mercredi 13 décembre 2017

Nhật ký Facebook: Những ghi chép tháng giêng 2017.



4-1


Về việc cấm đốt pháo (bông) nhân dịp Tết Nguyên đán, báo chí đăng tin lãnh đạo Hà Nội đề nghị các chùa, nhà thờ… nhất loạt “rung chuông” vào thời khắc giao thừa để đón xuân sang. Đề nghị này “hoàn toàn mới”. Văn hóa VN (và Đông phương) không có thói quen “rung chuông” để đón giao thừa. Bởi vì chuông, trống… không phải muốn đánh lúc nào thì đánh. Cái gì cũng có ý nghĩa của nó.

Rung chuông kiểu gì để “đón giao thừa” ?

TQ có lệ gióng chuông, trống để báo hiệu giờ đóng mở cửa thành.

Văn minh Thiên chúa giáo thì việc gióng chuông có nhiều ý nghĩa.

Chuông nhà thờ đổ kiểu "sonne le glas", tiếng chuông từng giọt buồn tênh, báo hiệu (trong làng) có người chết. Nhưng ý nghĩa của “sonne le glas” nhằm để ám chỉ sự thất bại, sự “chấm dứt” một triều đại, một phong trào hay một “sự kiện” nào đó.

Phải chăng lãnh đạo Hà Nội tiên đoán trước thời điểm khai tử chế độ cộng sản nên mới đề nghị nhà thờ rung chuông “sonne le glas” ?

Còn có hồi chuông gọi là "tocsin" nhằm báo hiệu (cho dân biết) là có cháy nhà.

Hồi chuông "Angélus" báo hiệu tới giờ cầu nguyện v.v…

Không biết mấy cha nội Tràng An này học ở đâu để “phán” rằng "Sự cộng hưởng của tiếng chuông sẽ báo thời điểm chuyển giao đến rộng khắp mọi người" ?

Vụ này bảo đảm mấy ông "bắc kỳ biết ný nuận" sẽ hố to.


5-1

Chuyện kỳ thị vùng miền.

Chuyện kỳ thị vùng miền là chuyện phổ biến xảy ra ở các nước, ngay cả ở những nước văn minh giàu có như Mỹ, Đức, Pháp... chớ không phải chỉ riêng ở VN. Ở Mỹ thì kỳ thị sắc tộc "dân da màu" và "dân da trắng". Mặc dầu ông Obama là một người da đen được bầu lên làm tổng thống nhưng hiện tượng kỳ thị da màu vẫn còn âm ỉ, gây chia rẽ sâu sắc trong xã hội. Ở Đức, chủ nghĩa Nazism với "chủng tộc siêu việt" đã là nguyên nhân của Thế chiến II (làm trên 60 triệu người chết), gây họa diệt chủng đối với dân Do Thái. Ở Pháp xưa nay không có vấn đề kỳ thị sâu sắc về da màu hay vùng miền, nhưng do yếu kém về kinh tế, đồng thời với vấn đề khủng bố gốc Hồi giáo, khiến cho khuynh hướng "dân tộc chủ nghĩa" gần đây trỗi dậy. Nhưng có lẽ không nơi nào việc kỳ thị vùng miền biểu lộ một cách "đặc sắc" như ở VN. Cho dầu dân tộc này tự hào là "đồng bào" với nhau, tức sinh cùng một mẹ. Bởi vì bản chất kỳ thị ở đây bao hàm các sắc thái chính trị và tâm lý xã hội.

Lời nói thể hiện sự kỳ thị nghiêm trọng nhứt biểu lộ gần đây là ý kiến của ông Nguyễn Phú Trọng về tư cách người lãnh đạo đảng CSVN. Theo ông chỉ người "bắc kỳ biết lý luận" mới có đủ tư cách lãnh đạo đảng CSVN.

Nếu bình tĩnh xét lại sâu xa thì đó là sự thật. Lịch sử đảng CSVN, chưa bao giờ một người xuất thân nam kỳ lên nắm chức tổng bí thư. Tức là yếu tố "bắc kỳ biết lý luận" không phải bắt đầu từ ông Trọng, mà đã là một "tiêu chuẩn" đặt ra từ lâu trong đảng.

Dĩ nhiên khi nói vậy là hàm ý dân nam kỳ không biết "lý luận".

Vậy hóa ra dân nam kỳ "dốt" hơn dân bắc kỳ ?

Điều này có thể là sự thật. Bởi vì chủ nghĩa Mác-lê đã trở thành một phế phẩm của lịch sử. Những người "dốt" (nhưng bình thường) thì không ai học tập nó nữa cả. Chỉ những người "thông minh" nhưng "có vấn đề" mới tiếp tục ê a tụng niệm nó, gọi là "lý luận".

Mà thực ra chủ nghĩa cộng sản có còn điều gì hay ho để tiếp tục lý luận nữa ? Không hề có, phải không ?

Từ lý thuyết cho tới thực tế, chủ nghĩa mác lê không có điểm nào hữu dụng để lấy đó làm chủ thuyết xây dựng đất nước, xây dựng con người. Đất nước bị tàn phá từ bốn thập niên nay, dĩ nhiên là do bàn tay của con người mác xít.

Vậy mà ông Trọng, một người mác xít bắc kỳ, vẫn chủ trương lấy chủ nghĩa Mác lê và tư tưởng Hồ Chí Minh làm ý thức hệ nền tảng, tiếp tục hô hào nó, mục đích là giành quyền lãnh đạo đất nước.

"Lý luận" cái gì nữa, chỉ có "ngụy biện". Tâm lý "phe chiến thắng" có quyền áp đặt, thì tâm lý đó là sự "cố chấp" và "ngang ngược". Đến mức "nói xuôi cũng được nói ngược cũng xong".

Trên quan điểm “bắc kỳ biết lý luận” của ông Trọng thì đảng cộng sản là đảng của người bắc kỳ, của những người cố chấp, ngang ngược và giỏi về ngụy biện.

Một lời nói cũng thể hiện sự kỳ thị sâu sắc, mà thực ra đó là một lời nguyền rủa, khinh bỉ dân nam kỳ. Nó được thốt ra từ của miệng ông thủ tướng Phạm Văn Đồng, trong một cuộc họp báo quốc tế sau 75. Ông này cho rằng những người vượt biên là bọn "tàn dư Mỹ ngụy, đỉ điếm, cặn bã xã hội".

Sau 75 chỉ những người nam kỳ (dưới vĩ tuyến 17) mới vượt biên. Những người đó là "đĩ điếm, cặn bã xã hội" thật hay sao ?

Nhưng chỉ không lâu sau đó, chính những "con đĩ" đó, những đứa "cặn bã xã hội" đó, trở thành những bậc "cứu tinh" cứu đảng trong lúc chế độ lung lay, sắp sụp đổ vì cạn tiền. Những đứa "đỉ điếm cặn bã xã hội" đó lại trở thành những khúc ruột ngàn dặm", gởi tiền về nuôi chế độ.

Thật tức cười. Không biết phải "lý luận" làm sao, những đứa "đĩ điếm, cặn bã xã hội" nam kỳ lại truyền máu cứu sống lớp "đỉnh cao trí tuệ" bắc kỳ.

Nhưng từ "đĩ điếm, cặn bã xã hội" đi đến "khúc ruột ngàn dặm" hiển nhiên là một quá trình lương lẹo, "nhổ ra rồi lại liếm".

Trên lập luận của ông Đồng, không lẽ đó là bản chất của "bắc kỳ biết lý luận" hay sao ?

Hê quả của tâm lý kiêu ngạo, kẻ chiến thắng có quyền áp đặt, không mấy chốc, từ văn hóa cho tới trật tự xã hội miền nam được "mặc đồng phục" y chang như miền bắc. Văn hóa VN vốn nghèo nàn, nay nhìn lại không còn gì nguyên vẹn, gọi là tốt đẹp.

Thử nói về ngôn ngữ.

Chữ Việt hôm nay, gọi là chữ "quốc ngữ", thực ra là một thứ chữ vay mượn, dùng để "ghi" lại cách phát âm của người Việt. Tự điển VN là tự điển "quốc âm tự vị", tức ghi lại (thành chữ) cách phát âm. Vì vậy chữ Việt rất đa dạng và phong phú. Mỗi miền ngoài cách phát âm khác nhau, còn có những phương ngữ riêng, chỉ sử dụng ở miền đó.

Từ bao giờ cách phát âm của dân bắc kỳ là "tiêu chuẩn" cho cả nước ?

Vụ lùm xùm về chữ "vòng xuyến" thay cho chữ "bùng binh" gần đây là điển hình cho cách mặc đồng phục cho tiếng Việt.

Từ "bùng binh", gốc tiếng Nôm (tức tiếng Việt nguyên thủy "bung, bùng, bụng"), có nghĩa là nơi "phình ra". Từ này được sử dụng ở miền nam từ lâu, chỉ những nơi ngả tư, ngả năm... đông đúc xe cộ lưu thông. Thời Pháp, gọi đó là "rond point", dịch đúng là "điểm tròn", dịch nghĩa là "vòng xoay".

Từ "vòng xuyến" không có trong tự điển (để chỉ "rond point"). Đây là thứ trang sức để đeo tay. Không biết từ khi nào được sử dụng để chỉ cho "xòng xoay" ở ngoài Hà Nội.

Vấn đề là ngoài bắc muốn xài từ (sai bét) này thì cứ việc xài, không ai (cần thấy) phải có ý kiến. Người ta phản đối là từ này áp đặt cho miền nam.

Thí dụ khác, tùy theo miền, cách phát âm các từ sau đây khác nhau: chính-chánh, nhứt-nhất, sơn-san, trường-tràng, thái-thể, tông-tôn, vũ-võ, huỳnh-hoàng...

Cách viết nào đúng ?

Trước 75 ở miền nam, cả hai cách viết điều đúng, vì có cùng một ý nghĩa. Bởi vì "chữ viết", tức chữ quốc ngữ, chỉ là chữ "ghi âm" mà thôi. Dân mỗi miền có cách phát âm khác nhau. Nếu nhìn nhận nhau là "đồng bào" thì dân miền nào cũng có tư cách như nhau, đáng được tôn trọng như nhau.

Vậy tại sao lại sửa "Tân sơn nhứt" thành "Tân sơn nhất" ?

Từ bao giờ cách phát âm bắc kỳ được chọn làm "tiêu chuẩn" cho tiếng Việt ?

Cách viết "Tân sơn nhất" sai tới hai lần. "Tân sơn nhứt" là tên địa danh, tức danh từ riêng. Lý do gì anh đổi tên của người ta ? Cái sai thứ hai là áp đặt cách phát âm bắc kỳ trong khi chưa có sự chuẩn thuận của toàn dân.

Về chính trị, nạn kỳ thị thể hiện rất sâu sắc nơi dân nam kỳ, nhứt là dân ở miệt đồng bằng sông Cửu Long. Dân ở đây hầu hết là “dốt”, bởi vì đầu tư vào giáo dục nơi các tỉnh này chí ít. Dân nơi đây chuyên làm ruộng. Chủ trương dân cộng sản bắc kỳ là hãy để cho chúng tiếp tục dốt để làm ruộng, không phải tốt hay sao ?

Ngay cả hạ tầng cơ sở. Vụ hạn hán vừa rồi mới thấy hệ thống nước uống ở đây vẫn là “lu nước sau hè”. Những cái giếng nước máy, xây từ thời ông Diệm, cái mất, cái còn. Đường xá thì vẫn muôn thuở là con đường làng, những cây cầu khỉ. Nếu không nó bọn “đỉ điếm cặn bã xã hội” về bỏ tiền xây cầu “từ thiện” thì không biết bao giờ “cầu khỉ” mới hết.

Còn vô số chuyện kỳ thị, dân nam kỳ cùng lắm chửi: bắc kỳ chó. Rồi hết.

Trong khi dân bắc kỳ thể hiện sự kỳ thị, ngoài việc chửi lại nam ký chó, đồ ba que xỏ lá, tàn dư mỹ ngụy, “đĩ điếm cặn bã xã hội”. Đôi khi cũng thấy họ “tự sướng” như dân bắc kỳ sâu sắc… Sự kỳ thị còn thể hiện qua các chính sách nhà nước.

Họ chủ trương “bắc kỳ hóa” tất cả, từ chính trị, kinh tế cho tới văn hóa, giáo dục, phong tục tập quáng trong xã hội. Họ tẩy xóa “văn hóa đồi trụy, tàn dư mỹ ngụy”, mặc đồng phục một thứ văn hóa cứt lợn mác xít lê nin nít.

Dân bắc kỳ nắm quyền hành từ khắp hang cùng ngõ hẻm. Chỗ nào cũng có dân bắc kỳ nắm quyền lãnh đạo.

Cứ cái đà “mặc đồng phục” này, bọn nam kỳ chó ba que tuy ngu nhưng cũng có ngày giác ngộ rằng không có “đồng bào” gì với cái thứ đè đầu đè cổ ức hiếp, bóc lột mình bằng cây súng.

Dân nam kỳ chó và ngu, không biết lý luận, nhưng họ xây dựng miền nam tới năm 75, hạng bét cũng bằng với Nam Hàn, Thái Lan… Singapour thời đó Lý Quang Diệu còn ao ước sao cho bằng Sài gòn.

Bây giờ hơn bốn thập niên lãnh đạo, tầm cỡ “bắc kỳ biết lý luận” đã xây dựng đất nước tới đâu thì thực tế đã chứng minh.

VN thua Singapour, Nam Hàn, Đài Loan… hàng vài thế kỷ. Còn nói gì tới Singapour.

Dân nam kỳ chó, ba que xỏ lá có đui mù thì cũng thấy là họ đâu có thua gì dân bắc kỳ biết lý luận ? Từ trí tuệ cho tới cách hành sử như con người văn minh. Thực tế đã chứng minh. Làm sao họ có thể thua, nếu không nói là hơn dân bắc kỳ vài năm ánh sáng ?

Không có chính sách nào hữu hiệu để chia rẽ dân tộc bằng cách xóa bỏ căn cước, chia rẻ vùng miền, thiên vị vùng miền, hay áp đặt văn hóa của miền này cho miền khác hết cả.


Cứ tiếp tục đà này thì sẽ có một ngày đẹp trời nào đó thuận tiện, “thiên thời, địa lợi, nhân hòa”, dân nam kỳ sẽ đòi ly khai, độc lập.

Thì tới nước đó thì cũng là do mình mà thôi.


7-1

Bàn tròn thứ năm của BBC tuần này nói về chủ đề “tỉ phú bất động sản ở Việt Nam”. Hai diễn giả TS Trần Quốc Quân và TS Nguyễn Quang A đã nói lên hết những điều mình muốn nói. Nhưng cá nhân tôi thì thấy có một điều lý ra cần phải được đào sâu thêm. Đó là quá trình làm giàu của các tỉ phú VN.

Theo tin tức báo chí hồi tháng 9 năm ngoái, Tòa án Hình sự Quốc tế (ICC) cho biết sắp tới Tòa có thể sẽ chú trọng nghiên cứu để truy tố hình sự các tác nhân làm ô nhiễm môi trường, những cá nhân, tập đoàn khai thác tài nguyên bất hợp pháp và các việc cưỡng chiếm đất đai của dân nghèo.

Các tỉ phú Việt Nam, không riêng tỉ phú bất động sản, mà các triệu phú, tỉ phú khác (nổi tiếng như cồn ở VN) thuộc các lãnh vực khai thác quặng mỏ, gỗ… như vậy cũng nằm trong “tầm nhắm” của ICC.

Formosa, tác nhân của ô nhiễm biển ở miền Trung, mặc dầu không nằm trong “top ten” của bộ Tài nguyên và môi trường, nhưng hiển nhiên nó là mục tiêu hàng đầu của ICC, nếu tổ chức quốc tế này xét hồ sơ “tội phạm hình sự” (qui mô tầm vóc quốc tế) ở VN. Bộ TNMT có lẽ “ngậm miệng ăn tiền”, 500 triệu đô la tiền bồi thường của Formosa đến nay chưa thấy tới tay phần lớn nạn nhân. Trong khi nhà nước (cố tình) loại trừ không bồi thường ngư dân ở Nghệ An, cũng bị ảnh hưởng nặng nề không khác ngư dân các tỉnh khác (Hà Tĩnh, Quảng Bình, Huế…) Việc không đưa “sự cố” Formosa vào “top 10” liên quan đến “tài nguyên và môi trường” trong năm 2016 chỉ có thể giải thích là nhân sự có trách nhiệm còn đang lúng búng trong miệng những tờ đô la của Formosa. Chỉ như vậy họ mới câm miệng trước thảm trạng của hàng triệu con người đang thất điên bát đảo vì mất công ăn việc làm (do ảnh hưởng môi trường ô nhiễm).

Các tỉ phú, triệu phú khác làm giàu nhờ khai thác quặng mỏ, cây gỗ…

Nếu nhìn trên bản đồ Google bây giờ ta không còn thấy ở VN “khoảng xanh” nào cả. Rừng bị tàn phá từ Tây nguyên cho tới thượng du Bắc Việt. Những “nhà phá nước” này đã góp phần rất lớn trong các thiên tai lũ lụt gần đây ở các tỉnh miền Trung. Phá rừng, phá núi, xây đập thủy điện... bao nhiêu tiền của đều vào túi riêng của họ. Nhưng hệ quả tàn phá đất nước, làm thay đổi môi trường… tất cả đều do người dân lãnh đủ.


Riêng về tỉ phú bất động sản, nếu xét sâu xa, tất cả họ đều là những tội phạm. Nếu không phải tội “móc ngoặc” với viên chức nhà nước để “chạy chính sách” (tội tham nhũng), thì cũng phạm vào những tội bức hiếp dân lành. Trong chương trình bàn tròn BBC tôi thấy thích TQ Trần Quốc Quân hơn. Bởi vì chí ít ra ông này có cái nhìn khá đúng đắn về “quyền sử dụng và quyền sở hữu đất đai”.

Qui định của nhà nước VN về “quyền sử dụng đất đai” khiến cho viên chức nhà nước trở thành cái gạch nối quan trọng trong mọi tương quan “chuyển nhượng quyền sử dụng đất đai” giữa thành tố trong xã hội. Tư bản địa ốc muốn đầu tư, muốn “mua quyền sử dụng đất” phải qua trước hết là viên chức nhà nước. Tư bản chân chính, những người tôn trọng pháp luật, không ai phiêu lưu đầu tư ở VN. Ở các nước, việc mua bán đất đai, nhà nước chỉ có vai trò (mờ nhạt) là trung gian. Đôi khi hai bên (tư nhân) thỏa thuận mua bán nhà đất, chỉ cần một tờ giấy, một chữ ký là đủ. Trong khi ở VN, chủ đầu tư nhắm được miếng đất nào ngon lành liền móc ngoặc với quan chức địa phương. Bất kể đất đó là đất gì, là đất ruộng hương hỏa từ bao đời để lại cho nông dân, hay là đất khai hoang (như trường hợp Đoàn Văn Vươn)... chủ đầu tư cấu kết với viên chức nhà nước để “thay đổi chính sách”. Miếng đất của (những) người nông dân bao đời cày bừa ở đó, trở thành đất thuộc diện “công ích xã hội”. Ngay cả chùa chiềng, nhà thờ… chỗ nào đất “đắc địa”, chỗ đó thuộc “công ích xã hội”. Người sử dụng đất cũ bị “truất quyền sử dụng đất”. Biết bao nhiêu oan trái, từ nam chí bắc, “dân oan” trở thành một “tầng lớp” thực sự trong xã hội.

Điều tôi ngạc nhiên là thái độ của TS Nguyễn Quang A. Ông này hoan nghênh những “tỉ phú bất động sản” ở VN. Một “nhà dân chủ” như ông lẽ nào không biết đến một điều cơ bản của “quyền con người” là “quyền được sống”. Một “tỉ phú bất động sản” thành danh, có bao nhiêu người bị mất “quyền được sống” trên mảnh đất của mình ?

Tỉ phú, triệu phú VN phần lớn đều là “tội phạm”. Nếu không phải “tham nhũng” thì cũng phạm tội “tàn phá môi trường”. Đặc biệt, những người làm giàu lên từ “địa ốc”, họ còn có thể truy tố ra tòa Hình sự quốc tế. Bởi vì họ chiếm đoạt (của người dân nghèo) quyền cơ bản nhứt của con người là “quyền được sống”.

Ở VN chỉ một số rất ít có thể làm giàu bằng trí tuệ, mồ hôi, nước mắt… của mình. Những người này ngoài tài năng siêu quần còn có khả năng luồn lách giỏi. Hèn chi tầng lớp “trung lưu” VN phát triển mãi mà không thành hình được. Họ ở nước ngoài (kiểu ông Trần Quốc Quân) hay tìm cách “qui mã - qua mỹ” hết.


8-1

Nói về "đô thị hóa".

Ông Nguyễn Đức Chung, chủ tịch UBND Hà Nội mới hôm kia có lời "thống thiết" từ tâm can rằng: thành phố đang phải trả giá vì băm nát qui hoạch.

Vấn đề là ông Chung phải biết thế nào là "qui hoạch" của trí tuệ đỉnh cao về “cái gọi nà tận dụng đô thị hóa để đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa". Sài Gòn đã được đô thị hóa ra sao ? biết được thì ông Chung sẽ bớt "tâm tư".

Đỉnh cao trí tuệ “biết ný nuận” trước nay cứ tưởng rằng, nhìn biểu đồ các nước phát triển theo kiểu "rồng bay" Đại Hàn, Đài Loan; hoặc mới đây là TQ. Phải nhìn nhận rằng công cuộc "hiện đại hóa, công nghiệp hóa" của các nước này luôn tỉ lệ thuận với việc phát triển đô thị. Đỉnh cao trí tuệ tưởng rằng bắt chước theo mô hình đó thì mình cũng "bay theo rồng" thôi.

Họ tưởng rằng khi "mở cửa" các đô thị cho dân quê tràn ngập về, rồi gọi đó là "đô thị hóa", thì sẽ tự động "công nghiệp hóa, hiện đại hóa". Thử tưởng tượng, năm 1986 dân tập trung ở các đô thị VN chỉ có khoảng 13 triệu người. Con số này tăng lên trên 30 triệu người vào năm 2015.

Cái gì cũng có “logic” của nó. Người ta phát triển trước hết là "công nghiệp hóa, hiện đại hóa". Việc này thành công đương nhiên đưa tới việc "đô thị hóa".

"Đô thị hóa" là hệ quả của một quá trình dài hơi, từ môt quốc gia có nền tảng nông nghiệp (nông dân chiếm đa số) tiến đến một quốc gia "hiện đại", có nền "công nghiệp" làm nền tảng.

Trong quá trình này số nông dân ngày một ít đi, vì làm ruộng cực nhọc mà không khá hơn làm "công nhân xí nghiệp". Và theo thời gian, số "công nhân xí nghiệp" cũng biến đổi. Từ "cổ xanh" chuyển qua "cổ trắng". Tức là nền công nghiệp không phải chỉ là trụ lại ở "sản xuất" thô, mà chuyển sang những hàng hóa "cao cấp". Nếu lấy thí dụ của Nam Hàn, Đài Loan... thì công nhân cổ trắng là những kỹ sư, nhà nghiên cứu... làm việc trong các tập đoàn Samsung, Acer, LG... hay ở các tập đoàn tài chánh, các phòng thí nghiệm, phòng nghiên cứu...

Đô thị hóa như vậy là "đô thị hóa nông thôn" (chớ không phải đưa nông thôn vào đô thị).

Mà cốt lõi của việc "đô thị hóa" lại là đầu tư và định hướng vào giáo dục.

Thử tìm hiểu quá trình phát triển của Đài Loan, Nam Hàn, Singapour... họ phát triển ra sao ? Nói một người Singapour có năng suất gấp 10 lần, 20 lần một người Việt là quá đúng.

Nhìn lại Hà Nội, Sài Gòn... phát triển cái gì mà từ Sài gòn đi ra Bình dương (40km) mất tới 2 tiếng đồng hồ. Trong khi đó Sài Gòn và Bình Dương là cái đầu kéo về kinh tế cho cả nước.

Giờ đi làm, giờ tan sở là cả khu vực 40 cây số hỗn loạn như cái ổ kiến bị động.


Nếu tính toán cái chi phí về "logistics" của VN, tính tổng cộng là chiếm tới 21% GDP. Tiêu hao cỡ đó thì lấy gì làm sức phát triển tiếp theo. Trong khi TQ chỉ có 15%.

Bây giờ nhìn lại, công cuộc "công nghiệp hóa, hiện đại hóa", còn gọi là "theo hướng rồng bay" 2000-2020 hoàn toàn thất bại. Hệ quả đất nước tan hoang, dân tình tứ tán, ai có tiền là lo chạy ra nước ngoài, nợ công lên đến trên 110%, môi trường ô nhiễm, lại thêm nạn nhiễm mặn, nạn biển xâm thực...

Mọi chính sách của họ đều là "tự ăn vào mình". Bây giờ như con rắn cắn cái đuôi.

Không, không định hướng gì nữa cả, ngoài việc xóa đi làm lại từ đầu.



8-1

Trên BBC gần đây có bài viết nói về "những con vật tự ăn thịt mình". Thực ra, nếu nhìn kỷ trên từng bộ phận của đất nước, ta có thể thấy VN cũng là một con thú đang “tự ăn thịt mình”.

Hiện tượng loài thú "tự ăn mình" phần lớn đến từ bản năng sinh tồn. Con cọp, con gấu, chó sói... khi bị bẫy ở chân thường "ăn" cái chân kẹt trong bẫy, mục đích để thoát thân. Riêng những con thú "tự ăn mình" cho tới chết, có thể giải thích là một hiện tượng "tự sát" để giải thoát. Một số thú như gấu, rắn, khỉ... bị con người bắt nhốt, bị hành hạ, đôi khi tự ăn mình cho đến chết.

VN rõ ràng đang là “con vật tự ăn mình” cho tới chết. Chỉ không biết là “ăn để no” hay “ăn để tự giải thoát” (hay là có “ý đồ” gì khác)?.

Con thú tự ăn mình cho tới chết giống VN hơn hết là con rắn. Ngay cả các cách giải thích vì sao rắn tự ăn thịt mình cũng giống y chang trường hợp VN.

Đó là con rắn hoặc đói quá hóa quẩn, nuốt cái đuôi của mình vào bụng, ăn vào cho đến chết. Hoặc con rắn (ngu quá) không biết đó là thân thể của mình, nhè cái đuôi của mình nuốt trọng. Ăn tới đâu nó tiêu hóa tới đó.

Một quốc gia "phát triển" bình thường, dĩ nhiên đôi khi làm tổn hao đến "thân thể" đất nước mình, thí dụ sông hồ, đất đai ô nhiễm, nhưng chỉ số tiêu hao luôn nhỏ hơn nhiều lần chỉ số phát triển.

Thí dụ, những nước tiên tiến như Anh, Pháp, Đức, Nhật, Mỹ... thời kỳ đầu phát triển các nước này ô nhiễm kinh hồn. Nhà máy chạy bằng than đá xả khói tự nhiên vào khí quyển, không ai ngăn cản, không theo một phép tắc nào. Các hãng xưởng hóa học cũng thi nhau xả chất thải ra sông hồ, đổ xuống biển. Nhưng sau khi phát triền thì các quốc gia này tự điều chỉnh lại, thi hành những chính sách "làm sạch" lại môi trường. Bây giờ, ở các nước này, môi trường trong sạch, trở lại (gần) như lúc ban đầu.

Phát triển của VN cho thấy về mọi mặt, chỉ số "tiêu hao" cao hơn số "phát triển".Vụ Formosa Hà Tĩnh hay Bô Xít ở Đắc Nông cũng là những thí dụ điển hình về cách phát triển theo lối "tự sát". Hàng triệu ngư dân phải bỏ nghề. Biết bao nhiêu gia đình sống vào nuôi hải sản chết đứng chết ngồi. Cũng như cả một hệ thống du lịch bị tê liệt.

Phát triển (về địa ốc) của VN cũng là phát triển kiểu "tự sát", con thú tự ăn thịt lấy mình. Những tỉ phú làm giàu bằng địa ốc đó đã giúp gì cho đất nước phát triển ? Một người làm tỉ phú là hàng chục ngàn, hàng trăm ngàn người mất nhà, mất cửa. Biết bao nhiêu thảm cảnh, người VN phải lưu lạc nơi xứ người. Không biết có phóng viên nhà báo nào thử làm vài cái phóng sự ở những xóm chài người Việt ở Biển Hồ, Campuchia để biết nguyên nhân vì đâu là họ phải sống lưu lạc, khổ đau như vậy.

Những hào nhoáng bề ngoài làm sao có thể "bù trừ" cho cái "bong bóng" địa ốc căng phồng, mà khi bể bóng là kéo theo hàng loạt ngân hàng phá sản. Hậu quả rốt cục là người dân lãnh đủ.

Còn những tỉ phú làm nên nhờ phá rừng, khai thác khoáng sản là ăn cướp vào tương lai, cũng là cách phát triển con rắn tự ăn lấy mình. Cây gỗ trên rừng, cũng như các quặng mỏ khoáng sản, dầu khí, kim loại quí... là của toàn thể người dân, của thế hệ hôm nay và những thế hệ mai sau. Đóng góp vào phát triển đất nước của những vị này là bao nhiêu ? Có đủ để bồi đắp cho các việc lũ lụt xảy ra hàng năm hay không ?


9-1

Nói về "thuế máu".

Bà Thiết diện dạ xoa, bộ trưởng bộ chích dạo, vừa "đề xuất" dự án luật về máu và tế bào gốc, với hai giải pháp: 1, quy định việc hiến máu là nghĩa vụ bắt buộc của công dân phải thực hiện mỗi năm một lần nhưng có loại trừ một số trường hợp không thể hiến máu; 2, quy định việc hiến máu là tự nguyện kết hợp với tăng chi cho hoạt động vận động hiến máu.

Xưa nay việc hiến máu đã được qui định là sự "tự nguyện". Ai thấy có "thích" hiến máu thì họ "hiến", ai không thích thì thôi, không có vụ ép buộc.

Qua đề xuất của bà Kim Tiêm ta thấy là dân VN không có mấy ai tha thiết tới việc hiến máu cũng như ngân sách nhà nước dành cho bộ y tế đã giảm sút. Đề nghị này hóa ra là một "tối hậu thư" của bà Kim tiêm gởi Phúc niểng:

"Thằng Niểng mầy không tăng ngân sách cho tao thì tao sẽ bắt dân đóng thuế máu."

Vụ này coi bộ găng, vì ngân sách nhà nước thâm thủng ít ra từ 60 tới 70%.

Những năm trước, lúc 3X còn làm thủ tướng, ngân sách phủ phê, nhờ trời mưa thuận gió hòa, giá dầu cao ngất ngưỡng 100$/thùng, tha hồ hút lên bán. Lại còn thuế gạo, thuế hải sản, thuế đủ thứ thuế từ du lịch. Nhưng từ khi Trọng lú tiếp tục làm tổng bí, kèm với Phúc niểng lên làm thủ tướng, không biết mấy tay này làm gì ác ôn mà trời phạt nặng nề. Nào là hạn hán, ngập mặn miền nam, nào là ô nhiễm biển miền trung vụ Formosa, nào là lũ lụt triền miên, hết trận này tới trận kia làm cho dân thất điên bát đảo. Người dân đói meo, hàng chục tỉnh xin trợ giúp gạo cứu đói, lấy đóng thuế? Lại còn giá dầu sụt thê thảm, hút lên bán không đủ hoàn vốn. Ngân sách thu vào không tới 40%, trong khi các việc phải chi, nếu tính đủ, phải gấp đôi, gấp ba những năm trước. Chỉ có thể là "trời phạt" theo kiểu "trời sinh Niểng làm thủ tướng sao trời còn sinh ra hạn hán, lũ lụt, ô nhiễm... để làm chi"?.

Thì hỏi Trọng nú, "bắc kỳ biết ný nuận" giỏi lắm mà! Hãy lấy "ný nuận" ra mà "kinh bang tế thế".

Rõ ràng "ný nuận" không làm đầy ngân sách. Vì vậy mới có đề xuất "hiến máu" là một nghĩa vụ cho mọi công dân.

Vụ này làm nhớ lại "nghĩa cử" của Fidel Castro lúc hô hào dân chúng đi "hiến máu" giúp VN đánh Mỹ vào thập niên 60. Đông đảo dân Cuba đi hiến máu. Không phải vì họ thương dân VN hay họ chủ trương chống Mỹ mà lũ lượt đi hiến máu, mà là thời đó ai không đi là không được. Rốt cục nhờ vụ này Fidel Castro hốt bộn tiền. Bởi vì mỗi bịch máu (500cc) VN phải trả là 100$.

Trên thế giới này không có kinh doanh nào mau giàu cho bằng kinh doanh "máu". Tài nguyên máu cực ít, không bao giờ "ế". Còn chiến tranh, còn bịnh hoạn mổ xẻ... là thế giới cần tới "máu". Nghe nói tỉ phú Hoàng Kiều làm giàu cũng nhờ "máu".

Bà Thiết diện dạ xoa đã đào trúng mạch mỏ "vàng máu", muốn đặt ra "thuế máu" để lấy tiền cứu vãn chế độ. Thử tưởng tượng, mỗi năm 30 triệu người đi đóng thuế máu, mỗi lần 250cc. Tổng cộng là 7 triệu rưởi lít máu. Giá một lít máu là bao nhiêu ? Muốn biết chính xác chắc phải hỏi ông Hoàng Kiều. Tra Google thì giá trong bình khoảng 500$.

Tức là, "thuế máu", nếu "nhà nghèo" đóng đầy đủ và "nhà giàu" đóng nhiều lần trong năm, ta thấy thuế này dư sức "bù" vào những thâm thủng ngân sách.

Vấn đề là, hiến pháp (điều 20 khoản 1) qui định "Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể". Máu thuộc về (thân thể) con người, vì vậy nó "bất khả xâm phạm".

Một điều đã được qui định là "bất khả xâm phạm" thì không có lý do nào có thể vịn vào để "xâm phạm".

Do đó dự luật này (đề án 1) đã vi hiến, quốc hội bất cứ lý do gì cũng không thể thông qua thành "luật".

Nhưng mà cái tập đoàn "biết ný nuận" gian manh này có điều gì họ không dám làm ?

Nhắc lại chuyện ngày xưa chắc nhiều người khó ngủ. Việc "bán bãi" để người dân vượt biên (từ 4 đến 7 lượng vàng một người) sau 75 không biết có ai còn nhớ? Lại còn vụ "đánh tư sản mại bản", các vụ "đổi tiền"...

Vì vậy, trước pháp luật, máu thuộc về cái gọi là "bất khả xâm phạm". Nhưng trước đảng, thì chuyện gì cũng thông suốt.

Đó là nhờ "bắc kỳ biết ný nuận".


10-1

Chuyện khó khăn của người VN, trong vấn đề xây dựng một đất nước giàu mạnh, tôi có (nói đi nói lại nhiều lần), thứ nhứt là làm thế nào cho mọi người có ý thức “trọng luật”.

Trong xã hội mà mọi người đều thượng tôn pháp luật thì sẽ không có (hay có mà ít đi) nạn kẹt xe, nạn tham nhũng, các tệ nạn cường hào ác bá… Xã hội trọng luật là xã hội trong đó mọi thành tố “quan hệ” với nhau bằng “luật”, chớ không phải bằng “tình cảm” hay bằng “sức mạnh”. Trong xã hội dĩ nhiên ai cũng có những “quyền” của mình. Vấn đề là “quyền” phải luôn đi kèm với “trách nhiệm”. Đối với những lãnh đạo, những người nắm “quyền hành” trong tay, thì những thứ như “bổn phận” và “trách nhiệm” không còn là “ý thức” như đòi hỏi ở hạng dân dã, mà phải là điều ràng buộc (bằng luật).

Điều thứ hai là tinh thần hòa giải.

Nhiều người đã nói về “hòa giải” như “hòa giải hòa hợp dân tộc”, hoặc “hòa hợp hòa giải dân tộc”, theo tôi, tất cả đều đã giải thích một cách mù mờ, trừu tượng (theo cái cách của mình). Đã gần ½ thế kỷ mà lời kêu gọi “đoàn kết” “hòa hợp hòa giải dân tộc” vẫn còn vang vang. Trong khi trên thực tế thì dân tộc VN chia rẻ hơn bao giờ hết. Tức là những lời kêu gọi kiểu đó, thực ra là những lời không thực. Càng nói thì người ta càng không tin.

Theo tôi, “hòa giải” cần phải được giải thích với những cách khác.

Tôi quan niệm việc “hòa giải” như là một cuộc thương lượng mua bán, cả hai cùng thắng “win-win”, chớ không phải tranh luận trên tinh thần “được-thua”, “thắng-bại”, “địch-ta”, tao sống mầy phải chết, tao được mầy mất, tao thắng mầy phải thua, tao là chánh nghĩa mầy là gian tà…

Hòa giải gì mà có những bản nhạc đến hôm nay vẫn còn bị “cầm tù”, không được hát, mặc dầu trong dân chúng mọi người đều hát ?

Hòa giải gì mà đến bây giờ vẫn còn “cố thủ” trong lô cốt “chống Pháp”, hay trong bộ áo “tôn giáo”, để ngăn cấm, để kết tội người này là “theo đạo”, “là làm tay sai cho Pháp”?...

Trường hợp của học giả Pétrus Ký cụ thể cho tâm lý “địch ta” này.

Nếu trở lại thời kỳ đó, trước khi Pháp đánh Đà Nẵng và chiếm các tỉnh Nam kỳ. Ta thấy những người VN theo đạo, từ nam chí bắc, đã là nạn nhân của những vụ thảm sát, mà hôm nay ta gọi là “tội ác diệt chủng”, “tội ác chống nhân loại”. Những người theo đạo phải trốn chui, trốn nhũi, hay tụ tập lại thành từng làng để tự bảo vệ. Nhà nước (tức triều Nguyễn) thời đó thay vì can thiệp để bảo vệ thần dân của mình, lại còn có những “chánh sách” ác độc là khuyến khích cho việc tàn sát người theo đạo.

Thái độ của những người theo đạo sẽ ra sao để tự bảo vệ ?

Dĩ nhiên là họ sẽ cầu cứu đến những đạo quân của Pháp, của Tây ban nha…

Đến khi Pháp đem quân đánh Nam kỳ, nếu có đọc lịch sử nhiều chiều thì ta thấy rằng mục đích của quân Pháp không hề nhằm giúp những người theo đạo kia, mà để tìm nơi dưỡng quân, thuận đường cho việc “phân liệt” đế quốc Trung Hoa.

Những người VN theo đạo cảm thấy quân Pháp (và Tây ban nha) là những bậc “cứu tinh”. Còn triều đình và dân chúng thì coi những người này làm “tay sai cho giặc”.

Trong khi, nếu xét tới thái độ của dân chúng bắc hà thời kỳ Pháp đánh Bắc kỳ (thời Tự Đức). Ta thấy rằng khi quân Pháp đánh thành Hà Nội thì dân chúng kéo đến coi như hội. Chỉ một nhúm quân Pháp mà hạ được thành Hà Nội, có cả ngàn quân binh.

Quân Pháp thắng, không phải vì quân lính tinh nhuệ, mà vì sự thờ ơ của dân chúng. Người dân bắc hà coi chuyện Pháp chiếm đất nước là “chuyện của triều đình”, không mắc mớ gì tới họ.

Thái độ của dân bắc hà có đáng trách bằng dân theo đạo ở nam hà hay không ?.

Câu trả lời là lịch sử luôn là những bài học. Thất bại thì đó là cái gương cần nên tránh. Nếu thành công thì đó là điều cần noi theo. Nói đến lịch sử là nói đến “chân lý”, sự thật. Thái độ nói thật, có trách nhiệm về sự thật, là một thái độ “hòa giải” với quá khứ.

Trường hợp hôm nay, khi nói TBT phải là “người bắc, biết lý luận” thì mặc nhiên cho rằng người ở các miền khác là “không biết lý luận”.

Vậy thì còn nói chuyện gì để đáng nói nữa ? ngoài việc làm cho người ta (mất thời giờ) chứng minh rằng dân bắc kỳ không hề ưu việt hơn dân các miền khác?

Hệ quả làm cho mọi người (miền khác) buông tay, bỏ mặc cho dân bắc kỳ muốn làm gì thì làm.

Vấn đề “quốc gia” là cái “nhà chung”. Dầu muốn dầu không mọi người ở trong đó đều có cùng một định mạng, cùng chia sẻ một nỗi vinh nhục. Hiện tượng “bắc kỳ ưu việt” đã làm cho các thành phần dân tộc khác thờ ơ, thậm chí quay lưng lại với đất nước mình.

Người bây giờ còn bị phân biệt như vậy, người trăm năm trước cũng còn phân biệt như vậy, huống chi số phận những người lính “ngụy”.

Họ sống là ngụy thì họ chết cũng là ngụy.

Theo tôi, lãnh đạo CSVN cần phải có thái độ khác. Tất cả cùng thắng thì đất nước mới thắng được.


11-1

Hôm qua tôi có ý kiến ngắn về nhà bác học Trương Vĩnh Ký, còn gọi là Pétrus Ký. Theo tôi, Pétrus Ký là "nạn nhân" điển hình của những xung đột từ nội tại của dân tộc Việt Nam. Đó là xung đột giữa "mới và cũ", giữa "giáo và lương", giữa "nam kỳ và bắc kỳ", giữa "tây học và nho học", giữa "hợp tác và bất hợp tác (với thực dân)"...

Di sản văn hóa của Pétrus Ký đến nay vẫn không được nhà cầm quyền CSVN nhìn nhận (mặc dầu được nhìn nhận dưới thời VNCH).

Lãnh đạo CSVN hôm nay vẫn còn giữ nguyên lối suy nghĩ của những người Việt ở thế kỷ 18, 19.

Không ai có lối suy nghĩ của Pétrus Ký (sau đó là Phan Châu Trinh), hợp tác trước hết để tồn tại. Sau đó để học hỏi, để tự bảo vệ và tiến bộ. Thử đọc lại lịch sử, phải nhìn nhận một điều là dân tộc Việt không có thói quen "hợp tác" với đối thủ theo lối "win-win", để hai bên cùng thắng và cùng tồn tại như dân Nhật hay Thái lan.

Dân tộc Nhật có nhiều nét giống dân tộc VN, là trọng danh dự, cương quyết, dám dân thân và coi cái chết "nhẹ tựa hồng mao". Nhưng lãnh đạo Nhật lại hơn lãnh đạo VN ở chỗ biết đặt lợi ích của dân tộc lên trên danh dự, quyền lợi của ngai vàng hay giòng tộc của mình. Họ sẵn sàng "hợp tác" với đối thủ mạnh hơn, trước hết để tồn tại, sau đó để học hỏi, cải tiến... cuối cùng là vượt qua và thắng đối thủ.

Dân tộc ta chỉ biết "đối đầu", theo kiểu "thà làm ngọc vỡ hơn làm ngói lành".

Sau Pétrus Ký về thời gian. Người Nhật áp dụng đường lối "hợp tác" với đối thủ (mạnh hơn nhiều lần) trước hết để "tồn tại". Cùng thời ở VN là triều Tự Đức.

Trái ngược với Tự Đức, Minh Trị là ông vua "thông thái", biết nhìn thời cuộc và dám quyết định. Điểm son của ông này là "hòa giải" được với lớp lãnh chúa cũ.

Thời "mới mở cửa" Nhật đã (dám) trọng dụng những "nhân tài" người nước ngoài. Họ đã chọn người Pháp để học hỏi cách thức mở cơ xưởng đóng tàu. (Vào những năm 1893 trở đi, hải quân Pháp vượt cả đế quốc Anh). Công xưởng Yokosuda là do kỹ sư người Pháp giúp kỹ thuật và điều hành. Ngoài việc đóng tàu còn có huấn luyện học thuật Tây Phương và sinh ngữ. Những võ sĩ cũ (samourai) được tuyển vào để đào tạo thành chuyên gia hàng hải. Từ năm 1869 Nhật đã có bộ Hải Quân. Những công xưởng nhà nước, nhờ học hỏi của Tây phương, được xây dựng từ 1880. Song song đó nhà nước Nhật cũng khuyến khích tư nhân đầu tư bằng những món tiền thưởng lớn lao. Chính sách "hòa giải" được áp dụng cho những lãnh chúa bị truất quyền từ năm 1868. Những người này được sự trợ giúp nhà nước để đầu tư vào công, kỹ nghệ. Năm 1880 là thời điểm Nhật chấm dứt giai đoạn đầu công nghiệp hóa. Việc hiện đại hóa càng nhanh chóng vì kinh tế tăng trưởng nhờ có sự hợp tác của tư nhân. Nhiều công xưởng hải quân của nhà nước bán cho tư nhân như ở Nagasaki, (bán cho Iwakari Yataro vào năm 1884, ông nầy dựng lên hảng Mitsu).

Nhờ ở những chính sách "hòa giải" hợp lý, các kế hoạch cải cách nhà nước để "công nghiệp hóa, hiện đại hóa" của Nhật đã thành công. Chìa khóa của sự thành công là tất cả, từ vua quan cho tới thứ dân, cùng đồng lòng với các đề án của Minh Trị.

Nhờ vậy Nhật đánh thắng TH ở trận Áp lục, buộc Thanh triều phải kỳ hiệp định 1894 nhượng đứt Đài Loan đồng thời bồi thường 300 triệu lượng bạc.

Điều hữu ích cần ghi nhận thêm là 300 triệu tiền bồi thường, Nhật đầu tư tất cả cho phát triển. Chính quyền Nhật sử dụng khoản tiền nầy để khuếch trương hàng hải. Việc nầy thể hiện qua 1 đạo luật ban bố năm 1896 nhằm khuyến khích việc đóng tàu. Nhờ vậy hàng hải Nhật tiến bộ rất nhanh. Những hãng như Mitsubitshi ở Nagasaki hay hãng Kawasaki ở Osaka phát triển không kém những công xưởng của nhà nước. Cuộc thủy chiến với Nga 1904-1905 đã xác định được vị trí đại cường của Nhật.

Trở lại với người Việt. Chúng ta luôn có quan niệm "mày sống thì tao chết", nhứt định không chịu "hợp tác" để "tồn tại".

Vua Tự đức cùng với đám triều thần, vừa không biết địch lẫn không biết ta, cứ chủ trương "đánh". Trong khi lòng dân, phía bắc, thì mong cho triều Nguyễn sớm sụp đổ. Nhiều hậu duệ nhà Lê, lúc thì đi cầu đế quốc Trung hoa, lúc thì cầu viện Pháp, mong sao các thê lực này giúp mình để lấy lại "cơ đồ". Miền nam thì xa xôi, là vùng đất mới, dân tình chưa yên. Lấy cái gì mà đánh ? Rốt cục 6 tỉnh nam kỳ phải nhượng đứt cho Pháp.

Pétrus Ký đến hôm nay cũng còn là nạn nhân của lối suy nghĩ "tao sống là mày phải chết". Văn hóa VN vốn nghèo lại càng thêm ngèo.

Pétrus Ký còn là nạn nhân của việc phân biệt tôn giáo. Biết bao nhiêu bài viết của "trí thức Phật giáo" đương thời hài tội Pétrus Ký. Khốn khổ là Pétrus Ký đã chết. Những trí thức của VNCH trước đây, những người đủ khả năng và kiến thức để phản biện và bênh vực cho Pétrus Ký cũng đã không còn. Ngay cả di sản văn hóa của những người này cũng bị "đốt sạch".

Cứ tiếp tục cái đà này, kiểu "tao sống là mày phải chết", không ai thấy lối sống "win-win" tất cả cùng thắng mà người Nhật đã áp dụng hàng 150 năm trước (mà thực ra Pétrus Ký hay Phan Châu Trinh cũng đã đề nghị), thì chúng ta, người Việt, "cùng xuống hố cả nút".



12-1

Đầu năm 2017 ông Trọng đã có lời dặn dò Ủy ban Trung ương Mặt trận tổ quốc Việt Nam “xây dựng và thực hiện cơ chế bảo vệ, khuyến khích người dân phản ảnh, tố giác và tích cực đấu tranh phòng, chống suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hoá"...”

Điều “quan ngại” ý kiến trên đây là việc “khuyến khích người dân tố giác” các điều gọi là “chống suy thoái, tự diễn biến, tự chuyển hóa”.

Trong thời kỳ “cải cách ruộng đất” thập niên 50 thế kỷ trước, việc khuyến khích “đấu tố” đã khiến cho con tố cha, vợ tố chồng, anh em, chòm xóm tố cáo lẫn nhau… Mục đích của đấu tố thời đó là gì ? Là tố “địa chủ”, “trí thức”.. là một tội trạng, sau đó “ném đá” cho tới chết.

“Đạo đức cách mạng” là luật pháp. So sánh lại thì không khác kinh Coran mà bọn IS áp dụng hiện nay. Thật không có dã man nào cho bằng.

Rốt cục ông Hồ phải (đóng kịch) rơi nước mắt để ve vuốt lòng dân đang phẫn nộ. Nhưng mục đích của “đấu tranh giai cấp” vẫn tiếp tục, với triết lý “lạt mềm buộc chặt”, cho đến khi cách mạng vô sản thành công.

Hệ quả của việc đấu tố đã làm cho xã hội phân rã. Không ai dám tin tưởng vào ai. Sự nghi kỵ bàng bạc ngay cả trong gia đình. Ngoài xã hội một người muốn “tiến thân” là phải leo lên xác chết của người khác. Đến nay hơn 60 năm mà “lương tâm” dân tộc Việt vẫn còn bị “chấn thương”. Hận thù, chia rẽ vùng miền, phân biệt giai cấp… đã làm cho dân tộc Việt bị phân rã từ bên trong.

Bây giờ ông Trọng muốn mọi người trở lại thời 60 năm trước, lấy “đạo đức cách mạng” thay thế pháp luật quốc gia, mục đích “tố cáo” những người “suy thoái, tự diễn biến, tự chuyển hóa”.

Vậy thì những người mà ông Trọng cho là “suy thoái, tự diễn biến, tự chuyển hóa” là những thành phần nào ?

Và thế nào là “suy thoái, tự diễn biến, tự chuyển hóa”? Những người này phạm vào tội gì ?

Nếu không xã định rõ rệt thế nào là “suy thoái, tự diễn biến, tự chuyển hóa” thì bất kỳ ai cũng có thể bị kết vào tội “suy thoái, tự diễn biến, tự chuyển hóa”.

Nếu lấy tiêu chuẩn là triết lý “Mác Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh”, thì rõ ràng đảng CSVN đã “suy thoái, tự diễn biến, tự chuyển hóa” trước tiên. Sau đó là tất cả các đảng viên cộng sản.

Bởi vì, như mọi đảng CS, mục tiêu là tiêu diệt “chủ nghĩa tư bản bóc lột”, tiêu diệt “kinh tế thị trường” để xây dựng một nền kinh tế chỉ huy, xã hội không còn cảnh người bóc lột người. Bây giờ đảng CSVN lại lấy “kinh tế thị trường” là một mục tiêu định hướng.

Bởi vì, đảng viên đảng cộng sản phải là người vô sản. Bây giờ lại cho phép đảng viên “được quyền làm giàu”.

Rốt cục cái gọi là “kinh tế thị trường định hướng XHCN” của VN thực chất là một nền kinh tế tư bản hoang dã. Trong đó những đảng viên trở thành những tên tài phiệt đỏ, bóc lột dân nghèo đến tận xương tủy.

Có sự “suy thoái” nào bằng ?

Hay là lấy tiêu chuẩn “xã hội chủ nghĩa” ?

Ngay cả ông Trọng cũng không biết khi nào mới thực hiện được XHCN. Tất cả đảng viên CSVN đều không ai phác họa được cái gọi là XHCN đó như thế nào.

Vậy làm sao có thể lấy căn bản từ cái “chưa thành hình” để “tố giác” người ta là thế này, thế nọ ?

Không, ông Trọng ơi, ông lú thì cũng vừa vừa thôi.

Nói như ông thì ông vua Minh Trị bên Nhật cũng bị phạm vào tội “suy thoái, tự diễn biến, tự chuyển hóa”.

Ông vua Minh trị khác với vua Tự Đức ở VN cùng thời kỳ. Ông này dám suy nghĩ và làm khác. Khi thấy rằng mọi thứ gọi là “tinh hoa” của mình đều thua kém người ta thì phải có can đảm gạt bỏ sỉ diện để học hỏi nơi người ta để tiến. Tự Đức “đóng khung” cố thủ trong cái tư tưởng “bần nho” của mình. Rốt cục mất nước vào tay ngoại bang.

So sánh lại thì ông Trọng có cái “khí tiết” của Tự Đức, nhứt định cố thủ trong cái tư tưởng cổ hủ “mác xít lê nin nít” cho thấy đã thất bại khắp nơi. Tự Đức đưa đất nước tới đâu thì ông Trọng cũng sẽ đưa đất nước tới đó. Vì đó là “qui luật của lịch sử”.

Ý kiến của ông Trọng vì vậy hết sức là nguy hiểm. Nguy hiểm vì nó mù mờ, ai hiểu sao hiểu. Nếu ý kiến này đi vào thực hành thì một trận cuồng phong máu đổ thịt rơi không thua thời “cách mạng văn hóa” bên Tàu sẽ đổ xuống VN.

Ý kiến của ông Trọng cũng đi ngược tinh thần chỉ thị số 45 của bộ chính trị năm 2015: “Đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống nhân nghĩa, khoan dung...; xây dựng tinh thần cởi mở, tôn trọng, thông cảm, tin cậy lẫn nhau, cùng hướng tới tương lai; xoá bỏ mặc cảm, định kiến; chấp nhận những điểm khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc; mọi người Việt Nam, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, nguồn gốc xuất thân, địa vị xã hội, lý do ra nước ngoài, mong muốn góp phần thực hiện mục tiêu trên đều được tập hợp trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc.”

Thế nào là “chấp nhận những điểm khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc” ?

Một người vì lợi ích của đất nước và dân tộc, nói “khác” với đường lối của đảng là “suy thoái, tự diễn biến, tự chuyển hóa” hay sao ?


13-1

Trên BBC có bài đề tựa “Lãnh đạo Việt-Trung uống trà bàn 'định hướng lớn'”.

Về chuyện “lớn” nào đó thì cần bàn luận thêm, riêng chuyện Biển Đông thì không có “định hướng” nào nữa để nói. VN từ bao đời tổng bí thư đã cam kết “tuân thủ nhận thức chung của lãnh đạo cao cấp hai bên về cách giải quyết tranh chấp Biển Đông”.

Tuyên bố chung VN-TQ, liên quan đến Biển Đông, từ năm 2008 thời Nông Đức Mạnh đã ghi : “Hai bên đồng ý nghiêm chỉnh tuân thủ nhận thức chung liên quan của lãnh đạo cấp cao hai nước...”

Tuyên bố chung 2015 : “nhấn mạnh tuân thủ nhận thức chung quan trọng đạt được giữa Lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai nước...”

Rõ ràng ông Trọng đã kế thừa những “nhận thức chung” từ Nông Đức Mạnh. Và Nông Đức Mạnh dĩ nhiên đã kế thừa từ những lãnh đạo tiền nhiệm.

Khi đã “cam kết tuân thủ nhận thức” rồi thì cứ theo tinh thần nhận thức đó mà làm. “Bàn bạc” ở đây là các “nhận thức” sẽ được thực hiện như thế nào và trong bao lâu. Nhà báo nói là “định hướng lớn” mà thực ra không có gì cả. “Hướng” đã “định” từ “khuya”, hơn ½ thế kỷ rồi, có gì nữa mà lớn với nhỏ ?.

Điều mà theo lẽ các nhà báo cần tìm hiểu, cái gọi là “nhận thức chung của lãnh đạo cao cấp” là gì ? Các Tuyên bố chung hai nước, ghi lại được từ năm 2008, đã đề cập đến “nhận thức chung”. Chưa bao giờ thấy trong các cuộc phỏng vấn, phóng viên đặt câu hỏi này cho lãnh đạo cao cấp để làm sáng tỏ vấn đề.

Với tư cách là một người có nghiên cứu về biên giới và chủ quyền biển đảo, dĩ nhiên tôi có “nhận thức” riêng của mình về cái gọi là “nhận thức chung của lãnh đạo cao cấp hai bên về cách giải quyết tranh chấp Biển Đông”.

Theo tôi, quan trọng hơn hết, là Tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của chính phủ Trung Quốc về lãnh thổ và hải phận của TQ. Thứ đến là công hàm của VN ngày 10-9-1958 “tán thành” quyết định trên của TQ do thủ tướng Phạm Văn Đồng ký.

“Nhận thức chung” này là gì ?

Đó là VN “ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc...”

Tuyên bố của TQ có nội dung : “Lãnh hải của TQ rộng 12 hải lý. Điều này áp dụng trên toàn bộ lãnh thổ TQ, các hải đảo Đài Loan và các đảo phụ thuộc, đảo Bành Hồ và các đảo phụ thuộc, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa), quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa (Trường Sa)…”

“Nhận thức chung” của “lãnh đạo cao cấp hai bên” là Tây Sa và Nam Sa (tức HS và TS) thuộc về TQ.

Không cần phải là “nhà nghiên cứu” chi cả, mọi người có thể tham khảo các tài liệu trên đây qua Google.

Vì vậy việc bàn luận giữa "lãnh đạo cao cấp" qua các thời kỳ là bàn về cách "bàn giao" HS và TS thế nào để "êm thắm", dân chúng không nổi loạn mà thôi.

Vở kịch 1988 chuyển giao "không êm thắm" các bãi đá TS. Vụ này dân chúng, ngay cả trong quân đội, phản đối mạnh mẽ.

Đến năm 2014, VN và TQ cùng diễn vở kịch "giàn khoan HY 981". Hai bên xịt nước vào nhau, la lối tuyên bố om sòm, diễn kịch đến mức xuất quĩ nhập thần, như thật. Song song đó thì VN âm thầm "tuân thủ những cam kết", làm tấm bình phong che dấu những sự việc đang xảy ra ở các bãi đá mà TQ chiếm từ năm 1988.

Đến khi TQ xây dựng xong các đảo nhân tạo, xây phi trường... cũng không thấy VN phản đối chi cả. Cuối cùng thì TQ đưa phi cơ, tàu chiến, hỏa tiễn... về trấn ở các đảo nhân tạo này. Các nước ASEAN, Mỹ, Úc, Nhật... phản đối. VN cũng lên tiếng "quan ngại" chiếu lệ vuốt đuôi.

Đặt trường hợp các nước khác, nếu không đi kiện (như Phi) thì cũng tìm cách "liên minh" với một cường quốc nào đó dể làm thế "đối trọng" nhằm tự vệ.

CSVN đã không làm chi cả.

Chắc chắn các đảo TS sẽ được CSVN "tuân thủ cam kết" để trả lại cho TQ. Điều lo ngại, theo tôi, là vở bi hài kịch sắp tới, VN và TQ thủ vai chánh. Hai bên sẽ nhịp nhàng tung hứng, một cuộc hải chiến "cuội" sẽ xảy ra, y chang cuộc hải chiến Gạc Ma 1988.

"Cuội" là vì cuộc chiến xảy ra một chiều, một bên bắn, một bên làm bia.

Nên biết là "cuộc hải chiến" 1988 phía VN ra trận nhưng chỉ huy (Lê Đức Anh) ra lệnh không được nổ súng. Vấn đề là làm sao cấm lính nổ súng bắn trả, khi bị kẻ địch bắn mình ? Vì vậy hải quân VN ra TS, Lê Đức Anh không cho ai đeo súng theo cả.

Theo tôi, vở tuồng bi hài kịch này đã không còn ăn khách nữa. Máu và nước mắt đã đổ quá nhiều rồi.

Vấn đề là dân chúng VN, báo chí VN... cam tâm làm "khán giả thụ động hiền hòa", coi hoài mỗi tuồng cải lương đào kép lộn xòng, diểu dở.

Cho đến bao giờ...


14-1

Năm con khỉ 2016 sắp hết rồi, tôi đề nghị với bà con mình nên "chốt” năm này lại bằng một sự kiện “nổi bật”, bằng sự đóng góp của tất cả mọi người.

Tôi mạo muội đề nghị bà con thành lập một danh sách những lãnh đạo CSVN đủ điều kiện chế tài theo qui định của "Luật Nhân quyền Magnitsky".

Luật Nhân quyền Magnitsky mới tinh khôi, ngon lành như ổ bánh mì nóng hổi vừa thổi vừa ăn. Luật này được Obama đề xuất, QH Mỹ thông qua ngày 8-12. Theo qui định của Luật, “tiêu chuẩn” những người được vào danh sách là "tham nhũng" và "vi phạm nhân quyền".

Dĩ nhiên danh dự xin nhường cho bà con trong nước. Riêng tôi thì mạo muội đề nghị hai người: một là tổng bí thư Trọng lú và hai là ông Trương Minh Tuấn, bộ trưởng bộ thông tin và tuyên truyền.

Theo tôi, hai ông này dư tiêu chuẩn để được ghi vào danh sách.

Trọng lú dĩ nhiên xứng đáng là người đứng đầu sổ. Ông này vừa bị các tổ chức quốc tế lên án về các việc bắt bớ vô tội vạ những người VN sử dụng các phương tiện internet để nói lên ý kiến của mình một cách ôn hòa.

Còn ông Trương Minh Tuấn, những “chỉ thị” do ông ban hành trong những ngày gần đây, như buộc facebook, youtube… phải có “nghĩa vụ” hợp tác với VN để ngăn chặn thông tin v.v... là vi phạm nghiêm trọng nhân quyền, ở điều cơ bản là quyền tự do ngôn luận.

Bà con thử tưởng tượng đi, thấy cũng vui. Cái cảnh Trọng lú, hay Trương Minh Tuấn sau này bị cảnh sát Mỹ hạch hỏi ở phi trường LAX, hay San Francisco… không cho họ nhập cảnh vào Mỹ. Lý do phạm luật Magnitsky. Theo tôi, những người đã bị công an VN không cho nhập cảnh nên nghiên cứu việc này để… trả thù.


14-1

Đọc tin hết hồn: đổi mới hay là chết.

Đó là ý kiến của ông Nguyễn Xuân Phúc. Theo tôi, ngay ở việc đề xuất ý kiến thôi, làm được hay không là chuyện khác, ông Phúc đã đủ để cho chúng ta "nể phục".

Vì sao nể phục ? Tại vì ông Phúc đá vào dái Trọng lú chớ sao!

Trọng lú đầu năm ra rả luận điệu "chống suy thoái, chống tự diễn biến, tự chuyển hóa". Thực ra hô hào việc này Trọng lú đã chửi cha các lãnh đạo trước ông, từ Trường Chinh, Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Võ Văn Kiệt... Mấy ông này chủ trương "Đổi mới".

Đổi mới là gì nếu không phải là "tự diễn biến, tự chuyển hóa"? Nếu không "tự diễn biến, tự chuyển hóa" thì cái đảng cộng sản của ông lú đã sụp từ tám hoánh!

Cũng vậy, đề xuất của ông Phúc "đổi mới hay là chết" là tiếp tục sự "thay đổi", là tiếp tục "tự diễn biến, tự chuyển hóa", sao cho VN không còn những khác biệt so với các nước tiên tiến.

Rõ ràng Trọng lú mới là người "suy thoái", là người "lội ngược dòng".

Hèn chi Trung nam hải ủng hộ ông Lú hết mình.


16-1

Biển Đông sau chuyến thăm Trung Quốc của TBT Nguyễn Phú Trọng.

1/ Vấn đề “kiểm soát bất đồng trên biển”.

Sau chuyến đi TQ của TBT Nguyễn Phú Trọng 15 tháng giêng vừa qua, BBC đăng bài có tựa đề: VN-TQ thỏa thuận 'kiểm soát bất đồng' Biển Đông.

Bài báo cũng dẫn bình luận từ Tân hoa xã:

“hai bên tin rằng chuyến đi của ông Nguyễn Phú Trọng đã "đạt thành công to lớn" trong việc nâng cao sự tin cậy chính trị giữa hai bên, thắt chặt quan hệ hữu nghị truyền thống, củng cố quan hệ đối tác chiến lược hợp tác toàn diện, và đóng góp vào hòa bình, ổn định và phát triển của khu vực”.

Tôi thì không hề tin chuyến đi của ông Trọng “đạt thành công to lớn” như Tân hoa xã đã phóng đại. Từ bao đời tổng bí thư, với biết bao nhiêu tuyên bố từ sau khi hai bên thiết lập lại bang giao 1991, hai bên luôn khẳng định những điều mà Tân hoa xã đã nói (là thắt chặt hữu nghị, quan hệ đối tác chiến lược, gìn giữ hòa bình, ổn định và phát triển...).

Những gì TQ hứa hẹn trên lý thuyết hoàn toàn trái ngược với những gì xảy ra trên thực tế.

Các Tuyên bố chung giữa VN và TQ 2011, 2013, 2015, 2016, 2017… luôn khẳng định hai bên “không tiến hành các hành động làm thêm phức tạp, hoặc mở rộng tranh chấp, không sử dụng vũ lực hoặc de dọa sử dụng vũ lực…”.

Trong khi trên thực tế thì các việc đặt giàn khoan 981 (tháng năm 2014) của TQ rõ ràng là hành vi “mở rộng tranh chấp và làm phức tạp tình hình”.

TQ nhứt quán trong lập trường là “không có tranh chấp ở Hoàng Sa”. Nhưng vị trí giàn khoan 981 là đặt trên thềm lục địa của VN. Mặc dầu giàn khoan đặt cách đảo Tri Tôn (thuộc HS) khoảng 20 hải lý, nhưng cái gọi là “đảo” Tri Tôn, thực tế chỉ là một thực thể địa lý nổi thường trực trên mặt nước biển, không có người sinh sống. Nếu đối chiếu với những nhượng bộ của VN trong Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ, các đảo của VN như Cồn Cỏ, Bạch Long Vĩ… là những đảo thực sự, có đông đảo người sinh sống. VN đã (hầu như) bỏ qua hiệu lực “đảo” của các đảo này, chiếu theo điều 121 Luật Biển quốc tế. Mặt khác, toàn bộ quần đảo Hoàng Sa vốn thuộc chủ quyền của VN, được khẳng định từ thời nhà Nguyễn. Nhà nước bảo hộ Pháp tái khẳng định lại hai lần, chủ quyền Hoàng Sa (và TS) thuộc VN, trước và sau Đệ nhị Thế chiến. TQ đã chiếm quần đảo này của VN bằng vũ lực 17-19 tháng giêng năm 1974.

TQ vừa không có tư cách khẳng định chủ quyền các đảo HS, chiếu theo Hiến chương LHQ, vì TQ đã chiếm bằng vũ lực. Trong khi các thực thể địa lý ở Hoàng Sa, cụ thể là đảo Tri Tôn, nếu đối chiếu với phán quyết của CPA ngày 14-7-2015, thì các đảo này không có cái nào có hiệu lực “đảo” theo điều 121. Lại còn thêm nhượng bộ (phải gọi là phi lý) của VN ở Bạch Long Vĩ và Cồn Cỏ.

Vì vậy hành vi đặt giàn khoan 981 của TQ là “mở rộng tranh chấp”, từ tranh chấp chủ quyền mở rộng qua tranh chấp về phân định biển (khu vực của vịnh Bắc Việt).

Chưa hết, thái độ hung hăng của các tàu hải quân, hải cảnh… của TQ, lúc bảo vệ giàn khoan 981, đã đâm chìm tàu của ngư dân VN (gây tử thương cho nhiều người), cũng như Tàu của các lực lượng này gây hấn đâm tàu hải cảnh của VN… dĩ nhiên, gọi đúng là hành vi chiến tranh, nhẹ nhàng là gây hấn… “làm phức tạp thêm tình hình”.

Sau đó TQ cho xây dựng các đảo nhân tạo và mở rộng chúng, ở các bãi đá ngầm chiếm (bằng vũ lực) của VN năm 1988. Sau đó xây sân bay với đầy đủ hạ tầng cơ sở cho không quân, hải quân, sau đó lại đặt các giàn hỏa tiễn địa không…

Hành vi của TQ cũng là “mở rộng tranh chấp”. Bởi vì, như đã nói, chiếu Hiến chương LHQ, chủ quyền của TQ ở các bãi đá này không được nhìn nhận. Trong khi các thực thể này, một số là đá ngầm, không thể chiếm hữu, theo Phán quyết 14-7-2015 của Tòa Trọng tài ở La Haye. Việc chiếm hữu bằng vũ lực các bãi là vi phạm Hiến chương LHQ. Việc xây dựng đảo và “quân sự hóa” chúng vừa làm “phức tạp thêm tình hình”, lại vừa “đe dọa chiến lược” đối với các nước chung quanh. Hành vi của TQ cũng phạm Luật quốc tế, vì việc xây dựng đảo nhân tạo đã gây ô nhiễm nặng nề cho môi trường biển.

Đồng thời cái gọi là “thỏa thuận kiểm soát bất đồng ở Biển Đông”, theo như tựa đề bài báo thì có nhiều điều cần xét lại.

Thời Nông Đức Mạnh, tuyên bố chung năm 2011 đã có nội dung về kềm chế sự “bất đồng”: “không để bất đồng ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của quan hệ hai nước”.

Đến thời Nguyễn Phú Trọng, như Tuyên bố năm 2013 nói về việc “kiểm soát tốt những bất đồng trên biển”. Tuyên bố 2015 nói đến việc “Hai bên nhất trí cùng nhau kiểm soát tốt bất đồng trên biển”. Tuyên bố 2017 thì nói “kiểm soát tốt bất đồng trên biển”.

Từ việc “kiểm soát tốt” để đi tới việc ký kết thỏa thuận “kiểm soát bất đồng” là một bước dài. Người ta hoài nghi về sự hiện hữu của thỏa thuận này. Khoản 9 bản Tuyên bố chung 2017, nhiều thỏa thuận, kết ước hai bên đã được ký kết. Tuy nhiên không hề thấy thỏa thuận về “kiểm soát bất đồng trên biển”.


2/ Vấn đề độc lập quốc gia.

Tháng mười 2016 ông Đinh Thế Huynh (nghe đồn đoán là sẽ thay thế ông Trọng), có chuyến đi thăm TQ. Nhân dịp này Tập Cận Bình có nói với ông Huynh rằng : "hai nước là một cộng đồng cùng chia sẻ tương lai".

Vấn đề là, ý nghĩa của câu "một cộng đồng cùng chia sẻ tương lai" chỉ dành cho nhân dân trong một nước. Chỉ có người dân trong một nước mới chia sẻ một tương lai chung.

Tuyên bố năm 2017 lặp lại ý kiến này :

"Hai bên cho rằng, Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng có truyền thống hữu nghị lâu đời,... có chế độ chính trị tương đồng, ... có tiền đồ tương quan, chia sẻ vận mệnh chung…. "

Ta không thấy ý kiến tương tự ở thời TBT Nông Đức Mạnh, hay các TBT tiền nhiệm.

Ý kiến này, nếu theo dõi nội dung các tuyên bố chung giữa VN và TQ, ta thấy là của Tập Cận Bình, biểu lộ lúc ông này sang thăm VN năm 2015.

Sau chuyến đi của ông Trọng, ý kiến của họ Tập trở thành “tuyên bố chung của hai nước”.

Theo tôi, tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã phạm những lỗi lầm vô cùng trọng đại, vì đã làm thương tổn nền độc lập của một quốc gia có chủ quyền.

Dân tộc VN chưa bao giờ mong muốn “chia sẻ vận mệnh chung” với nhân dân TQ hết cả. Chưa bao giờ “tiền đồ” đất nước VN lại có mối “tương quan” với TQ hết cả.

Tiền đồ là gì ? Nghĩa tiếng Hán là “con đường phía trước, tương lai tốt đẹp phía trước”.

Khi “chia sẻ vận mệnh chung”, có “chung một tương lai”, thì VN đã không còn “độc lập và tự chủ” trong những quyết định của mình (về tương lai) nữa.

Ý kiến này đã củng cố giả thuyết cho rằng, các lãnh đạo VN đã cam kết sáp nhập VN vào TQ theo tinh thần Hội nghị Thành Đô. Vấn đề là không biết khi nào.

Việc này đã phá vỡ “nguyên tắc độc lập tự chủ, bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau”, đã được khẳng định theo Tuyên bố chung về hợp tác toàn diện 2000.

Nó cũng đi ngược tinh thần Hiến chương LHQ “bình đẳng về chủ quyền giữa các quốc gia”. Đồng thời đi ngược lại nội dung Tuyên bố “5 điểm chung sống hòa bình” của TQ.


3/ Rex Tellerson, vị cứu tinh của VN?

Cùng khoảng thời gian TBT Nguyễn Phú Trọng đi TQ, vị Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Hoa kỳ tương lai, Rex Tellerson, ngày 11-1 nhân buổi điều trần tại Thượng viện, đã có những tuyên bố liên quan đến Biển Đông. Trong chừng mực, nếu ý kiến của ông này được thực hiện, hầu hết các vấn đề ở Biển Đông sẽ tự động hóa giải.

Theo ông Tellerson hành vi TQ xây dựng đảo ở Biển Đông tương đương với hành vi Nga chiếm Crimée. Ông này khuyến cáo Washington rằng phải gởi một tín hiệu cứng rắn đến Bắc Kinh : 1/ TQ ngưng ngay các việc xây dựng đảo. 2/ TQ không được tiếp cận các đảo này nữa.

Câu hỏi đặt ra, Hoa Kỳ có thẩm quyền để phát biểu (như vậy) cũng như có khả năng làm việc này hay không ?

Theo tôi là Hoa Kỳ có thể phát biểu những lời như vậy.

Tellerson so sánh các đảo Biển Đông (mà TQ chiếm và xây thành đảo nhân tạo) với Crimée. Dĩ nhiên ai cũng biết Crimée thuộc Ukraine. Nhưng các đảo (mà TQ đã chiếm) thì không ai biết chúng thuộc chủ quyền nước nào.

Có ba giả thuyết để Tellerson củng cố cho lập trường của mình.

Thứ nhứt, TQ không có chủ quyền ở các bãi đá, đơn giản vì họ xâm chiếm (của VN) năm 1988 bằng vũ lực. Ý kiến của Tellerson phù hợp tinh thần quốc tế công pháp.

Thứ hai, vịn vào yếu tố Mỹ có quyền quản lý các đảo ở Thái Bình dương do Nhật chiếm đóng trước Thế chiến thứ hai (theo một điều ước của Hội Quốc liên trước 1945). HS và TS thuộc Thái Bình Dương. Các đảo này bị Nhật chiếm đóng. Vì vậy Mỹ có quyền lên tiếng đòi quyền quản lý. Dựa trên lập luận này thì Mỹ có quyền “cấm” TQ léo hánh đến các đảo HS và TS.

Thứ ba, các đảo TS thuộc chủ quyền của Pháp. Vấn đề là Pháp “im lặng” về việc này từ sau khi rời VN cho đến nay. Trên nguyên tắc, Pháp tuyên bố chủ quyền ở TQ do “khám phá”. Không quốc gia nào phản đối việc này. Sẽ là một sự “đảo lộn” về địa chính trị nếu bây giờ Pháp lên tiếng đòi TS và Mỹ ủng hộ yêu sách này.

Về khả năng, câu trả lời bỏ ngõ.

TQ có dám “mất tất cả” những gì đã tạo dựng lên, từ thập niên 1980 đến nay, (có thể còn mất thêm nhiều thứ quí giá khác như vấn đề ly khai…) để khai chiến với Mỹ hay không ?

Và Mỹ có dám “chấn thương nội tạng lâu dài” để gây chiến tranh với TQ hay không ?



17-1

Tiếp nối status hôm qua về nghi vấn “tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng phạm tội phản quốc?” đăng hôm qua 16-1. Kết hợp những dữ kiện trong tuyên bố chung VN-TQ 2017 giữa Tập Cận Bình và Nguyễn Phú Trọng vừa rồi, tôi khẳng định đã có đầy đủ những bằng chứng để kết luận.

Bằng chứng củng cố TBT Trọng đã làm tổn thuơng sâu sắc nền độc lập, tự chủ của VN:

Tuyên bố chung 2017 ghi nhận hai bên đã ký “Thoả thuận hợp tác đào tạo cán bộ cấp cao giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc giai đoạn 2017-2020”.

Ta không thấy thỏa thuận nào tương tự đã ký ở thời kỳ Nông Đức Mạnh hay ở các đời TBT khác.

Dĩ nhiên VN không thể, vì không có khả năng và tư cách, “đào tạo cán bộ cấp cao” cho TQ. Mà chỉ có ngược lại, TQ đào tạo “cán bộ cấp cao” cho VN mà thôi.

Cán bộ cao cấp của đảng cũng là nhân sự lãnh đạo đất nước. Bởi vì điều 4 HP qui định đảng CSVN là “lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội”.

Thỏa thuận về “hợp tác đào tạo cán bộ cấp cao” đã cho phép đảng CSTQ can thiệp vào quá trình đào tạo nhân sự lãnh đạo “nhà nước và xã hội” của VN.

Đây là sự xúc phạm thô bạo đến chủ quyền, đến nền độc lập tự chủ của VN.

Hiến pháp qui định “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”. Thỏa thuận “đào tạo cán bộ cấp cao” của Nguyễn Phú Trọng đã tạo điều kiện cho người của TQ đào tạo nắm quyền lực của quốc gia trong tương lai.

Tuyến bố chung năm ngoái 2016, thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cũng đã mở đường cho VN lệ thuộc vào TQ.

Tuyên bố 2016 ghi nhận một "Thỏa thuận hợp tác về giáo dục giai đoạn 2016 - 2020 giữa Bộ Giáo dục và Đào tạo nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Bộ Giáo dục nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa”.

Suy luận tương tự, VN đâu có đủ tư cách và khả năng để áp đặt một kiểu mẫu “giáo dục” cho thanh thiếu niên TQ? Thỏa thuận vì vậy chỉ nhằm mục đích cho phép TQ đào tạo thanh thiếu niên VN mà thôi.

Chưa hết, vấn đề giải quyết tranh chấp ở Biển Đông, từ lâu các bên (có tranh chấp) đã đặt nền tảng trên Tuyên bố về ứng xử các bên ở Biển Đông (DOC). Vấn đề là VN đã ký kết riêng với TQ nhiều thỏa thuận khác, như “Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam-Trung Quốc” hoặc là “nhận thức chung quan trọng đạt được giữa Lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai nước”...

Làm các việc này có thể VN đã tạo sự nghi kỵ đối với các nước ASEAN khác, nhưng đồng thời VN cũng đã tự “song phương hóa” tranh chấp Biển Đông giữa VN và TQ.

Suy luận tương tự, VN đâu có khả năng, kinh tế cũng như quốc phòng, để có thể áp đặt TQ một giải pháp công bằng ?

Với những bằng chứng này, tôi cho rằng TBT Nguyễn Phú Trọng đã có âm mưu đưa VN vào vòng lệ thuộc với TQ.



22-1

Nhiều tháng trước tôi đã viết rằng từ nay “giới tranh đấu cho một nước VN tốt đẹp hơn” sẽ phải tranh đấu một mình. Tình hình thế giới có nhiều thay đổi. Vì vậy mọi người hãy cẩn thận.

Bởi vì, các nước Châu Âu có những “vấn đề” của họ cần giải quyết. Điều quan trọng hơn hết là vấn đề “di dân” và hệ lụy của nó là nạn “khủng bố gốc Hồi giáo”. Nước Anh rời khỏi khối Châu Âu là do mâu thuẩn với lập trường chung các nước trong khối (về quan niệm di dân). Từ vài năm nay, mỗi tháng trung bình vài ngàn người nhập vào Châu Âu, bằng những chiếc thuyền mong manh vượt Địa Trung Hải, hay những đoàn người đi bộ vượt biên giới Thổ… Dòng người “tị nạn” này đến từ các “quốc gia bị tan rã” do chiến tranh ở Bắc Phi và Trung Đông. Trong đoàn người đó có không ít “chiến sĩ của Nhà nước Hồi giáo” trà trộn vào. Mục tiêu của những người này là chờ dịp thuận tiện để làm “khủng bố”, theo kiểu đã xảy ra gần đây ở Paris, Bruxelles, Berlin...

Trước những đe dọa hỗn loạn xã hội, các giá trị phổ cập về nhân quyền ở các xứ Châu Âu trở thành những điều “thứ cấp”. Việc bảo vệ nhân quyền không còn quan trọng bằng các việc an ninh chống khủng bố. Người ta càng ích kỷ hơn khi thành phần di dân đông đảo sẽ chiếm lấy công ăn việc làm. Trong khi nhiều nước trong khối nền kinh tế không khởi sắc.

Về phía Mỹ, diễn văn của ông Trump đã nói rõ ý định. “Từ đây nước Mỹ là trên hết… Người Mỹ sẽ không áp đặt lối sống của mình lên cho ai (mà chỉ để nó tỏa sáng như tấm gương cho mọi người)…”

Rõ ràng là qua ông Trump, nước Mỹ đã tuyên bố từ nhiệm trong việc bảo vệ những “giá trị nền tảng chung” của nhân loại (như một bổn phận mà nước này đã đảm nhiệm liên tục từ sau Thế chiến Thứ hai đến nay). Ta chỉ hy vọng là Trump không bóp chết "Luật Nhân quyền Magnitsky" trong những ngày tới.

Tình hình VN sẽ có nhiều thay đổi. Qua bản “Tuyên bố chung” mà ông Trọng với Tập Cận Bình thỏa thuận vừa rồi, ta thấy rằng từ nay VN sẽ càng thêm “lệ thuộc” vào TQ, không chỉ từ ý thức hệ chính trị và kinh tế, mà còn về độc lập quốc gia. VN và TQ là một “cộng đồng chia sẻ một tương lai chung”,

Ý kiến của Trump qua bài diễn văn, như các ý định về thương mại, thuế, di dân, ngoại giao… nếu được chính phủ Trump thực hiện, sao cho lợi ích về phía “lao động và gia đình Mỹ”, thì hệ quả đưa tới là WTO cũng sẽ phá vỡ (cùng với nhiều thỏa thuận thương mại khác). Nước Mỹ sẽ “co cụm” lại theo chủ thuyết “biệt lập”. Dĩ nhiên phần còn lại của thế giới sẽ tìm cách “sống không cần Mỹ”.

Người ta định nghĩa sức mạnh của một nền kinh tế của một quốc gia là khả năng áp đặt “luật chơi” của nền kinh tế này lên các khu vực kinh tế còn lại.

Mỹ từ nhiệm thì hoặc là Nhật và các nước Châu Á khác sẽ “qui thuận” TQ. Đế quốc TQ sẽ thay thế Mỹ để đặt luật chơi, làm đầu tàu, “lãnh đạo”.

Hoặc là Nhật sẽ vận động tiếp tục TPP với các nước Úc, Tân Tây Lan, Singapour, một số nước Nam Mỹ… để tồn tại mà không phụ thuộc vào TQ.

Dầu thế nào thì viễn tượng “một nước VN tốt đẹp hơn” ngày càng u ám. VN sẽ không xây dựng được nền móng dân chủ vì không có tầng lớp trí thức trung lưu. Nhưng VN có thừa các yếu tố để một cuộc “cách mạng” bùng dậy. Đảng CSVN thừa biết việc này do đó mọi động thái của họ là đàn áp không nương tay bất kỳ phần tử nào đe dọa họ.



30-1

Nhiều người có vẻ vui mừng khi nghe tin Exxon-Mobil ký hợp đồng với VN để khai thác mỏ khí đốt Cá Voi Xanh, tức là lô 118, (từ bờ biển Đà Nẵng mở ra biển), trên bản đồ dầu khí của VN. Như bài viết của TS Trần Công Trục trên báo Giáo dục 27-1-2017 : “Hợp tác dầu khí Việt - Mỹ ở mỏ Cá Voi Xanh vừa bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam, vừa góp phần thực hiện Phán quyết Trọng tài”.

Phán quyết trọng tài ở đây chắc là phán quyết của Tòa ngày 12 tháng bảy năm 2016 về vụ Phi kiện TQ.

Theo tôi thì không có gì để bày tỏ vui mừng và tán dương đến mức đến như vậy. Theo GS Carlyle Thayer trả lời phỏng vấn trên RFA hôm 29-1, “toàn bộ khu vực” mỏ Cá Voi xanh chỉ cách bờ biển VN khoảng 80 cây số.

Tức là, mỏ khí đốt “Cá Voi xanh” hoàn toàn nằm ở giữa đường chữ U (tức đường lưỡi bò) và bờ biển VN. Sự im lặng của TQ (khi VN ký kết với Exxon-Mobil để khai thác lô 118) là có lý do.

Vùng biển EZZ (Kinh tế độc quyền) của VN khu vực này là 200 hải lý, tức khoảng 360 cây số (tính theo vĩ tuyến đi qua Đà Nẵng). Còn đường chữ U cách bờ biển VN (cũng khu vực này) khoảng 90 cây số.

Phán quyết Tòa trọng tài có nói là yêu sách “biển lịch sử” của TQ (tức đường chữ U) là vô căn cứ. Nhưng rõ ràng là phán quyết này không “ăn nhập” gì tới mỏ Cá Voi Xanh hết cả. Bởi vì nó nằm bên ngoài yêu sách “biển lịch sử” của TQ.

Vì vậy ý kiến của TS Trần Công Trục (trong bài báo) khi cho rằng “có thể xem như Trung Quốc đã âm thầm thừa nhận và chấp hành một phần Phán quyết Trọng tài liên quan đến đường lưỡi bò” là không có căn cứ.

Thái độ gay gắt của TQ đối với Ấn độ khi công ty dầu khí nước này khai thác lô 128 (thuộc bồn trũng Phú Khánh) cho ta biết TQ có “âm thầm thừa nhận và chấp hành” phán quyết hay không.

Vấn đề còn ở chỗ khác, quan trọng hơn nhiều lần. Là hàng triệu cây số vuông biển của VN (có chồng lấn với đường chữ U) đã bị nhìn nhận là “có tranh chấp” với TQ.

Bài viết hôm đầu năm của tôi đăng hôm kia là (hy vọng) mở ra cho VN một con đường pháp lý để tránh sức ép của TQ.

Nếu “học giả thượng thặng” của VN vẫn còn “ngộ nhận”, ngay cả ở sự việc hiển nhiên là mỏ Cá Voi Xanh nằm ngoài đường chữ U, thì không có hy vọng nào để VN có thể giữ được quyền lợi của mình.

Aucun commentaire:

Enregistrer un commentaire

Remarque : Seul un membre de ce blog est autorisé à enregistrer un commentaire.