phản biện của TQ do Đại diện thường trực của quốc gia này công bố tại LHQ ngày 11-12-2015. Đúng khoản thời gian có tranh luận về nhân sự lãnh đạo trong nội bộ đảng CSVN. Văn bản này vì vậy tôi bỏ qua, cho đến ngày hôm qua. Xem lại ta thấy vấn đề không đơn giản.
Ta đã biết khi phi trường trên đảo nhân tạo Chữ thập đi vào hoạt động thì các phi trường ở đá Xu Bi và Vành khăn đang trong vòng hoàn tất. TQ đã bồi đắp và xây dựng các bãi chìm này thành đảo nhân tạo trong một thời gian kỹ lục (vài tháng đến 2 năm). Việc xây dựng các phi trường cũng thực hiện bằng bằng một tốc độ kinh người (4 tháng đến 7 tháng). Mới đây TQ ra công hàm phản biện (các lý lẽ của Phi trong vụ kiện ở Tòa CPA) ngày 11-12-2015, nội dung như thường lệ khẳng định chủ quyền của TQ tại HS và TS.
Lần này TQ đặc biệt vịn vào các văn kiện quốc tế (Tuyên bố Cairo 1943 và Tuyên bố Potsdam 1945) để chứng minh việc quốc tế nhìn nhận chủ quyền của TQ tại HS và TS, đồng thời nhắc đến Hiệp ước Paris 1898 ký kết giữa Mỹ và Tây Ban Nha để chứng minh rằng Phi không có chủ quyền tại các đảo TS.
Các động thái song hành "bằng chứng pháp lý" và "xây dựng đảo trên thực địa" của TQ hiện nay, theo tôi, TQ có nhiều tính toán về chiến lược cần phải được phân tích chu đáo.
1/ Về pháp lý, Tòa CPA đã ra phán quyết sơ thẩm 29-10-2015, cho thấy Tòa có thẩm quyền phân xử.
Do những "bảo lưu" của phía TQ về các việc không chấp nhận trọng tài phân xử những vấn đề liên quan đến "chủ quyền" và các việc liên quan đến vấn đề "phân định biển", thẩm quyền của Tòa do đó bị giới hạn ở các việc "giải thích và áp dụng công ước".
Qua công hàm 11-12-2015, TQ lại vịn vào các bằng chứng pháp lý để chứng minh "chủ quyền" của TQ tại các đảo TS.
Có thể nào, qua công hàm này, Tòa mở rộng thẩm quyền phân xử qua các vấn đề liên quan đến tranh chấp do yêu sách chủ quyền lãnh thổ ?.
Trong phán quyết sơ thẩm ngày 29-10-2015, Tòa khẳng định rằng phán quyết của Tòa sẽ không làm thiệt lại đến quyền và lợi ích của VN ở Biển Đông, bởi vì Tòa không có thẩm quyền phân xử những tranh chấp liên quan đến chủ quyền.
Ta không thể gạt ra ý nghĩ rằng, dưới sự đồng ý của TQ, Tòa sẽ có thể có thẩm quyền phân xử những tranh chấp về chủ quyền. Điều này xảy ra, với các tài liệu nêu trong công hàm, TQ có thể thắng Phi 80%.
Nhưng trong trường hợp này VN sẽ là phía thứ ba không thể không có mặt.
Ý kiến viết ra hôm nay như là một lời cảnh báo để phía VN chuẩn bị hồ sơ.
2/ Ta cũng không thể loại trừ kịch bản TQ sẽ "ra tay" bằng vũ lực trước tháng bảy 2016, là ngày Tòa CPA có thể ra phán quyết về vụ xử Phi-TQ, với lý do: giải phóng những vùng lãnh thổ bị kẻ địch xâm chiếm; lập lại kịch bản Hoàng Sa tháng giêng 1974.
Trước biến cố HS, TQ nhiều lần tuyên bố trước quốc tế, những lý lẽ để chứng minh rằng HS thuộc chủ quyền của TQ.

18-1
Nếu định nghĩa "tổ quốc" như quan niệm của Singapour (hay của các nước không cộng sản), và cũng nếu áp dụng luật của Singapour (hay luật của các quốc gia không cộng sản trên thế giới) cho trường hợp VN thì tất cả các đảng viên đảng cộng sản VN đều bị phạm tội "phản bội tổ quốc".
Chính vì vậy, khi một đảng viên được đảng "bố trí" một nhiệm vụ lãnh đạo quốc gia, người này không thông qua quá trình tuyên thệ trung thành với tổ quốc (hay tuyên thệ tôn trọng hiến pháp) như Singapour (hay các nước không cộng sản khác).
Những đảng viên cộng sản chỉ tuyên thệ trung thành với đảng chớ không hề tuyên thệ trung thành với "tổ quốc".
Người cộng sản không có quan niệm về "quốc gia" mà có quan niệm "thế giới đại đồng". Mục đích phục vụ của tất cả các đảng cộng sản không phải là lợi ích của "quốc gia", mà là thực thi "chủ nghĩa quốc tế" để xây dựng "thế giới đại đồng". Người cộng sản chủ trương "tam vô": vô gia đình, vô tôn giáo, vô tổ quốc. Mục đích của người cộng sản là "thủ tiêu quốc gia", xóa bỏ biên giới để tiến tới "thế giới đại đồng".
Người cộng sản không có "tổ quốc" thì làm sao có thể tuyên thệ "trung thành với tổ quốc"?
Người cộng sản quan niệm "tổ quốc xã hội chủ nghĩa" mà "tổ quốc XHCN" không phải là "tổ quốc" (với ý nghĩa thông thường). Tổ quốc XHCN là "tổ quốc" riêng của những người cộng sản. Tức là thành quả đạt được trong quá trình đấu tranh (cách mạng) lên chủ nghĩa cộng sản.
Tức là người cộng sản chỉ trung thành với quyền lợi của đảng mà thôi.
Từ lâu tôi có nói rằng người cộng sản nào có lương tâm thì người đó đã bỏ đảng.
Có lương tâm thì mình không làm những điều dối trá, trái với đạo đức làm người, trái đạo lý của nòi giống.

18-1
Nghe nói đảng đang tìm người có "tâm" với có "tầm" để giao trọng trách mà tìm đỏ mắt, hết hội nghị này tới hội nghị khác, mà tìm không ra.
Đúng thôi, thằng nào có lương tâm thì đã bỏ thẻ đảng. Thằng có tầm, tức có tầm nhìn, tức có chút suy tới nghĩ lui, cũng không vô đảng luôn.
Thiệt là hoàn cảnh "thuơng tâm". Một đảng có hơn 4 triệu toàn vô lương tâm và bất tài. 4 triệu con người toàn thời cơ chủ nghĩa. Đất nước nghèo mạt kiếp cũng đúng thôi.

19-1
GS Ngô Bảo Châu nói như vầy trên BBC:
"Vì cái chúng ta cần là một xã hội công bằng, phồn thịnh và một cuộc sống cộng đồng gắn bó, nên người lãnh đạo mà chúng ta muốn là một người cổ suý cho nhà nước pháp quyền, kinh tế thị trường và xã hội dân sự."
Tôi nghĩ là có một số "khái niệm" trong phát biểu này cần phải làm sáng tỏ. Nếu không sẽ dễ lâm vào trường hợp nhặp nhằng về khái niệm, dễ gây ngộ nhận.
1/ Về khái niệm "xã hội công bằng".
Xã hội công bằng đã là khẩu hiệu tranh đấu của "giai cấp người vô sản", những người trang bị tư tưởng Mác, từ thế kỷ 19, ở các nước Châu Âu. Ngọn cờ của phong trào cộng sản thế giới được dựng trên nền tảng "công bằng xã hội". Theo những người vô sản, xây dựng một xã hội "công bằng" là xây dựng một xã hội trong đó không có cảnh người bóc lột người. Việc xây dựng một "xã hội công bằng" của phong trào cộng sản đã thất bại. Điều này đưa tới sự sụp đổ của LX và khối XHCN. Từ kinh nghiệm của sự thất bại này người ta nói rằng việc xây dựng "xã hội công bằng" là một "ảo tưởng" (utopique).
Nếu "xã hội công bằng" của GS Châu muốn xây dựng là xã hội này thì sự "phồn thịnh" cũng trở thành ảo tưởng.
Ở các xứ có nền "kinh tế" vận hành theo nhu cầu của "thị trường", người ta không xây dựng một "xã hội công bằng" (trở thành xã hội cào bằng như VN), mà người ta xây dựng một xã hội sao cho mọi thành viên trong xã hội đều được bình đẳng về quyền.
Chắc GS Châu phải nhớ, điều đầu tiên trong bản Tuyên ngôn Phổ cập về Nhân quyền (1948) là nói về sự tự do và bình đẳng về quyền và về nhân vị của mỗi con người : "Tous les êtres humains naissent libres et égaux en dignité et en droits".
VN đã nhìn nhận và ký bản Tuyên ngôn này. Việc cần làm, những người (có uy tín) như GS Châu, là khích lệ lãnh đạo CSVN tôn trọng những điều mình đã cam kết trước quốc tế. Tức là xây dựng một xã hội mà mọi thành tố trong đó trước hết được tự do, sau đó được bình đẳng về "quyền" (hay công bằng về cơ hội) và về "nhân vị".
GS Châu suy nghĩa lại, mình đâu cần (phải nhọc sức) xây dựng một "xã hội công bằng" chi nữa ? Vì nó là "ảo tưởng". Vì nó mà xã hội VN đã bị cào bằng mấy lượt.
2/Về "nhà nước pháp quyền". Tôi không biết cái gọi là "nhà nước pháp quyền" mà GS Châu nói ở đây là nhà nước gì ? Nó tương đương với nhà nước gọi là "état de droit" (hay "rule of law") ở các xứ khác hay không ?
Nếu đúng là như vậy, "état de droit", thì ta không thể gọi nó là "nhà nước pháp quyền" được. GS Châu thử nhìn qua các nước khác (có cùng gốc ngữ học như VN) như TQ, Đài Loan Nhật, Đại Hàn... họ sử dụng "nhà nước pháp trị".
Nếu không, GS Châu thử nói rõ, chữ "quyền" trong "nhà nước pháp quyền" lấy từ đâu ? "Pouvoir" ? "doit" ? "juridiction" ? Tôi viết tiếng Pháp cho khỏi "lạc tông" vì GS Châu được đào tạo từ trường Pháp. Tất cả các "thuật ngữ" mà tôi liệt kê đều dịch sang tiếng Việt là "quyền", mà ý nghĩa (lãnh vực luật học hay chính trị) của các thuật từ này hoàn toàn khác nhau.
Một thuật ngữ chuyên môn, chính xác, chỉ cho một mô hình tổ chức nhà nước "état de droit" không thể chuyển ngữ (sang tiếng Việt) bằng một từ "bất định" là "nhà nước pháp quyền". Bất định vì ở VN người ta giải thích rất tự tiện, lúc là chữ "quyền" của "quyền - droit của dân", lúc lại là "quyền lực - pouvoir của nhà nước", lúc thì là "nhà nước của quyền - droit".
Nếu ý kiến của GS Châu, "nhà nước pháp quyền", là tương đương với "état de droit", thì tôi nghĩ GS Châu cần có đôi lời giải thích về ngữ học trước.
Còn nếu "nhà nước pháp quyền" theo ý nghĩa của VN hiện nay, thì đến từ ý kiến của ông Đỗ Mười. Mà nguyên thủy là do ông Hồ (trong bài vè Việt Nam yêu cầu ca, 1919) "Bảy xin hiến pháp ban hành; Trăm điều phải có thần linh pháp quyền".
"Pháp quyền" ở đây có ý nghĩa của "juridiction". Nguyên ý từ bản "Revendications du peuple Annamite" : "Remplacement du régime des décrets par les régimes des lois." Có nghĩa là "thay thế chế độ pháp lệnh bằng chế độ luật lệ".
Vì vậy "nhà nước pháp quyền" ở đây không hề mang ý nghĩa phổ cập của "état de droit".
"Etat de droit", như GS Châu cũng biết, được định nghĩa là "un système institutionnel dans lequel la puissance publique est soumise au droit", tạm dịch: "nhà nước pháp trị là một hệ thống định chế mà trong đó quyền lực nhà nước phải tuân theo luật lệ.
Thì trong "nhà nước pháp quyền" của VN, đảng CSVN nắm mọi quyền lực nhà nước nhưng lại đứng trên (hay đứng ngoài) pháp luật. Tức là trong hệ thống nhà nước này, người nắm quyền lực thì không chịu trách nhiệm (trước pháp luật) về hành vi mình đã gây ra. Biết bao nhiêu công trình kinh tê, xã hội, công trường xây dựng... bị thất bại, đem lại nợ nần cho dân hàng chục tỉ đô la. Nhưng rốt cục lại thì không ai chịu trách nhiệm các vụ thất bại này hết. Mọi việc cứ đổ thừa cho "cơ chế" là ổn thỏa hết.
Một hệ thống quyền lực như thế thì làm sao tránh khỏi (quốc nạn) tham nhũng ?
3/ Về "kinh tế thị trường". GS Châu cũng biết, những vận hành của kinh tế quyết định thể chế chính trị. Qui ước và thực tế xưa nay là như vậy.
Một nền kinh tế lấy "quốc doanh chủ đạo" thì chỉ có thể là "kinh tế XHCN". Một nền "kinh tế" có sự can thiệp của nhà nước tự nó đã mang tính XHCN rồi.
Muốn giữ vững quyền lực đảng CSVN mọi cách phải giữ cái đuôi "định hướng XHCN".
Vì vậy, ý kiến về nền "kinh tế thị trường" của GS Châu chỉ có thể trở thành hiện thực khi cái đuôi XHCN được cắt đi. Mà điều này chỉ có thể khi VN dân chủ hóa chế độ.
4/ Nói thẳng thì sợ GS Châu buồn. Nhưng không nói thì e rằng nhiều người lại lấy lời "vàng ngọc" của GS làm châm ngôn. Điều này xảy ra thì đất nước càng trầm luân trong vòng độc tài đảng trị. Nên phái nói ra. Hy vọng không làm phiền lòng.

19-1
Khổ quá mấy cha nội ăn ốc nói mò!
Lấy cái gì làm chứng mà mấy cha nói (lấy được) "10 năm làm thủ tướng ông X đưa VN đến gần Mỹ và xa Trung quốc" ?
Việc thân Mỹ hay thân TQ là đường lối của BCT TƯ đảng, chớ không phải là ý riêng của ông X hay ông Lú.
Nhưng trên cương vị thủ tướng, những việc làm trong phạm vi quyền hành của ông X, cho ta thấy ông này thân Mỹ hay thân TQ.
Diễn văn ngày 2-9 vừa rồi, trong giàn lãnh đạo CSVN, chỉ có ông X là hùng hồn nhai lại khẩu hiệu "đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào". Việc này tôi thấy ông X không khác anh Nghị vụ tặng McCain tấm hình chụp Hồ Gươm. Đem VN đến gần Mỹ bằng những hành động như vậy hay sao ?
Cũng nhờ 10 năm làm thủ tướng mà thâm thủng ngân sách VN với TQ ngày càng tăng. Thâm thủng năm rồi là 32 tỉ đô la. Không biết sẽ lấy gì để "cấn nợ" đây ? Nghe ông Carlyle Thayer nói trên BBC năm kia (thì phải), về tổng kê kết quả 5 năm làm thủ tướng của ông X, thi chính ông X đã ký cho TQ khai thác Bô xít để "cấn nợ" do thâm thủng ngân sách. Việc này là gì nếu không đem VN gần TQ (nếu không nói là lệ thuộc) ?
Cũng dưới thời ông X làm thủ tướng mà phía TQ trúng thầu khắp nơi trên lãnh thổ VN. Quái đản một cái là TQ đưa nhân công của họ vô thực hiện các công trình. Điều này chưa từng thấy trên thế giới, ngoại trừ ở các nước cực kỳ giàu như các xứ dầu hỏa Trung Đông. Ông X đã mở cửa để công nhân TQ vào dành công ăn việc làm của công nhân VN. Có nơi (như Vũng Áng) đã trở thành thuộc đia của TQ. Hàng hóa của TQ nhập lậu vào VN, có mặt khắp nơi từ hang cùng ngõ hẻm, giết chết nền kinh tế của VN. Việc này là gì nếu không phải là một hình thức thực dân mới ?
Công trình thuộc địa hóa VN của TQ thành công, nhờ ai nếu không phải là ông X ?


21-1
Trong vấn đề Hoàng Sa thực ra ban Tuyên giáo Trung ương đã chuẩn bị kỹ tư tưởng cho học giả và dư luận viên để đối phó với những người tưởng niệm các chiến sĩ VNCH ngày hôm qua, tại Sài Gòn và Hà Nội, 19-1-2016.
Về phía học giả, từ lâu, lập luận của họ là "vì VNCH để mất Hoàng Sa nên gây khó khăn cho việc đòi lại". Còn phía "dư luận viên", cho rằng mất Hoàng Sa là do sự yếu kém của VNCH.
Nhưng đâu thể dễ dàng đổ thừa cho VNCH như vậy được ?.
Lãnh thổ Hoàng Sa là lãnh thổ của VN. Tức HS là lãnh thổ của mọi người dân VN, ở miền Nam cũng như miền Bắc. Bất kể do bên nào quản lý, nước VN là một quốc gia duy nhứt, thống nhứt ba miền; Nhà nước VNDCCH và nhà nước VNCH đều có bổn phận như nhau trong việc bảo vệ lãnh thổ.
Trách nhiệm của mọi người dân, cho dầu phải trả giá bằng máu xương, là phải bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ tổ quốc.
Vấn đề phải đặt ra là vì sao miền Bắc không (cùng với Miền Nam) bảo vệ lãnh thổ?
Miền Bắc đã không gởi quân ra HS để cùng quân miền Nam chống TQ bảo vệ lãnh thổ.
Miền Bắc đã không cùng đứng chung với VNCH trong các tuyên bố phản đối TQ gởi lên LHQ.
Đến nay vẫn chưa thấy học giả nào của CSVN đưa ra những lý do "nghe được" nhằm biện hộ cho hành vi của lãnh đạo CSVN thời đó.
Nhưng chưa hết. Bởi vì miền Bắc đã không im lặng như người ngoài cuộc "tọa sơn quan hổ đấu", xem TQ và VNCH đánh nhau.
Bởi vì, trong lúc quân miền Nam đang cô đơn, vật vã đối đầu với quân Trung Cộng tại HS, "đồng minh" Mỹ thì đang chuẩn bị ôm vali tháo chạy. Quân miền Bắc gia tăng áp lực, mở những trận đánh ác liệt hơn ở miền Nam, như có ý định cùng TQ hai mặt giáp công VNCH.
Về quân sự, một cách trực tiếp, lãnh đạo miền Bắc đã giúp cho Bắc Kinh dễ dàng chiếm Hoàng Sa.
Dầu biện hộ thế nào, dầu che đậy sự thật thế nào, lịch sử cũng có con mắt của nó.
Sự thật đó là lãnh đạo CSVN đã đứng cùng một phe với TQ khi nước này xâm lăng lãnh thổ Hoàng Sa của VN.
Hành vi tưởng niệm những người lính VNCH chết trận vì bảo vệ lãnh thổ, bảo vệ tổ quốc... của những người VN yêu nước, đã thấy hôm qua ở Hà Nội, ở Sài Gòn... là một hình thức đơn giản nhưng hiệu quả nhứt để "rửa mặt" cho lãnh đạo CSVN.
Lấy cái gì để gội rửa được vết chàm "thông đồng với ngoại bang, chiếm lãnh thổ của tổ quốc" ?


24-1
Không một ngoại lệ trên thế giới, những nước độc tài và tham nhũng đều là những nước chậm phát triển. Một số nước ở Trung Đông, Bắc Phi... khi mà quyền hạn của những kẻ độc tài bị thách thức (và bị hạ bệ), chủ quyền quốc gia bị soi mòn vì tham nhũng, như ở Irak, Libye, Syrie, Ai Cập, Tunisie... hệ quả đưa lại cho người dân và các quốc gia này thật là khốc liệt.
Khu vực Châu Á, những nước như Phi Luật Tân, Thái Lan và Miến Điện đáng lẽ là những nước phát triển hàng đầu.
Hệ quả độc tài và tham nhũng của Marcos (và gia đình) đã làm cho nước Phi trở thành một nước nghèo đói và chậm tiến, mặc dầu nước này được sự chống lưng của Mỹ, tương tự như Nhật, Nam Hàn, Đài Loan, Thái Lan và Singapour. Sau khi Marcos bị lật đổ, đáng lẽ Phi thoát khỏi sự tàn phá của nạn tham nhũng để phát triển, thì các đời tổng thống sau này đã không nhìn thấy đâu là vấn nạn của quốc gia. Tham nhũng vẫn không diệt được. Phi vì vậy vẫn còn ì ạch.
Thái lan, hệ quả độc tài (nửa quân phiệt, nửa phong kiến) và tham nhũng đã làm cho nước này trở thành một nước phát triển vào loại "trung bình thấp", mà đáng lẽ phải thuộc vào hàng giàu mạnh nhứt thế giới. Thái lan không bị nạn thuộc địa cũng như không bị cuốn vào cơn lốc tàn phá của Thế giới Đại chiến 1939-1945. Nước Thái bình nguyên bao la, giàu tài nguyên thiên nhiên, lại được sự chống lưng của Mỹ. Vậy mà không phát triển hơn được Đài loan, Nam Hàn (còn đối với Nhật thì bị bỏ quá xa), dĩ nhiên là do nạn tham nhũng.
Miến Điện cũng vậy, tương tự Thái Lan, đáng lẽ là một nước hùng mạnh. Cũng vì độc tài quân phiệt và nạn tham nhũng tràn lan khiến cho đất nước này trở thành một nước nghèo.
Trong khi đó, những nước phát triển thần kỳ, đã trở thành rồng, hổ hiện nay ở Châu Á, như Nam Hàn, Đài Loan, Singapour... cũng là những nước, vào thời đầu phát triển, là những nước độc tài.
Nhưng họ phát triển được là nhờ có chính sách diệt trừ tham nhũng.
Từ thập niên 60, Nam Hàn đã có bộ luật riêng để trừng trị kẻ tham nhũng. Đài Loan, Singapour cũng vậy. Ở đây họ xem tham nhũng là kẻ thù của đất nước. Trần Thủy Biển, nguyên là tổng thống Đài Loan, cũng bị vào tù vì tham nhũng. Một vị tổng thống của Nam Hàn cũng phải tự vẫn để bảo toàn danh dự, lý do gia đình có người tham nhũng. Còn ở Singapour, tuyệt đối không hề nghe đến một vụ quan chức nhà nước tham nhũng.
Nếu tính luôn cả Nhật, thì nước này phát triển thần kỳ cũng là do không có tham nhũng.
Ta có thể kết luận mà không sợ bị kết vào võ đoán là yếu tố quan trọng hàng đầu để một quốc gia phát triển là quốc gia đó không có tham nhũng.
Nhìn lại VN, nước ta đã bỏ qua quá nhiều dịp để có thể cất cánh thành rồng. Tôi sẽ tở lại với một bài viết đầy đủ.
Dịp lựa chọn TBT và nhân sự lãnh đạo trong những ngày tới cũng là khúc quanh để VN có phát triển bền vững hay không.
Nếu lãnh đạo sắp tới có quyết tâm diệt tham nhũng, VN đã hội đủ điều kiện ban đầu để phát triển.
Nhưng để phát triển bền vững (như Nhật, Nam Hàn, Đài Loan...) VN bắt buộc phải dân chủ hóa chế độ.


24-1
Nếu tổ quốc đã được "bảo vệ từ sớm, từ xa" thì đã không xảy ra chuyện tiến thoái lưỡng nan vụ TQ cho máy bay "vi phạm" vùng "an toàn bay" của VN ở vùng đảo nhân tạo Chữ Thập.
Cũng nếu "tổ quốc được bảo vệ từ sớm, từ xa" thì tàu tiếp vận của VN đã không bị hải quân TQ chỉa súng uy hiếp khi đến gần đá Châu Viên.
Và cũng nếu "tổ quốc được bảo vệ từ sớm, từ xa" thì ngư dân VN đã không bị "tàu lạ" đâm chìm ngày một.
Tôi sợ là, nếu nhà nước bảo vệ lãnh thổ kiểu này, không mấy chốc máy bay của VN sẽ không dám bay ra không phận các đảo Biển Đông. Rồi tàu chiến VN cũng vậy. Còn ngư dân VN thì chắc phải bán tàu cho "dân lạ", rồi đổi nghề làm công cho "chủ lạ".
Mà không phải nhờ vậy mà "ta mới ngồi đây họp đại hội đó sao ?".


25-1
Bảo thủ, cấp tiến và hủ bại.
Quan niệm bảo thủ hay cấp tiến đều là tương đối, vì nội hàm có thể thay đổi. Vấn đề là bảo thủ (hay cấp tiến) để làm cái gì ?
Tôi thấy cá nhân tôi là một người "bảo thủ" trong trường hợp sau đây.
Quốc hội VN vừa thông qua "Luật bảo vệ quyền người đồng tính hay chuyển đổi giới tính". Hầu như không ai trong giới "dân chủ" hay "tranh đấu nhân quyền" lên tiếng về bộ luật này. Tôi đã biểu lộ ý kiến của mình (hai lần) để phản đối lại hành vi thiếu công bằng của quốc hội VN. Bởi vì "quyền" này chưa cần thiết. Phe "đồng tính" hay "chuyển đổi giới tính" chỉ là thiểu số rất nhỏ ở VN. Trong khi đại đa số người dân, những "quyền" cơ bản của họ, như các quyền về tự do về ngôn luận, về hội họp và lập hội, về tự do biểu tình, tự do bầu cử và ứng cử... các quyền cơ bản này đã được bản Tuyên ngôn Phổ cập về Nhân quyền khẳng định từ năm 1948, thì không thấy quốc hội bàn đến. Trong khi "quyền" của phe đồng tính (và chuyển giới tính) chỉ mới được đưa ra LHQ từ năm 2011, trong đó có vài chục quốc gia cương quyết chống lại.
Dĩ nhiên ai cũng thấy, khi cho thông qua bộ luật này, đảng CSVN muốn lấy lòng anh đại sứ Mỹ tại VN mà thôi. Vấn đề là anh này vài năm sau sẽ đi, còn bộ luật đó ở lại với người VN lâu dài.
Bảo thủ trong trường hợp này không làm hại ai cả. Mục tiêu của mình là đòi quốc hội trả lại sự "công bằng" cho số đông. Vậy thôi.
Trong chính trị cũng vậy. Một lãnh đạo được cho là "bảo thủ", trường hợp các xứ Anh và Mỹ, thái độ (hay đường lối chính trị) "bảo thủ" của vị này chưa chắc đã làm cho đất nước "tụt hậu". Điều cần phải làm rõ (trong trường hợp này) khái niệm thế nào là "bảo thủ" và thế nào là "cấp tiến"?
Thực tế cho thấy rằng, phe "cấp tiến" thiên về "xã hội", có khuynh hướng can thiệp, hay hạn chế bớt những tự do của kinh tế thị trường. Trong khi phe "bảo thủ" nghiêng về việc thả lõng mọi tự do có liên quan đến kinh tế thị trường. Đối với họ, ngay cả nhân công cũng là một "thị trường", thị trường lao động". Phe "cấp tiến" đứng về số dân nghèo, trong khi phe "bảo thủ" ủng hộ phía dân giàu. Quyết định thắng thua của hai phe là khối trung lưu đứng giữa. Ở các xã hội tiên tiến Âu-Mỹ, phe trung lưu luôn chiếm số đa số.
Trường hợp VN, theo tôi, gán cho người này (trong đảng CSVN) có tư tưởng "cấp tiến", người kia có khuynh hướng "bảo thủ" thì lại càng tương đối hơn. Trong chừng mực lại là võ đoán. Bởi vì nguyên tắc "tập trung dân chủ" của đảng CSVN đã khiến tất cả mọi đảng viên phải phục tùng ý kiến của số đông. Một vấn đề, hay một chính sách nào đó, khi đa số trong đảng đã quyết định, tất cả đều phải nghe theo.
Một số thí dụ. Vấn đề "công bằng xã hội". Đây là một trong những tiêu chí của đảng viên CSVN, được ghi trong bản nội qui của đảng.
Ta thấy, lịch sử là bằng chứng, những người cộng sản trên thế giới đã làm cho trên 100 triệu người chết để mưu đồ thực hiện "công bằng xã hội" nhưng không thành công. Công bằng xã hội trở thành một "ảo tưởng". Tất cả những đảng viên CSVN cho dầu đã thấy thực tế "ảo tưởng" này, nhưng họ không thể (hay không dám) nói khác.
Những người không dám nói khác ta có thể xếp vào loại "bảo thủ" trong đảng CSVN.
Trường hợp người "cấp tiến", Bộ trưởng Bùi Quang Vinh là một thí dụ. Mới đây trong bài phát biểu ở Đại hội 12, ông này đã không còn nói đến "công bằng xã hội" nữa. Thay vào đó là "công bằng trong hội nhập xã hội" hay "bình đẳng cho mọi người".
"Công bằng trong hội nhập" là gì, nếu không phải là "công bằng về quyền" ? Nếu trong xã hội mọi người không có "quyền" giống nhau (như trong xã hội VN hiện nay), thì làm sao có việc công bằng trong "hội nhập" ? Nếu anh không ở trong đảng, anh không phải là con ông cháu cha, thì anh làm cách nào để trở thành một "lãnh đạo" (ở huyện, hay tỉnh nào đó) ? Vì vậy ý kiến về "công bằng trong hội nhập xã hội" hay "bình đẳng cho mọi người" của ông Vinh là một tư tưởng "cấp tiến", lấy từ điều đầu tiên của bản Tuyên ngôn Phổ cập về Nhân quyền 1948.
Thí dụ khác: "nhà nước pháp quyền".
Cũng vậy, những ai đã là đảng viên đảng CSVN thì đều sử dụng cụm từ "nhà nước pháp quyền", mặc dầu (có lẽ) ai cũng thấy việc sử dụng này đã sai từ phương diện ý nghĩa cho đến phương diện ngữ học. Nguyên tắc "tập trung dân chủ" đã khiến mọi đảng viên trở thành con rô bô chấp hành nghị quyết của đảng. Từ "pháp quyền" đưa vào nghị quyết từ thập niên 90 (của Đổ Mười lấy lại từ ý kiến ông Hồ).
Bộ trưởng Bùi Quang Vinh cũng có tư tưởng "cấp tiến" khi nói rằng : "xây dựng nhà nước pháp quyền hiện đại với kinh tế thị trường đầy đủ và xã hội dân chủ phát triển ở trình độ cao".
Một quốc gia có nền "kinh tế thị trường đầy đủ" và "dân chủ phát triển ở trình độ cao" thì phải là các quốc tiên tiến Âu Mỹ. Mà nhà nước ở đây là "nhà nước pháp trị - Etat de droit hay Rule of law" .
Ông Vinh không nói đến "nhà nước pháp trị" nhưng nói là "nhà nước pháp quyền hiện đại". Đó là cách nói cho thấy cái gọi là "nhà nước pháp quyền" hiện nay ở VN là lạc hậu, có vấn đề.
Về ông Trọng, có người nói ông này "bảo thủ". Đúng vậy, nghe những phát biểu của ông này ta phải khẳng định ông này bảo thủ hơn cả những người bảo thủ khác.
Về ông Dũng, có người nói ông này có tư tưởng "cấp tiến". Theo tôi, ông Dũng có một số hành vi thể hiện tư tưởng cấp tiến (về cá nhân), nhưng trên phương diện quốc gia, ở cương vị vừa là thủ tướng vừa là đảng viên CS, ông lại là một đảng viên gương mẫu. Ông đã chấp hành tuyệt đối nguyên tắc "tập trung dân chủ" trong đảng.
Đại hội đảng CSVN đang đến hồi gay cấn. Vô số các tiên đoán, khẳng định... trên báo chí, ông này ở, ông kia về. Hết rút ra rồi lại được đề cử đưa vào lại.
Rối rắm như vậy, tất cả chỉ do một nhóm nhỏ người. Tuyển chọn người lãnh đạo một đất nước 90 triệu dân mà tưởng như là việc nội bộ của một băng đảng mafia.
Dầu vậy, giữa hai bên, một : ông Trọng "bảo thủ" và ông Dũng (nghe nói) là "cấp tiến". Ai lên lãnh đạo thì đât nước sẽ khá hơn ?
Hôm qua tôi có viết một status ngắn, nói về tệ nạn tham nhũng. Không có ngoại lệ nào, một quốc gia bị nạn tham nhũng hoành hành thì quốc gia đó không thể phát triển được.
Những nhận thức bảo thủ có thể thay đổi trong một sớm một chiều.
Nhưng một con người hủ bại do tham nhũng, do chuyên quyền... thì không thể thay đổi được.
Nếu các đảng viên hiện đang tham dự đại hội 12 đặt quyền lợi và tương lai đất nước lên trên thì sẽ phải biết mình phải bầu cho ai.


25-1
những "fan" của ông X, nhứt là giới được mệnh danh "nhà dân chủ", không nên lấy làm buồn khi ông X rớt đài. Ngược lại, nên lấy việc này làm vui.
Bởi vì nếu ông X "cấp tiến" như các bạn nghĩ thì từ nay đảng CSVN sẽ có một "đối lập" cỡ bự. Và phe các bạn cũng có một "minh chủ" để lãnh đạo.
Tôi cũng đang nóng ruột để xem ông X chứng minh rằng mình thực sự là người "cấp tiến" và có tinh thần dân chủ.

27-1
Cho phép được góp ý thêm với GS Nguyễn Mạnh Hùng.
Vì sao con của anh Ba X được vô TƯ ?
Theo tôi, Nghị được vô TƯ, là đúng như lời của GS Hùng: có một sự thương lượng nào đó giữa X và Lú.
Vấn đề là tại sao có sự thương lượng? Tại sao Lú không "nhổ cỏ tận gốc" để diệt trừ hậu hoạn?
Theo tôi, vấn đề là hiện nay ở VN, chỉ có X là đủ khả năng khuynh đảo, làm rối loạn trật tự xã hội và gây một cuộc khủng hoảng về kinh tế lâu dài.
Nhớ lại các cuộc biểu tình dữ dội chống TQ năm trước, đến nay một số người "cầm đầu" bị bắt và bị tù, nhưng không ai biết "tác giả" phía sau là ai ? Phải nhìn nhận rằng, nếu có những cuộc biểu tình tương tự như vậy xảy ra hiện nay, chắc chắn công an sẽ mở ra một cuộc "tắm máu" để đem lại trật tự. Nếu không thì xã hội sẽ bạo loạn, kiểu Roumania. Theo tôi, X là người đứng phía sau.
Di sản của X để lại, mai mốt sẽ thấy rõ hơn, nhưng tôi cho rằng chỉ toàn là "tiêu sản", tức chỉ toàn là nợ. Nợ công và thâm thủng ngân sách hiện nay là hai gánh nặng khiến VN khó phát triển lành mạnh. Mười năm X trên ngôi thủ tướng, nạn tham nhũng tràn lan, từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài. Không nơi nào, không sinh hoạt nào lại không có tham nhũng. Giáo dục đào tạo phá sản toàn diện, đào tạo toàn thất nghiệp, ký sư VN nước ngoài không ai sử dụng. Có nơi cả làng phải đi ăn mày. Có nơi cả làng phải đi làm lao công cho nước ngoài (lao động xuất khẩu). Tài nguyên khai thác cạn kiệt. Những mỏ kim loại quí thì lọt vào tay các tập đoàn (thuộc ảnh hưởng của X). Còn môi trường ô nhiễm, trên sông cá bè nuôi chết hàng loạt, mà con người cũng uống nước trên sông đó. Có làng toàn bộ con người đều bị ung thư.
Di sản của X để lại cho người kế nhiệm là trái bom nổ chậm. X nắm trong tay ngòi nổ của trái bom này.
Vì vậy, Lú (thực ra không lú lắm đâu) buộc phải nhượng bộ X, vì sợ "ném chuột thì bể đồ". Nhưng theo tôi, để Nghị lên là Lú muôn câu giờ, sau khi dọn dẹp đồ quí trong nhà thì sẽ ra tay đập chuột.
Còn về lý do vì sao người dân "ủng hộ" ông X. Theo tôi thì đây là hiện tượng thuộc về "tâm lý đám đông". Thời gian qua ta thấy có bao nhiêu trang web, bao nhiêu "dư luận viên", "nhà trí thức", "nhà dân chủ"... nổi tiếng "đánh" ông Lú và ủng hộ ông X ? Nhiều vô số.
Có bao nhiêu trang web được lập ra để ủng hộ ông Lú, đánh ông X ? Không có trang nào hết.
Ta thấy, những "nhà báo nổi tiếng", "trí thức nổi tiếng"... trang facebook của họ có cả trăm ngàn người "fan". Một tiếng nói của họ ủng hộ ông X là có cả ngàn, chục ngàn người hưởng ứng.
Trong thời kỳ đen tối nhứt lịch sử VN, việc đấu tố cũng diễn ra tương tự. Ý kiến của số đông đâu phải là chân lý? Nhưng trong một xã hội tù túng như VN, dân chúng đa phần chưa biết dâu là phải, là trái, là đúng, là sai... tất cả chỉ hành động theo cảm tính, hay theo các động tác của con đầu đàn.
Phe X rất rành về hiệu ứng tâm lý này.
Yếu tố thân Tàu cũng vậy. Nó cũng bị bóp méo, cho rằng Lú thân Tàu, X thân Mỹ. GS Hùng, cũng như tôi và nhiều người khác, đều thấy rằng việc này không có cái gì chứng minh hết cả.
Riêng về việc cải tổ. Tôi thì tin tưởng ông Lú hơn ông X. Nếu để cho X làm việc này thì bao nhiêu tài sản của nhân dân sẽ lọt vào tay của phe X. Dĩ công vi tư. Các tập đoàn lớn, khi giải tư, chỉ có phe X là biết hết mọi yếu tố sinh tử của tập đoàn. Họ sẽ mua rẻ những phần "ngon ăn", còn phần "xương xẩu" thì để lại cho người khác. Của cải của dân sẽ trở thành của cải của phe X.

27-1
Nhân sự lãnh đạo VN qua đại hội 12 thể hiện điều gì ?
1/ Một sự quan ngại không nhỏ về khả năng xung đột quân sự trong giai đoạn 2016-2021.
2/ Lo ngại về một viễn tượng xáo trộn xã hội trong cùng giai đoạn.
Hai điều lo này hợp lý. Sự đe dọa của TQ ở Biển Đông ngày càng tăng. Những khủng hoảng kinh tế xã hội ở TQ trong thời gian tới có thể là chất xúc tác để xung đột bùng nổ.
Về khủng hoảng xã hội, các cuộc « diễn binh » nhân đại hội 12 cho thấy đe dọa đảo chánh hay bạo loạn xã hội là có thật. Phe X, đại diện cho phe tham nhũng quyền-tiền, thất thế. Trên phương diện pháp lý, những bằng chứng để kết tội cho phe này nhiều như trấu. Nhưng không dễ dàng truy tố họ. Bạo loạn xã hội sẽ là bức tường để phe này ẩn thân.
Nhưng để một tướng công an lên làm CTN là điều không nên. Nhân sự phe CA đã quá đông, lại thêm CTN xuất thân là CA. Việc này sẽ ảnh hưởng đến hình ảnh của VN trên phương diện đối ngoại.
Theo tôi, nếu ông Trọng làm TBT 5 năm thì nên kiêm nhiệm luôn CTN. Với vị trí này ông Trọng có thể dễ dàng hoàn tất chương trình « hòa Mỹ » của ông. Nếu việc « hòa Mỹ » thành công, kết quả có thể là một « liên minh phòng vệ » giữa VN với nhiều « nước lớn » được thành lập. Đe dọa chiến tranh với láng giềng do vậy cũng giảm sút. Vấn đề tự vệ hay bảo vệ lãnh thổ cũng dễ dàng.
Theo tôi, lý tưởng là : Trọng TBT kiêm CTN. Ngân : thủ tướng. Phóng : CT Quốc hội.
Một đảng CS đã mang tiếng « giáo điều » rồi. Ông Trọng đạo mạo với bộ mặt ôn hòa của hai phụ nữ sẽ làm cho VN dễ nhìn hơn từ phía ngoài.

28-1
Ông này được người ta đặt hỗn danh là « lú » cũng phải thôi. Ổng « thật thà » (hay mị dân) một cách thật ngu xuẩn (xin lỗi, vì không có từ nào đúng hơn).
Ổng đắc cử TBT (nói là 100%) nhưng danh không chánh vì ông sửa đổi luật chơi giữa chừng. Đáng lẽ ông phải có một bài diễn văn hùng hồn cho mọi người thấy đâu là những vấn đề cấp bách, về đường lối lãnh đạo đất nước, về cách thức cải tổ đảng… để có được sự « chính danh ».
Lời nói của ông vì vậy không « thuận nhĩ » chút nào. Người ta sẽ không phục, nhứt là người bị ông « hạ bệ » một cách không minh bạch.
Đảng CSVN cho thấy đã « bí đường », nhân sự không còn ai ra gì. Lên TBT không biết để làm gì, vì mình không « ngờ » được bầu. Muốn tránh kẻ « tham nhũng, chuyên quyền » thì lại gặp người nhiều mưu mẹo nhưng không có tài năng và thừa đạo đức giả.
Đất nước trôi về đâu hởi trời !

29-1
Biết làm ăn, lại không có mồm mép, nên dân miền Nam ít ai vô đảng. Còn dân miệt ngoài, có lẽ ngoài "lý luận" thì chẳng biết làm gì, nên nhiều người vô đảng. Nhìn danh sách nhân sự TƯ (và bảng thống kê đóng góp các vùng miền vào GDP) thì thấy con số so le.
Nhưng mà lãnh đạo một đất nước người ta cần người biết làm ăn chớ không cần người biết lý luận.
VN thì ngược lại. Nghèo là phải.

30-1
Nghe ông Trọng trả lời phỏng vấn báo chí hôm kia người ta mới hiểu thế nào là "nói xuôi cũng được, nói ngược cũng xong" của những "chiến sĩ trên mặt trận truyền thông". Với những đảng viên CSVN Bắc kỳ, đó là "ný nuận". Còn với những người không đảng, đơn giản đó là "ngụy biện".
"Dân chủ" đâu phải là cách lấy "quyết định chung" của nhân sự lãnh đạo trong đảng, như nhận định của ông Trọng.
Trong một tổ chức, một đảng phái, như đảng CSVN, các đảng viên bầu bán trong nội bộ đảng để tuyển chọn người lãnh đạo TBT. Tùy theo nội qui của đảng, người TBT có toàn quyền ra quyết định về những vấn đề của đảng, hay quyền này thuộc về mọi người trong ban chấp hành TƯ. Việc "bầu bán" ở đây không phải là "dân chủ" như thực chất của nó. Đây là việc "nội bộ" của đảng CSVN chớ không phải là "việc của toàn dân VN".
Trong một xã hội, người dân bầu lên người lãnh đạo cho mình, hay bỏ phiếu lấy một quyết định (trưng cầu dân ý) cho cộng đồng xã hội mình đang sống, đó là "dân chủ". Việc nội bộ của đảng hoàn toàn do các đảng viên quyết định. Còn đảng quyết định thay cho dân thì đó là "đảng chủ" chớ không phải dân chủ.
Ông Trọng nhập nhằng đánh tráo khái niệm, việc nội bộ đảng trở thành việc nước.
Trong một quốc gia, người ta gọi hành vi "dân chủ" khi những hành vi này liên quan đến đời sống, sinh hoạt chính trị của mọi người dân.
Một nền cộng hòa (quốc gia) "có chủ quyền" là có hiện hữu trong quốc gia này một "quyền lực tối thượng" mà quyền lực (tối thượng) này thuộc về người dân (sống trong quốc gia đó). Quyền lực tối thượng được "chia đều" cho mỗi người dân, thể hiện qua "lá phiếu". Người dân "bỏ phiếu" (qua các thể thức bầu cử) để lựa chọn (những) người đại diện cho họ.
(Những) người có số phiếu áp đảo (đắc cử) được (người dân chỉ định) nắm (một phần) quyền lực.
Kết quả Đại hội 12 của đảng CSVN vừa qua, các đảng viên bầu ra TBT đảng đồng thời chỉ định nhân sự "chủ tịch nước", 'thủ tướng", "chủ tịch quốc hội".
Người dân đứng ngoài việc lựa chọn nhân sự (lãnh đạo đất nước) này.
Đó không phải là dân chủ mà là "đảng chủ".
Trong một xã hội dân chủ pháp trị, bất kỳ một hành vi thể hiện quyền lực nào mà không thông qua "quyền lực tối thượng" của người dân đều không chính đáng.
Ông Trọng đắc cử TBT, chuyện nội bộ của đảng, có "chính danh" hay không thì nên hỏi anh Ba X.
Còn bộ ba chủ tịch nước, thủ tướng và chủ tịch quốc hội được đảng đề cử, hiển nhiên việc này không có tính chính đáng. Không có người dân nào lựa chọn họ hết cả. Không có người dân nào đi bầu hết cả (để gọi là dân chủ). Các việc bầu bán sau này chỉ là hình thức (ngụy dân chủ), làm cho có, vì kết quả đã biết trước.
Các hành vi bất tuân dân sự của người dân sau này đều mang tính chính đáng.
Vì vậy, đảng nhìn xa, cho một anh công an lên làm CTN. Mà trước khi cởi áo côn an, anh này đã ra luật để mở rộng quyền hạn của phe còn đảng còn mình. Bây giờ, người dân nào cũng có thể bị ở tù và bị tịch thu gia sản.
Hèn chi, vô đảng là cách làm giàu nhanh nhứt. Hôm qua tôi có viết status nói là dân miền Bắc giỏi "ný nuận" nên ưu tiên được vào đảng. Thực ra chỉ đúng một phần. Dân miền Nam giỏi làm ăn nên không cần vô đảng. Còn những người không biết làm ăn, những người sợ chân lắm tay bùn nhưng thích ăn trên ngồi tróc, mới thích vô đảng.
Một người làm quan cả họ được nhờ. Quan thời cộng sản thì được nhờ cả làng.
Ông Trọng lên TBT, nhìn danh sách nhân sự TƯ, là đã thấy thể hiện tinh thần cục bộ, kỳ thị vùng miền. Tưởng ông ta chủ trương đánh tham nhũng, nhiều người lên tiếng ủng hộ. Lầm chết người. Cũng là phường tranh ăn, mà tranh ăn theo lối băng đảng mafia.


31-1
Nghe nói anh Ba X, trong buổi họp chính phủ vừa rồi, không còn gọi các "đồng chí" của anh là "đồng chí" nữa, mà gọi là "các anh".
Cũng đúng thôi. Anh X đã biết thế nào là tình "đồng chí đồng chó" giữa những người cộng sản lúc tranh quyền.
Để hạ anh, những "đồng chó" của anh đã tung ra những đòn "chó má", đánh dưới hạ bộ, không cho anh ra ứng cử TBT.
Con cái anh đã trưởng thành, nó lấy ai là phúc phận của nó, vậy mà đồng chó Phan D. (cùng nhiều cán bộ lão thành khác) bươi móc ra, đưa nội qui đảng để qui chụp anh thông gia với "đại tá gián điệp VNCH". Ở các xứ có văn minh một chút, không ai lấy chuyện gia đình riêng tư, chuyện của con cái... để làm xăng ta chính trị hết cả.
Rồi cũng những đồng chó đó (chơi trò chó), đổi điều lệ đảng, đặt ra những quái chiêu 244 làm cản trở anh ra ứng cử. Chơi vậy là chơi với chó. Không ai đặt lại luật chơi giữa chừng hết cả.
Chưa hết, những đồng chó của anh đặt ra điều lệ (bất thành văn) TBT phải là dân bắc cờ, phải biết "ný nuận". Điều lệ này loại ra TW hầu như toàn bộ dân nam cờ. Bộ sậu của anh Ba bây giờ chỉ còn trên răng dưới dế.
Điều này thì anh Ba phải biết. Những đồng chó của anh muốn "nhổ cỏ thì nhổ tận gốc", mà đòn thù bao giờ cũng ghê rợn.
Nghe người ta ví anh với Tiểu bình, ba lần ra vào Trung nam hải. Tôi thì thấy anh giống Chu Vĩnh Khang hơn.
Anh gọi nhân sự chính phủ là "các anh" là còn nể nang ghê lắm.


31-1
Nhiều lần tôi đã nói: về hưu là tôi mở văn phòng làm... thày bói. Những điều tôi "xủ quẻ" hầu như là đúng (ít ra) 80%.
Một số điều đoán trúng:
Trong vụ Phi kiện TQ ra Tòa Trọng tài, tôi đã tiên đoán đúng khoảng 80% các điểm Tòa có thẩm quyền (hay bảo luu) các yêu cầu của Phi.
Tôi (hình như là người duy nhứt) đoán đúng (100%) việc các đảo nhân tạo của TQ hoàn tất trước tháng 7-2015.
Trong vụ đại hội 12 của đảng CSVN tôi đoán đúng (100%) các điều:
1/ Hầu hết các chuyên gia (nhận định thời cuộc về VN) trong cũng như ngoài nước, đều đoán rằng ông X sẽ lên làm TBT. Tôi là một (trong một vài người hiếm hoi) nhận định khác.
Một số chuyên gia cũng tiên đoán rằng TD Quang sẽ thay X lên làm TBT. Tôi là người (hình như là duy nhứt) phản đối điều này. Tôi có nói rằng, truyền thống của đảng CSVN thì TBT không thể là người thuộc công an (hay quân đội).
2/ Đoán được TBT sẽ là ông Trọng (từ tháng 7 năm ngoái), ít nhứt 1/2 nhiệm kỳ.
Bài viết của tôi mới đây có nhắc lại các điểm trên
Nhiều yếu tố tôi thấy khiến ông X không thể là TBT:
1/ nhân sự "thân" ông X vì các quan hệ "tiền-quyền", mà các yếu tố này không hề là chất keo gắn bó trong chính trị.
2/ Phần lớn nhân sự "thân" ông X là người miền Bắc, trong khi ông X người miền Nam. Ông X không có yếu tố "trung thành do vùng miền" ở những người ủng hộ ông.
3/ Đảng viên gốc miền nam là thiểu số so với miền trung và miền bắc.
4/ Ông X không có một "mục tiêu chính trị", hay một bản chất "lãnh tụ" (thú đầu đàn) trong đảng để có thể qui tụ những người "trung thành" (do phục tùng hay do chia sẻ mục tiêu chính trị).
Thua là phải.

Vì vậy, kỳ này nhứt định, khi về hưu (5 năm nữa) sẽ mở văn phòng bói toán ở VN, lấy hiệu là "Lốc Cốc tử Tiên sinh". Nhưng mà, từ bây giờ, ai có tham vọng chính trị muốn ra ứng cử (đại biểu QH hay HDND) vào tháng 5 tới thì nên đặt quẻ trước ở đây. Đoán không trúng không lấy tiền.

Aucun commentaire:

Enregistrer un commentaire

Remarque : Seul un membre de ce blog est autorisé à enregistrer un commentaire.