mercredi 3 septembre 2014

Việt Nam thực sự “độc lập” ngày nào ?

Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tuyên bố độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945. Trước đó ông Bảo Đại đã trao Tuyên ngôn Độc lập cho ông Yokohama, Đại sứ Toàn quyền của Nhật tại Việt Nam, ngày 12 tháng 3 năm 1945.

Việt Nam thực sự “độc lập” ngày nào ? Để có thể trả lời chính xác, điều tiên quyết ta cần phải hiểu thế nào là “độc lập” ?

Độc lập, nghĩa thông thường là đứng một mình. “Kim kê độc lập” là thế võ bắt chuớc từ cách đứng “một chân” của con gà vàng. Trong chính trị, từ “độc lập” thường được sử dụng trong trường hợp các quốc gia thoát khỏi ách “thực dân - colonie” hay “chư hầu – suzeraineté”. Quốc gia được gọi là “độc lập” khi quốc gia đó không còn bị ràng buộc chính trị từ một thế lực ngoại bang.

Trong quốc tế công pháp, “độc lập” được hiểu như là “có chủ quyền – souveraineté” (phán quyết của trọng tài Max Huber, CIJ về tranh chấp đảo Palmas 4-4-1928). Quốc gia có chủ quyền là quốc gia độc lập (không bị ảnh hưởng từ một nước nào khác) trong vấn đề bang giao với các quốc gia khác. Tức là trên phương diện pháp luật (quốc tế), “độc lập” cũng có nghĩa là “chủ quyền”.

Cũng cần hiểu thêm ý nghĩa của từ « chủ quyền – souveraineté ». Từ này bắt nguồn ở cuộc cách mạng Pháp 1789. “Chủ quyền” được định nghĩa như là một « thẩm quyền tối thuợng, tuyệt đối và vô điều kiện ». “Quyền” ở đây là “quyền” của “quyền lực – pouvoir, power”, chứ không phải “quyền” của “droit, right” (như “quyền sở hữu”). Trên nguyên tắc dân chủ, « chủ quyền » (quyền lực tối thuợng) thuộc về nhân dân. Theo nguyên tắc này, không một chủ thể bất kỳ, hay một cá nhân nào đó có thể hành sử quyền hành mà không bắt nguồn một cách minh bạch từ đây (nhân dân).

Tức là, điều kiện để một quốc gia độc lập (có chủ quyền) là: 1/ quyền lực quốc gia bao trùm lên toàn lãnh thổ quốc gia. Quyền lực này “tối thuợng”, có tính “độc quyền”, không chịu ảnh hưởng hay áp lực từ bất kỳ một quốc gia nào. 2/ Độc lập trong vấn đề bang giao với các nước khác, tức được các quốc gia khác nhìn nhận với tư cách là “quốc gia”.

Trong quốc tế công pháp, vào thời kỳ chuyển tiếp sau Thế chiến thứ II, người ta nhìn nhận tư cách pháp nhân “từng phần – partiel” của một quốc gia chỉ trên vấn đề lãnh thổ. Thí dụ, sau Thế chiến II, quần đảo Lưu Cầu của Nhật do Hoa Kỳ quản lý. Việc quản lý của Hoa Kỳ chỉ thuần túy ở mặt quân sự, còn về “chủ quyền lãnh thổ” vẫn thuộc về Nhật. Tức là người dân tại đây vẫn mang quốc tịch Nhật. Thí dụ khác, trong Hội nghị San Francisco 1951, Quốc Gia Việt Nam được tham gia với tư cách là một “quốc gia độc lập” có tuyên chiến với Nhật. Nhưng thật ra tư cách pháp nhân của “Quốc gia Việt Nam” vào thời điểm này chỉ độc lập từng phần, tức chỉ có “chủ quyền” về “lãnh thổ”, trong khi về quân sự và ngoại giao thì bị hạn chế do việc ảnh hưởng của Pháp.

Một ghi nhận thú vị: Người Việt Nam thường hay lẫn lộn “chủ quyền lãnh thổ”, tức “thẩm quyền của quốc gia trên vùng lãnh thổ” với “quyền sở hữu về lãnh thổ”. Chữ “quyền” trong “thẩm quyền” là “quyền”  của “quyền lực”, chứ không phải là “quyền” của “quyền sở hữu”. Do vậy một số các học giả VN thuộc Quĩ Nghiên cứu Biển Đông (qua các lần phỏng vấn trên BBC) nhấn mạnh rằng “chủ quyền lãnh thổ thuộc về quốc gia”. Điều này hoàn toàn sai. “Chủ quyền” ở đây là “quyền lực tối thuợng”, chứ không phải là “quyền sở hữu”. “Chủ quyền” lãnh thổ, tức “quyền tối thuợng” của quốc gia trong vùng lãnh thổ đó, dĩ nhiên phải thuộc về nhân dân.

Khi hiểu “độc lập” và “chủ quyền” như vậy, thì các tuyên bố của ông Bảo Đại ngày 12 tháng 3 năm 1945, hoặc của ông Hồ ngày 2 tháng 9 năm 1945, tuyên bố nào phù hợp với hoàn cảnh của Việt Nam ? (Tức là VN có thực sự “độc lập” vào thời điểm đó hay chưa ?)

Nhìn lại sơ lược về lịch sử vào các thời điểm đó là điều cần thiết.

Ngày 10 tháng 3 năm 1945 Nhật đảo chánh Pháp, chiếm Đông Dương. Đại diện Nhật Hoàng là ông Yokohama tiếp xúc với ông Bảo Đại đề nghị trả lại độc lập cho VN. Ngày 12 tháng 3 năm 1945 Bảo Đại trao bản tuyên ngôn độc lập cho ông Yokoyama. (Bản Tuyên ngôn ký ngày 27 tháng giêng năm Bảo Đại thứ 20). Bảo Đại tuyên bố vô hiệu lực các hiệp ước bảo hộ (mà nhà Nguyễn) đã ký trước đây với Pháp. Quốc gia tên là « Đế Quốc Việt Nam » ra đời. Ngày 17-4-1945 chính phủ Trần Trọng Kim thành lập.

Câu hỏi đặt ra, Tuyên ngôn của Bảo Đại có thật sự là “tuyên ngôn độc lập”, với một nước VN thật sự độc lập ?

“Tuyên ngôn độc lập” của Bảo Đại, trên phương diện quốc tế công pháp, là một “tuyên bố đơn phương”. Tuyên bố này có giá trị pháp lý hay không tùy thuộc vào hai yếu tố (đã ghi trên).

a)    Ông Bảo Đại có đầy đủ “quyền lực tối thuợng” (và độc quyền sử dụng quyền lực) trên toàn lãnh thổ Việt Nam hay không ?

Câu trả lời là không. Phía thực sự nắm quyền lực là quân chiếm đóng trong khi Nam kỳ chủ quyền thuộc về Nhật.

b)   Tuyên bố của Bảo Đại có được sự nhìn nhận của các quốc gia khác hay không ?.

Trên thực tế tuyên bố này chỉ có Nhật thừa nhận. Điều này dễ hiểu, vì Nhật cần sự dứt khoát (về pháp lý) giữa VN và Pháp để đưa VN vào vòng ảnh hưởng của mình.

Việc nhìn nhận của Nhật không đủ để bảo kê cho VN độc lập (sau khi Nhật đầu hàng), vì lẽ : phe chiến thắng (Đồng Minh) không nhìn nhận bất kỳ một chính quyền nào do Nhật dựng lên ở các thuộc địa của Nhật. Điều này cũng có lợi cho VN sau này. Bởi vì, nếu quốc gia tên gọi “Đế quốc Việt Nam” của Bảo Đại được quốc tế nhìn nhận, thì quốc gia này sẽ đứng chung với phe Trục của Nhật, Đức, Ý… trở thành các quốc gia thù nghịch với Đồng Minh. Sau Thế chiến II quốc gia này sẽ có cùng số phận với các nước thua trận.

Tuyên ngôn độc lập của Bảo Đại vì vậy chỉ có ý nghĩa về biểu tượng, về lịch sử. Nó không có giá trị về pháp lý cũng trên thực tế. (Bảo Đại chưa bao giờ thể hiện quyền lực của mình trên toàn cõi quốc gia có tên là Đế quốc Việt Nam).

Còn tuyên ngôn ngày 2 tháng 9 của ông Hồ ?

Ngày 15 tháng 8 năm 1945, Nhật tuyên bố đầu hàng Đồng Minh. Việt Nam có một khoảng trống quyền lực. Thừa dịp, ngày 19 tháng 8 năm 1945 Mặt trận Việt Minh làm « cách mạng », lập chính phủ « lâm thời » tại Hà Nội. Ngày 25 tháng 8 Bảo Đại giao ấn, kiếm cho Trần Huy Liệu, đại diện Ủy ban giải phóng, tuyên bố thoái vị. Quốc gia gọi là « Đế Quốc Việt Nam » kết thúc và quốc gia « Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa » ra đời.

Ngày 2 tháng 9 năm 1945 ông Hồ đọc Tuyên ngôn Độc lập.

Có hai chi tiết thú vị về ngày 2 tháng 9 năm 1945.

Thứ nhất là thời điểm. Ngày 2 tháng 9 được chọn không hề do tình cờ mà là kết quả tính toán sâu xa của ông Hồ Chí Minh (và ban tham mưu, có lẽ là từ các viên chức OSS Hoa Kỳ mà ông Hồ có cộng tác). Bởi vì ngày 2 tháng 9 năm 1945 cũng là ngày đế quốc Nhật ký văn kiện đầu hàng Đồng Minh trên chiếc Thiết giáp hạm USS Missouri của Mỹ đang neo trong vịnh Tokyo.

Thứ hai, nội dung bản Tuyên ngôn dẫn nhiều ý tứ từ bản Tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ.

Từ hai chi tiết này, ta có thể cho rằng Ông Hồ (được sự gợi ý của các chuyên viên OSS), khi đọc tuyên ngôn là có mục đích đưa tín hiệu đến Mỹ.

Công việc không thành, có lẽ là do tình hình chính trị VN chưa được sáng tỏ.

Việc giải giới quân Nhật tại VN do hai lực lượng Đồng Minh, phía Bắc vĩ tuyến 16 thuộc quyền quân Trung Hoa (và Hoa Kỳ), phía Nam thuộc quyền của Anh. Trong khi quân Pháp còn giữ chủ quyền tại Nam Kỳ đồng thời muốn thiết lập lại quyền lực của đế quốc thực dân.

Tuyên ngôn độc lập của ông Hồ, trên phương diện pháp lý cũng như trên thực tế, không thể hiện được một quốc gia Việt Nam độc lập.

VNDCCH không thế “kế thừa” quốc gia Đế quốc VN (khi nhận ấn kiếm từ Bảo Đại), vì quốc gia này không được quốc tế nhìn nhận.

Ông Hồ và chính phủ của ông không hề thể hiện “quyền lực” trên toàn lãnh thổ Việt Nam.

Quốc gia VNDCCH không được một quốc gia nào công nhận.

Quốc gia VNDCCH của ông Hồ còn một khuyết điểm lớn khác, đe dọa tính chính thống của ông Hồ và những người cộng tác. Đó là việc ngày 6 tháng 3 1946, ông Hồ ký với Pháp một hiệp ước gọi là « hiệp ước sơ bộ ». Theo đó Pháp công nhận VN là một nước « tự do » nằm trong Liên bang Đông dương và Liên hiệp Pháp.

Hiệp ước sơ bộ không hề nói một nước Việt Nam “độc lập” mà chỉ nói một nước « Việt Nam tự do » thuộc « Liên bang Đông dương » và khối « Liên hiệp Pháp ». Tức ông Hồ chấp nhận « quốc gia » Việt Nam, không bao gồm Nam Kỳ mà thực chất là một « tiểu bang » hay « xứ », nằm trong Liên bang Đông Dương, có qui chế pháp lý tương đương với xứ Bắc Kỳ.

VNDCCH chỉ được một số nước công nhận sau này, khi các thế lực cộng sản thắng thế tại Trung Hoa cũng như các nơi khác trên thế giới. Lúc đó ông Hồ cũng chỉ kiểm soát được phân nửa đất nước và phân nửa dân chúng. Tức thẩm quyền quốc gia về lãnh thổ của nước VNDCCH chỉ áp dụng cho ½ đất nước. Việc này, theo công pháp quốc tế, chỉ thể hiện một quốc gia VNDCCH “chưa hoàn tất – partiel”.  

Trường hợp ra “tuyên ngôn độc lập” như ở VN không phải là ngoại lệ. Các nước trong khu vực, như Nam Dương, cũng thừa cơ hội Nhật đầu hàng ra tuyên ngôn độc lập, ngày 17-8-1954. Nhưng việc này cũng không được nước nào nhìn nhận. Khi Anh vào tiếp quản, các lực lượng “cộng hòa” tại đây đi vào “kháng chiến”. Trong khi Hòa Lan thì chuẩn bị lực lượng mục đích dành lại thuộc địa của mình. Nam Dương thực sự độc lập khi Anh rút lui (vì không muốn đổ máu cho quyền lợi của Hòa Lan) ngày 27-12-1949 qua sự nhìn nhận của Hòa Lan (Nam Dương độc lập).

Tuyên Ngôn độc lập của ông Hồ, một tuyên ngôn “không dựa trên thực tế”. Việt Nam không phải là một nước độc lập.

Theo tôi, tên quan điểm quốc tế công pháp, ngày thật sự độc lập của quốc gia Việt Nam là ngày mà thẩm quyền quốc gia được phủ trùm lên toàn lãnh thổ đất nước Việt Nam. Thẩm quyền này độc quyền và “tối thuợng” được sự nhìn nhận của cộng đồng các nước trên thế giới.

Có thể đó là ngày ngày 8 tháng 3 năm 1949, ngày ký kết ước Elysée, Pháp trả Nam Kỳ lại cho VN đồng thời nhìn nhận một nước Việt Nam Độc lập và thống nhất. Ngày 27-5-1948 Quốc gia Việt Nam thành hình với Chính phủ Trung ương Lâm thời Việt Nam được thành lập do Nguyễn Văn Xuân làm thủ tướng, Bảo Đại làm « Hoàng Đế, Quốc trưởng ». Nội dung kết ước Elysée có nhiều điều cần bàn cãi, nhưng điểm chính là Pháp trả lại miền Nam cho VN (thay vì cho Kampuchia), đồng thời công nhận VN « độc lập » và « thống nhứt ».

Cũng có thể là ngày 30-4-1975. Ngày này có đủ các yếu tố để trở thành ngày độc lập: thẩm quyền quốc gia bao trùm trên toàn lãnh thổ. Thẩm quyền này “độc quyền” và “tối thuợng”. Tuy nhiên, lúc đó cộng đồng thế giới vẫn chưa nhìn nhận VN là một nước “độc lập”.


Ngày “hiệp thuơng thống nhất đất nước” 21-11-1975 (hoặc ngày 3-7-1976 khai sinh nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam) cũng đều có thể là ngày độc lập thật sự. Từ những ngày này, quốc tế nhìn nhận VN là một nước độc lập, thống nhất và có chủ quyền toàn vẹn.

vendredi 22 août 2014

Nhân 110 năm ngày sinh nhật Đặng Tiểu Bình

Đặng Tiểu Bình có thể là một thiên tài, một kiến trúc sư lớn, xây dựng thành công mô hình « xã hội chủ nghĩa theo bản sắc Trung Hoa », giúp đất nước này thoát cảnh nghèo đói và chậm tiến. Nhưng trên quan điểm chiến lược quân sự, họ Đặng có nhiều khuyết điểm. Ông không phải là một nhà chiến lược quân sự có tài. Thất bại liên tục hai cuộc chiến biên giới 1979 và 1984 trước một nước nhỏ là Việt Nam đã chứng minh điều này.

1/ Thất bại về chiến lược quân sự của Đặng Tiểu Bình :

Lịch sử nhân loại cho ta thấy đường biên giới giữa hai quốc gia được thành hình do kết quả của « tương quan lực lượng » giữa hai bên. Đối với nhiều học giả Trung Quốc, đường biên giới miền bắc VN, do Pháp và nhà Thanh hoạch định theo các công ước 1887 và 1895, là một đường biên giới « bất bình đẳng », gây thiệt hại cho TQ. Những người này cho rằng công ước được ký kết trong lúc nhà Thanh bị uy hiếp, nhà Thanh phải « nhượng » VN lại cho Pháp mà không có sự trao đổi (về đất đai) nào. Trước chiến tranh (Pháp-Trung 1884) xảy ra, hai bên Pháp và nhà Thanh đã có thương lượng về số phận của Việt Nam. Năm 1883, theo tinh  thần một kết ước giữa Lý Hồng Chương và viên Đặc sứ Toàn quyền Pháp tại Bắc Kinh là ông Bourée, Pháp nhìn nhận đường biên giới hai bên là một đường vẽ ở khoảng giữa vĩ tuyến 21 và 22 (từ Lào Cai ra biển), trong khi phía nhà Thanh đòi hỏi biên giới đi qua tỉnh Ninh Bình. Tuy nhiên, sau khi chính phủ Ferry lên nhậm chức ở Paris, kết ước này bị hủy bỏ, ông Bourée (cho là bị Lý Hồng Chương mua chuộc) bị bãi chức và triệu hồi.

Cuộc chiến 1979 cho thấy « mục tiêu quân sự » của họ Đặng có thể là xác lập lại đường biên giới Việt-Trung, theo tinh thần của kết ước Bourée – Lý Hồng Chương. « Mục tiêu quân sự » của họ Đặng là chiếm các vùng đất đã hoạch định : từ Lào Cai ra biển. (Tại vùng Lạng Sơn, biên giới theo sông Kỳ Cùng). Các « mũi nhọn » chiến lược của các đạo quân TQ trên vùng biên giới cho ta thấy điều này.

Thất bại cuộc chiến 1979, cũng là thất bại chua cay của Đặng Tiểu Bình. Chua cay vì VN bị tấn công cùng lúc trên hai mặt trận : phía bắc và phía tây nam. Toàn bộ lực lượng của VN đã dồn về biên giới Kampuchia, biên giới phía bắc hầu như bỏ ngỏ. Quân TQ (với gần 300.000 quân cùng xe tăng đại pháo), vậy mà không hoàn tất được mục tiêu quân sự. Quân TQ chịu tổn thất lớn và đã mất quá nhiều thời gian (gần một tháng) để chiếm Lạng Sơn, lúc Liên Xô đã quyết định vào cuộc. TQ không thể ở lại các vùng đất đã chiếm, vì lo ngại Liên Xô can thiệp, trong khi quân VN vẫn còn ở lại Kampuchia (cho đến cuối thập niên 80).

Lý do thất bại, họ Đặng đã không nghe lời các tham mưu, có kinh nghiệm trên thực địa. Những người này khuyên nên chiếm một vùng đất giới hạn mà VN không thể chiếm lại được (như huyện Trùng Khánh) hay khu vực biên giới Thanh Thủy.

Thất bại lần thứ hai, chiến dịch biên giới Vị Xuyên năm 1984. Cuộc chiến này cũng khốc liệt, dài dẵn cho đến cuối năm 1989, nhưng trong dân chúng (cũng như trước quốc tế), sự xung đột này bị hai bên dấu nhẹm.

Mục tiêu quân sự của phía TQ có thể là thiết lập lại đường biên giới khu vực Hà Giang (xã Thanh Thủy) theo đúng như tinh thần công ước 1887 và công ước bổ túc 1895.

Nội dung hai công ước này, biên giới trong khu vực là con suối Thanh Thủy (chứ không phải là đường phân thủy, qua các đỉnh núi (gồm Lão Sơn...) như trên bản đồ hiện nay. Có thể tham khảo sơ lược tại http://nhantuantruong.blogspot.fr/2014/07/nhan-120-nam-chien-tranh-trung-nhat.html ).

Sau nhiều năm xung đột, phía TQ vẫn thua. Thua vì không đạt được mục tiêu quân sự. Đường biên giới hiện nay (có thay đổi chút đỉnh) nhưng vẫn không phải là con suối Thanh Thủy, như mong muốn của họ Đặng.

(Tác giả sẽ trở lại vài dịp khác để trình bày vì sao biên giới khu vực xã Thanh Thủy (huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà giang) không phải là con suối Thanh Thủy như đã qui định của các công ước Pháp Thanh 1887 và 1895.)

2/ Về di sản « lý thuyết và thực tiễn » của Đặng Tiểu Bình trong vấn đề phát triển Trung Quốc :
Theo cuốn « Từ lý luận đến thực tiễn » của tác giả Trần Tiên Khuê, các định hướng chính của họ Đặng là xây dựng quốc gia Trung quốc thành « một nước phát triển toàn diện », một quốc gia « sáng lập tự do dân chủ xã hội chủ nghĩa », với các tiêu chí như sau :

« Mục tiêu của Trung Quốc là trở thành một nước nêu gương phát triển toàn diện, một nước sáng lập tự do dân chủ xã hội chủ nghĩa.
« Thứ nhất, làm một nước hòa bình và phát triển, không bành trướng xâm lược, không cướp đoạt đối với bên ngoài, dựa vào sức mình và lớn mạnh.
« Thứ hai, sáng lập tự do dân chủ xã hội chủ nghĩa, sáng tạo văn hóa, sáng tạo văn minh nước lớn xã hội chủ nghĩa kiểu mới.
« Thứ ba, không yêu cầu người khác tuân theo y nguyên mô hình phát triển của mình …
« Thứ tư, Trung Quốc cần có cống hiến đáng kể đối với nhân loại, nhất là cần chủ trì công bằng, chủ trì chính nghĩa, ra sức giúp đỡ các nước vừa và nhỏ phát triển, không đòi hỏi bất cứ điều kiện gì. »

Hiển nhiên cái gọi là « xã hội chủ nghĩa theo bản sắc Trung Quốc » hiện nay, nguyên thủy bắt nguồn từ ý kiến « tự do dân chủ xã hội chủ nghĩa » của Đặng Tiểu Bình. Các tư tưởng « nền tảng » của họ Đặng, như về « miêu luận », về « dò đá qua sông »… tựu trung ở việc giải thích thuần túy lý thuyết, sao cho việc xây dựng Trung Quốc (bằng thể thức cũng như vốn liếng, khoa học kỹ thuật của tư bản) hài hòa, không bị mâu thuẩn với chủ thuyết nền tảng lập quốc « xã hội chủ nghĩa » của Mao Trạch Đông.

Họ Đặng đưa ra những khẩu hiệu « phát triển », « hòa bình »… nhằm để trấn an các nước (giúp đỡ Trung Quốc như Mỹ, Nhật, Nam Hàn…) cũng như các nước lân bang để được sự trợ giúp về tư bản và kiến thức khoa học lỹ thuật. Việc này họ Đặng đã thành công. Trung Quốc hiện nay phát triển vượt mức, trở thành cường quốc thứ hai về kinh tế trên thế giới. Trao đổi hàng hóa giữa Trung quốc với Hoa Kỳ, Nhật, Nam Hàn, các nước Tây Âu... chiếm phần lớn lưu lượng hàng hóa trên thế giới. Trung Quốc trở thành « đầu tàu » lôi kéo sự phát triển kinh tế của cả thế giới.

Tuy nhiên trong nội bộ của Trung Quốc, các khẩu hiệu « Trung Quốc hòa bình quang phục », « Trung Quốc hòa bình quật khởi »… được loan truyền. Dĩ nhiên, việc « quang phục », tức lấy lại (một cách vinh quang) những gì đã mất, thì không thể thực hiện bằng phương thức « hòa bình ».

Chi phí lớn nhất của Trung Quốc hiện nay là quân sự. Ngân sách dành cho quốc phòng của nước này đứng thứ nhì trên thế giới, (gần hai trăm tỉ đô la), chỉ sau Hoa Kỳ. Lãnh đạo Bắc Kinh không giải thích được lý do vì sao phải chi tiêu lớn lao cho quân sự (trong thời bình), như Mỹ phải đối phó với các chiến trường Trung Đông, về các đe dọa khác trên thế giới. Trung Quốc không bị đe dọa bởi thế lực nào.

Nỗ lực của Trung Quốc dành cho « quốc phòng » chỉ có hai ý nghĩa : một là chuẩn bị cho chiến tranh, hai là răn đe không cho chiến tranh xảy ra. Ngoài ra là vấn đề Đài Loan.

Vấn đề « thống nhất đất nước », đối với đảng lãnh đạo, là thánh thức lớn. Đảng Cộng sản Trung quốc có trách nhiệm thống nhất đất nước, nhằm khẳng định tính chính thống (là một đảng lãnh đạo chứ không phải là đảng cách mạng).

Đài Loan có vai trò quan trọng cho TQ về kinh tế. Nếu không nói quá, Đài Loan là động cơ của phát triển kinh tế của TQ ngay từ những ngày đầu mở cửa. Đầu tư ở các tỉnh Quảng Đông và Phúc Kiến phần lớn đến từ tài phiệt Đài Loan. Về địa lý chiến lược, Đài Loan giữ vai trò cửa ngõ để hải quân TQ đi ra « biển xanh » (để có thể « đối đầu » với hải quân các cường quốc Mỹ, Tây Âu...)

Về địa lý chiến lược, phía Đông, Trung Quốc bị kềm hãm trong vùng nước cạn của Đông Hải, bởi bức trường thành thiên nhiên là quần đảo Nansei (Nam Tây) của Nhật, chạy dài từ cực Nam của đảo Kyushu cho đến phía Bắc đảo Đài Loan. Phía Đông và Đông Nam, Trung Quốc bị ngăn chận bởi Đài Loan và Phi. Phía Nam, tức biển Đông theo tên gọi của Việt Nam, cũng là vùng biển cạn, trong đó còn có khoảng 130 đảo san hô rải rác trong một vùng 100km chiều ngang và 200km chiều dài, bao bọc bởi các nước Việt Nam, Phi, Nam Dương, Mã Lai và Brunei. Trong các vùng biển cạn, cận bờ và có nơi đầy cạm bẫy đá và san hô, tàu ngầm không thể hoạt động hữu hiệu.

Trung Quốc chỉ có thể trở thành « đại quốc » nếu tàu ngầm chiến lược của Trung Quốc ra vào an toàn vùng biển sâu và rộng của Thái Bình Dương. Việc này chỉ có thể thực hiện nếu Đài Loan và Biển Đông nằm dưới kiểm soát của Trung Quốc.

Trong khi đó, đà phát triển của TQ khiến TQ trở thành một nước « đói » năng lượng. Vùng biển Đông, các vùng trầm tích chạy dọc theo bờ biển VN, các bãi Tư Chính, Vũng Mây, Phúc Tần, Phúc Nguyên… trên thềm lục địa VN, hay vùng bãi Cỏ Rong thuộc quần đảo TS, hay là vùng thềm lục địa chung quanh quần đảo Điếu Ngư, là những vùng có thể có trữ lượng dầu khí. Mặt khác, các nơi đó đều là các ngư trường quan trọng trên thế giới. Trước đây, Tưởng Giới Thạch (khi vạch bản đồ chữ U) đã xem đó là « không gian sinh tồn – espace vitale » của Trung Quốc.

Tiêu chí họ Đặng, « hòa bình và phát triển, không bành trướng xâm lược, không cướp đoạt đối với bên ngoài, dựa vào sức mình và lớn mạnh », có thể thực hiện được, nhưng không thể bằng các phương pháp (diều hâu) của các thế hệ kế thừa, mà nạn nhân là Việt Nam và Phi, như đã thấy hiện nay.

Hành động cho đấu thầu 9 lô trên thềm lục địa VN năm ngoái, cho đặt giàn khoan 981 mới đây, hay các việc cắt cáp tàu nghiên cứu của VN, trong hải phận của VN, hay việc chiếm bãi cạn Scarborough của Phi...

Hiện nay Trung Quốc đã ra mặt tranh chấp (một cách gay gắt) với Nhật về chủ quyền quần đảo Điếu Ngư, đơn phương tuyên bố thành lập « vùng nhận diện phòng không » (ADIZ) trên biển Hoa Đông. Trong Biển Đông, lãnh đạo Bắc Kinh đã thể hiện những hành vi bành trướng về lãnh thổ (và hải phận), gây hấn đối với láng giềng chung quanh (Việt Nam, Phi, Mã Lai…) làm đảo lộn trật tự đã thiết lập từ Thế chiến II đến nay.

Như thế mục tiêu của việc gia tăng lớn lao ngân sách quốc phòng của Trung Quốc nhiều sác xuất là chuẩn bị cho chiến tranh (chứ không nhằm giải phóng Đài Loan). Lãnh đạo Bắc Kinh không thể phục hồi những gì (lãnh thổ) đã mất (một cách vinh quang) bằng phương pháp hòa bình.

Các việc này cho thấy hậu duệ của họ Đặng đã không xây dựng Trung Quốc thành một « đại quốc » theo tiêu chí « hòa bình » của Đặng Tiểu Bình, mà theo tư tưởng xâm lược Đại Hán.

Đặng Tiểu Bình cũng nói nhiều về « nước lớn - đại quốc », mà Trung quốc hướng tới : « nước lớn xã hội chủ nghĩa kiểu mới ». « Xã hội chủ nghĩa kiểu mới » tức là « tự do dân chủ xã hội chủ nghĩa », nay gọi là « xã hội chủ nghĩa theo bản sắc Trung Quốc » đã nói ở trên.

Các thế hệ hâu duệ của học Đặng đã xây dựng đất nước đến đâu rồi ?

Quan niệm về « nước lớn – đại quốc » theo Đặng Tiểu Bình là :

 « Một đại quốc phải hội đủ các điều kiện : Thứ nhất, kinh tế phát triển hàng đầu thế giới. Thứ hai, chiến lược quân sự ở địa vị tiên phong. Thứ ba, tuyên truyền tư tưởng văn hóa có thể ảnh hưởng đến toàn cầu. Thứ tư, có ảnh hưởng chính trị lớn nhất thế giới. »

Có thể trong chừng mực Trung Quốc hiện nay đã trở thành một « đại quốc » về kinh tế và quân sự. Nhưng hai tiêu chí về văn hóa và chính trị vẫn còn là thánh đố.

Từ thời Giang Trạch Dân, người kế thừa trực tiếp từ Đặng Tiểu Bình, ta đã biết đến các khẩu hiệu xây dựng Trung quốc : « hòa bình phát triển » và xây dựng « nhà nước pháp trị xã hội chủ nghĩa » (đề xướng năm 1997). Ở Hồ Cẩm Đào ta biết đến khẩu hiệu « xã hội hài hòa ».

Nguyên nhân của khẩu hiệu « xã hội hài hòa » do từ những khuyết tật xã hội Trung Quốc. Phát triển ở đây không đồng đều (hài hòa). Chỉ một phần nhỏ dân chúng hưởng thành quả của việc phát triển thần kỳ về kinh tế, trong khi phần lớn dân chúng còn lại sống trong cảnh bất công và nghèo khó.

Thời kỳ của Giang và Hồ đã không làm được gì để thay đổi hình ảnh (xấu) của TQ trên thế giới. Tức là phương diện văn hóa và chính trị vẫn là con số âm. Mặc dầu lãnh đạo Bắc Kinh cố gắng xây dựng những học viện Khổng Tử ở các nước nhằm loan truyền văn hóa Trung Hoa, nhưng thành quả vẫn chưa thấy.

Hiện nay Tập Cận Bình, người tự xưng là « hậu duệ » của Đặng Tiểu Bình, « kế thừa » di sản của ông này, đưa đề cương « Trung Hoa Mộng – giấc mơ Trung Hoa » (như để cạnh tranh với « giấc mơ Hoa Kỳ » của những người muốn đến Mỹ quốc để tìm cơ hội). Nhưng điều mà là họ Tập cố gắng thực hiện (trong lúc này) là xây dựng « nhà nước pháp trị xã hội chủ nghĩa », qua các việc bài trừ tham nhũng trong hàng ngũ lãnh đạo, nhằm chấn chỉnh lại xã hội Trung Quốc.

Tập Cận bình đã nhìn thấy yếu điểm của Trung Quốc và muốn sửa chữa. Hiện nay nỗ lực xây dựng « nhà nước pháp trị xã hội chủ nghĩa » của họ Tập bị đồng hóa với việc thanh trừng. Điều này cho thấy, « giấc mơ Trung Hoa » của họ Tập, có thể trở thành ác mộng cho chính ông, nếu việc cải cách thất bại.

Tiêu chí của Đặng Tiểu Bình về « nước lớn » chỉ có thể thực hiện, nếu văn hóa và chính trị Trung Quốc, tức là kiểu mẫu phát triển của Trung Quốc, « quyến rũ » được các nước khác. Mà việc này chỉ có thể hiện thực nếu nhà nước Trung Quốc là một nhà nước pháp trị (thật sự), đảng lãnh đạo là một đảng « cầm quyền » chứ không phải là một đảng « cách mạng ». Việc phát triển phải hài hòa, đem lại phúc lợi cho toàn thể người dân trong nước mà không loại trừ bất kỳ thành phần dân chúng nào.

Lúc đó Trung Quốc mới có thể « cống hiến cho nhân loại, chủ trì công bằng, chủ trì chính nghĩa, ra sức giúp đỡ các nước vừa và nhỏ phát triển... » như là nước Mỹ hiện nay.

Con đường đi lên « đại quốc » của Trung Quốc được Đặng Tiểu Bình khẳng định :

« không theo đường « bá quyền thực dân » của Bồ Đào Nha hay Hòa Lan ở thế kỷ thứ 16 và 17. Con đường của Trung Quốc cũng không theo bá quyền lãnh đạo tự do kiểu Mỹ hay bá quyền xã hội chủ nghĩa của Liên Xô, đặc biệt là sự thống nhất bá quyền quân sự với bá quyền hình thái ý thức ».

Nhưng hành vi của các hậu duệ của họ Đặng lại phủ nhận tiêu chí của Đặng tiểu Bình.

Trường hợp Dương Khiết Trì trong một buổi họp hồi năm ngoái giữa các lãnh đạo ASEAN và bà ngoại trưởng Clinton, thực sự là thái độ « bá quyền thực dân ». Việc dọa nạt các nước khác (ASEAN) là « các tiểu quốc – nước nhỏ » là hành vi của một  « thái thú », bất chấp nguyên tắc cơ bản của LHQ là sự bình đẳng giữa các nước. Ngoài ra, gần đây, cũng ông này, sang VN nhân vụ giàn khoan 981. Thái độ của ông này đối với VN rõ ràng là thái độ hách dịch giữa « thượng quốc » với « chư hầu » chứ không phải là sự giao thiệp giữa hai quốc gia bằng hữu. (Tuy vậy việc này là do phía VN, vì đồng hóa quan hệ quốc gia với « việc gia đình », hơn là từ phía TQ).

Trong khi họ Đặng (cũng như các lãnh đạo khác của TQ) ảnh hưởng sâu đậm lý thuyết « Địa Chiến lược – Không gian sinh tồn » của Friedrich Ratzel (sách gối đầu của Hitler). Mục tiêu đi tới « đại quốc » của họ Đặng (và hậu duệ) vì thế cũng dựa trên lý thuyết này. (Xem lại ở đây : http://nhantuantruong.blogspot.fr/2014/06/thoat-trung.html )

Nếu như thế, ta cần phải hiểu tư tưởng của họ Đặng « ở giữa hai hàng chữ », tức nói vậy mà không phải vậy. Tức là tiêu chí « nước lớn » : « một nước hòa bình và phát triển, không bành trướng xâm lược, không cướp đoạt đối với bên ngoài, dựa vào sức mình và lớn mạnh » chỉ là chót lưỡi đầu môi.



mercredi 13 août 2014

TÌM HIỂU Ý NGHĨA TẤM BẢN ĐỒ CHÍN GẠCH (CHỮ U) CỦA TRUNG QUỐC QUA MỘT VÀI KINH NGHIỆM LỊCH SỬ

TÌM HIỂU Ý NGHĨA TẤM BẢN ĐỒ CHÍN GẠCH (CHỮ U) CỦA TRUNG QUỐC QUA MỘT VÀI KINH NGHIỆM LỊCH SỬ

(Trương Nhân Tuấn, 1 tháng 6 năm 2009, talawas)

Trong quá khứ đã có nhiều lần Trung Quốc lấy được đất của nước ta, do vua quan VN tấn cống theo lối mua chuộc để được yên thân hay do lòng tham của Đại Hán. Nếu chỉ nhắc lại những lần lấn chiếm đất đai của Việt Nam do lòng tham, những vùng đất có giá trị về kinh tế và chiến lược, lý do để TQ biện hộ cho việc chiếm đất hình như trước sau như một : lấy tên một vùng đất nào đó của TQ đặt cho các vùng đất của VN, sau đó đem quân sang chiếm. Các vụ lấn đất, giành đảo, chiếm biển của VN xảy ra trong thế kỷ 20 cũng bắt đầu tương tự như vậy.

Về ý nghĩa của vùng biển chữ U, được vẽ bởi 9 gạch của TQ, chiếm phần lớn vùng biển của VN, bao gồm đến 80% Biển Đông là có ý nghĩa như thế nào ? Dựa trên lý do nào mà phía TQ khẳng định vùng biển này là của họ? Thiển nghĩ nhìn lại lịch sử, xét lại các trường hợp bị mất đất, cũng có thể cũng tìm ra một vài câu trả lời thỏa đáng.

1. Trường hợp năm 1724 : TQ chiếm tổng Tụ Long (thuộc châu Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang) vì nơi đây có nhiều mỏ : Mỏ bạc và đồng ở làng Na Ngọ (các mỏ Phượng Hoàng, Thiên Nguyên, Tụ Bảo, Mậu Hưng), mỏ đồng Bán Gia, mỏ kẽm Kha Thôn, mỏ bạc Nam Ðương cùng 4 mỏ bạc Long Sinh, Thủy Ðộng, Minh Chiều và Ðà Gia v.v…

Đất thuộc tổng Tụ Long của VN cách biệt với đất thuộc phủ Khai Hóa của TQ bằng con sông nhỏ tên Đổ Chú.

Theo Kiến văn tiểu lục của Lê Quí Đôn, năm 1724 (năm Bảo Thái thứ 5), Tổng đốc Vân Nam là Cao Kỳ Trác ra lệnh cho Dương Gia Công 楊加功 chiếm mỏ đồng Bán Gia và mỏ kẽm Kha Thôn thuộc tổng Tụ Long. Lý do đưa ra : vùng đất này thuộc Vân Nam, đã bị các thổ quan của nước ta chiếm đoạt.

Phía Việt Nam phản biện, cho rằng Cao Kỳ Trác « lầm lẫn làng Ma-Tu 痲須 với trại Mã Đô 馬都; làng Tà Lộ 斜路 với trại Bố Ðô 布都; làng Phù Không 扶空 với trại A Không 阿空; làng Phù Ni 扶尼 với trại Bạch Nê 白泥; làng Nhĩ Hô 爾呼 với trại Ngưu Hô-Hắc 牛呼黑 và quan trọng là lẫn lộn suối Tam-Khê 三溪 (hay là ba con suối ?) với sông Ðổ Chú ».

Rõ ràng, vì tham lam, phía TQ đưa quân sang chiếm đất, sau đó đặt cho các vùng quặng mỏ trù phú này của VN vài cái tên làng Trung Hoa, sau đó nói đất đó của họ. Đây là một hình thức ăn cướp được khéo léo ngụy trang.

Nhưng ở thời điểm này (1724) lực lượng quân sự Việt Nam được củng cố mạnh mẽ. Kiến văn tiểu lục ghi lại sự việc, nội dung tóm tắt như sau : « Chúa Trịnh Cương sai Trấn Thủ Trịnh Kinh ra mật lệnh cho các thổ ti đem quân cản và giữ chân chúng lại. Trịnh Kinh chận đầu, đóng quân tại làng Phù Lung. Thấy bên ta binh mã hùng mạnh và dân chúng theo qui phục, Tổng Trấn phủ Khai Hóa họ Phùng phải lui quân ».

« Về mặt ngoại giao, phía Việt Nam liên tục cho sứ giả lên đường sang Bắc Kinh khiếu nại. Cao Kỳ Trác thấy không dễ, bèn trả đất nhưng tìm cách giữ lại vùng mỏ đồng. »

« Phía bên Việt Nam tiếp tục phản đối. Tháng 4 năm 1725 vua nhà Thanh ra chiếu trả lại toàn vùng đất Tụ Long cho Việt Nam. »

« Sau khi có quyết định được trả lại đất, Chúa Trịnh ra lệnh cho các quan Hồ Phi Tích và Võ Công Tể đến với tri phủ Khai Hóa là Phiên Doãn Mẫn để thành lập ủy ban phân giới. Nhưng Doãn Mẫn vẫn ngoan cố muốn chiếm đoạt mỏ đồng nên gian dối chỉ định một con sông khác, dưới chân núi Duyên Xưởng và cho đó là sông Ðổ Chú, nhằm mục đích giữ lại làng, xã thuộc vùng Bảo Sơn. Việc này Võ Công Tể biết được, chỉ định vị trí thực sự của con sông Ðổ Chú. Từ đó vấn đề tranh chấp biên giới tạm kết thúc. »

Tụ Long annex 4 bis

Hình: bản đồ vị trí bia đá trên hai bờ sông Đổ Chú. Nguồn CAOM.


2. TQ lập mưu giành được đất Tụ Long qua việc phân định biên giới Pháp-Thanh 1885-1887:

Do âm mưu phá hoại của phía TQ, việc phân định biên giới vùng Vân Nam không được phân định trên thực địa mà chỉ phân định trên bản đồ.

Vùng Vân Nam được phân làm 5 tiểu đoạn, trên 5 tấm bản đồ. Ðoạn thứ 1 bắt đầu từ hợp lưu của sông Lũng Pô (Long-Bác 龍賻) với sông Hồng cho đến Mường Khương. Ðoạn thứ 2 từ Mường Khương đến Cao Mã Bạch. Ðoạn thứ 3 từ Cao Mã Bạch cho đến sông Nho Quế. Ðoạn thứ 4 từ sông Nho Quế đến giao giới tỉnh Quảng Tây. Ðoạn thứ năm từ hợp lưu sông Lũng Pô với sông Hồng cho đến biên giới Lào. Nhưng các tấm bản đồ phân định này do người Hoa vẽ ra, hoàn toàn sai, không có điểm nào phù hợp với thực địa.

Các đoạn 1, 3 và 4 được phân định không gặp khó khăn nhưng đoạn 2, từ Mường Khương đến Cao Mã Bạch, tức vùng thuộc các tổng Tụ Long và Phương Ðộ, và vùng 5 từ Lũng Pô đến biên giới Lào, hai ủy ban phân định Pháp Thanh không giải quyết được. Việc này phải đưa về Bắc Kinh để Tổng lý Nha môn (tương đương Bộ Ngoại giao) cùng Đặc sứ Toàn quyền Pháp tại đây quyết định.

Nguyên nhân bất đồng không giải quyết được ở đoạn 2, phía TQ cho rằng đường trung tuyến của sông Lô là đường biên giới và gọi đó là Ðổ Chú Hà. Trong khi phía ủy ban Pháp có đầy đủ sử liệu chứng minh, phản biện rằng sông đó không phải là sông Đổ Chú, mà là sông Lô của Việt Nam, TQ gọi Hắc Hà. Sông Lô ở về phía nam, trong khi sông Đổ Chú ở khá xa về phía bắc, gần Mã Bái Quan.

Phía bên người Hoa, nhất quyết muốn chiếm vùng đất trù phú này, bèn cho rằng sông Lô mới là Ðổ Chú Hà, còn con sông Đổ Chú thật, họ bịa ra một cái tên là Tiểu Đổ Chú Hà.

Trên bản đồ (rất sai) của đoạn 2 đính kèm, ta thấy đường biên giới đề nghị của hai bên biểu hiện bằng hai con sông, gạch mực đỏ. Đường phía bắc, chủ trương của ủy ban Pháp, sông mang tên Tiểu Ðổ Chú Hà (tức sông Đổ Chú thực). Đường phía nam, chủ trương phía người Hoa, sông mang tên Đổ Chú (tức sông Lô). Phần đất giữa hai đường đỏ là đất Tụ Long.

bandobiengioi 001

Nguồn bản đồ: CAOM

Đất Tụ Long của Việt Nam được giải quyết qua biên bản « bế mạc công trình phân định biên giới » ngày 26-6-1887, được người VN gọi lầm gọi là « Công ước Pháp – Thanh phân định biên giới » ngày 26 tháng 6 năm 1887. Thực ra công ước gồm một tập hồ sơ khá dày, gồm các biên bản phân định các vùng biên giới (1885-1887) và bản đồ đính kèm, sau đó là các biên bản phân giới cắm mốc (1888-1897) cùng bộ bản đồ đính kèm. Nguyên văn đoạn liên hệ :

« De Kéou-téou-tchaï (Cao-dao-traï 拘頭寨 Cẩu Đầu Trại) sur la rive gauche du Siao-tou-tchéou-hô (Tieu-do-chu-ha 小賭呪河 Tiểu Đổ Chú Hà), point M de la carte de la 2e section, elle se dirige pendant 50 lis (20 km) directement de l’ouest vers l’est, en laissant à la Chine les endroits de Tsiu-Kiang-cho ou Tsiu-y-chô (Tu-nghia-xa 聚義社 Tụ-Nghĩa Xã), Tsiu-mei-chô (Tu-mi-xa 聚美社 Tụ-Mỹ Xã), Kiang-feï-chô ou y-fei-chô (nghia-phi-xa 義肥社 Nghĩa-Phì Xã), qui sont au nord de cette ligne, et à l’Annam celui de Yéou-p’oug-chô (Hu-bang-xa 有朋社 Hữu-Bằng Xã), qui est au sud, jusqu’aux points marqués P et Q sur la carte annexe où elle coupe les deux branches du second affluent de droite du Heï-Ho (Hac-Ha 黑河 Hắc-Hà) ou Tou-tchéou-ho (Do-chu-ha 賭呪河 Đổ Chú Hà).

A partir du point Q, elle s’infléchit vers le sud-est d’environ quinze lis (6 kilomètres) jusqu’au point A, laissant à la Chine le territoire de Nan-tan (Nam don 南丹 Nam Đơn) au nord de ce point R ; puis, à partir de ce point, remonte vers le nord-est jusqu’au point S, en suivant la direction tracée sur la carte par la ligne RS, le cours du Nan-teng-hô (Nam dang ha 南燈河Nam-Đăng Hà) et les territoires de Mam-meï (Man mi 縵美 Mán Mỹ) de Meng-toung-tchoung-ts’oun (Mãnh Cang Trung Thôn 猛 崗 中村) restant à l’Annam. »

Tạm dịch : « Từ Cẩu Ðầu Trại ở phía tả ngạn sông Tiểu Ðổ Chú Hà, đường biên giới đi trực tiếp từ Tây sang Ðông khoảng 50 lí (20 km), để cho phía Trung Hoa các vùng Tụ Nghĩa Xã, Tụ Mỹ Xã, Nghĩa Phi Xã, các vùng này ở về phía Bắc của đường biên giới và để cho An Nam Hữu Bằng Xã, ở về phía Nam của đường biên giới, cho đến các điểm ghi là P và Q trên bản-đồ đính kèm, (P và Q) là nơi đường biên giới cắt hai nhánh của phụ lưu hữu ngạn thứ hai của Hắc Hà hay sông Ðổ Chú. Bắt đầu từ điểm Q, đường biên giới đi nghiêng về hướng Ðông Nam khoảng 15 lí (6 km), cho đến điểm R, để lại phía Trung Hoa vùng đất Nam Ðơn (chú thích tg : là vùng mỏ chì pha bạc) ở về phía Bắc điểm này, sau đó, từ điểm R nói trên, đường biên giới theo hướng đông bắc cho đến điểm S, theo như hướng đã vẽ trên bản đồ đường nối RS, theo sông Nam Ðăng Hà, vùng Mán Mỹ, Mãnh Khang Trung Thôn và Mãnh khang Hạ Thôn thì thuộc về An Nam. (Mãnh Khang là tên Hán gọi Mường Khương, chú thích tg).

bandobiengioi 014

Bản đồ đính kèm công ước 1887 : Đường đỏ nối các điểm MPQRST là đường biên giới. Nguồn: CAOM.

Kết quả làm cho Việt Nam mất vùng đất trù phú, giàu quặng mỏ (mỏ đồng, mỏ bạc, mỏ kẽm…) diện tích vào khoảng 700km2.

Như thế, TQ đã chiếm đất Tụ Long của VN bằng cách đổi tên các con sông. Năm 1724 thì lấy tên sông Đổ Chú đặt cho một con sông ở nơi khác, hay chỉ định sông Đổ Chú ở một nơi khác, xa hơn về hướng nam, mục đích để chiếm đất, nhưng vụ này không thành.

Năm 1887, TQ thành công chiếm được đất này cũng bằng một âm mưu ngày trước : đặt tên Đổ Chú cho một con sông khác (ở đây là sông Lô), sau đó dùng thủ thuật ngoại giao với Pháp để chiếm.
(Thực ra, ông Constans, Đặc sứ Toàn quyền Pháp tại Bắc Kinh, người có trách nhiệm về công ước phân định biên giới 1887, ông này cùng lúc thương lượng hai công ước : công ước về biên giới và công ước bổ túc cho công ước thương mãi « Convention additionnelle de Commerce ». Cả hai công ước cùng ký ngày 26 tháng 6 năm 1887. Để có ưu điểm về kinh tế, ông Constans đã nhưọng đất của VN cho TQ. Nhưng nếu không có âm mưu và lòng tham của TQ thì việc này đã không xảy ra).

Bản đồ: nguồn Les Mines de Tu-Long của Deloustal, xem phần tham khảo. Vùng gạch đỏ minh họa đất Tụ Long bị mất cho TQ (khoảng 700km²). Trên các bản đồ hiện nay, vùng Tụ Long là phần đất bị lõm vào, ở phía bắc tỉnh Hà Giang.

3. Vụ đất Vụ Kiến Duyên – Bát Tràng (Hải Ninh)

Trong biên bản phân định biên giới « Từ Trúc Sơn đến Chí Mã » ký ngày 29-3-1887 có ghi như sau :

Depuis Pei-che et Kia-long, la frontière suit le milieu de la rivière Kia-long, qui est un affluent occidental de la rivière de Pei-che (rivière de Pacsi 北市 江). Le cours de cette rivière a une longueur de trente li environs [ Note : chaque li équivaut à 561 mètres ], et au-delà de ces trentes li, la ligne frontière se dirige directement jusqu’à trois li comptés juste au nord de l’ancien marché du village de T’ong-tchong 峝 中 村, c’est-à-dire jusqu’au point A 甲de la carte n° 1. Les localités de Ling-Houai (嶺 懷 Lãnh-hoài), de P’i-lao (Phi-lao 披 勞), de Pan-hing (Bản-hưng 板 興), la montagne située au sud-est de Pan-hing, touchant à la frontière et appelée Fen-mao-ling (Phân-mao-lãnh 分茅 嶺) et autres lieux ; sont attribués à la Chine. Na-yang (Ná-duong 那 陽), Tong-tchong (Ðộng-trung 峝中) et autres lieux sont attribués à l’Annam.

Tạm dịch : Từ Bắc Thị – Gia Long đường biên giới theo trung tuyến sông Gia Long, là một phụ lưu tây ngạn của sông Bắc Thị 北市江, có độ dài khoảng chừng 30 lí (mỗi lí là 561 thước), và khi vượt ra ngoài 30 lí, đường biên-giới rời sông, theo đường thẳng trực tiếp để đến điểm cách Ðộng Trung 峝中村 3 lí về hướng Bắc, tức điểm được đánh dấu A (甲) trên bản đồ số 1. Ðường biên giới chia cho phía Trung Hoa các vùng Lãnh Hoài 嶺懷, Phi Lao 披勞, Bản Hưng 板興 v.v… và một ngọn núi mang tên Phân Mao Lĩnh 分茅嶺, núi này ở phía Ðông Nam của Bản Hưng 板興 và dựa lên đường biên giới. Các vùng Ná Dương 那陽, Ðộng Trung 峝中 và những nơi khác thì thuộc về An Nam.

Theo tinh thần biên bản phân định thì đường biên giới đi qua chân ngọn Phân Mao Lãnh và núi này thuộc Trung Quốc. Điều này phù hợp với biên giới lịch sử giữa hai nước.
Tuy nhiên, đến khi bắt tay vào việc phân giới thì mới thấy công việc hoàn toàn không như vậy. Bản báo cáo ngày 12 tháng 9 năm 1890 của ông Chiniac de Labastide, chủ tịch ủy ban phân giới (1890-1891) viết như sau :

Phân Mao Lãnh quan trọng cho việc xác định đường biên giới… hiện nay chúng ta có thế xác quyết rằng, không những núi này không có ở đây, mà nó còn không hiện hữu trong toàn vùng biên giới mà Ủy ban Phân giới đã thám hiểm. Không có một trái núi nào có tên tương tự.

Ông viết tiếp :

Theo vài nhà nghiên cứu, núi Phân Mao Lãnh có thể ở cách Khâm Châu khoảng 360 lí, tức 140 Km… khi tôi báo tin cho ông Chủ tịch Ủy ban Phân giới Trung Hoa, mặc dầu có nhiều nỗ lực tìm kiếm, tôi vẫn không tìm ra trái núi mà dưới chân nó có trụ đồng để đánh dấu biên giới của tướng Mã Viện là Phân-Mao Lãnh. Núi này hoàn toàn không ai biết. Ông này trước tiên im lặng, và vài ngày sau, ông chỉ tôi ở trên bản đồ, không phải ở phía Ðông Nam mà ở phía Ðông Bắc của Bản Hưng, phía nam Phi Lao, một trái núi nhỏ và cho đó là Phân Mao Lãnh. Khi tôi la lớn về sự phi lý này thì ông ta mới trả lời cho tôi, bằng một dáng điệu trịnh trọng, trái núi này không phải là Ðại Phân Mao Lãnh, nổi tiếng do trụ đồng của tướng Mã Viện, mà chỉ là một Tiểu Phân Mao Lãnh…,
Việc này cho thấy phía người Hoa đã đặt tên « Phân Mao » cho một ngọn núi vô danh ở thật xa về phía nam. Cũng trong báo cáo này, tác giả cũng cho biết phía bên TQ ngụy tạo đền thờ « Phục Ba tướng quân » ở gần đó cho núi Phân Mao có tính thuyết phục. Những dòng báo cáo của ông Chiniac De Labastide cho ta thấy âm mưu dàn dựng dành đất của Việt Nam của phía người Hoa. Sau khi âm mưu bị khám phá, họ trơ trẻn nói lại núi đó là Tiểu Phân Mao.

Hậu quả việc này ra sao? Ông Chiniac de Labastide viết trong bản báo cáo nói trên :

« người Hoa đã dành được của An Nam một vùng đất nghèo, nhưng rộng lớn mà họ chờ đợi để lấy ra từ đó những ưu điểm quan trọng. Giữa hai điểm này, trên một chiều dài khoảng 40 cây số, người ta đã bỏ biên giới lịch sử của An Nam và Trung Hoa để lấy một đường biên giới khác, ở xa về phía nam, một đường biên giới hoàn toàn qui ước. Việc này đã nhường cho Trung Hoa 7 xã rưỡi thuộc tổng Bát Tràng của An Nam và hai xã khác cũng của An Nam thuộc tổng Kiến Duyên.

Diện tích vùng đất này rất đáng kể. Chiều dài 40km, chiều sâu có nơi lên tới 140km (vị trí Phân Mao Lãnh). Nhiều nghi vấn đặt ra, từ khi nào đường biên giới thay đổi lớn lao như thế ? Phải chăng do hậu quả của vụ Mạc Đăng Dung ? Nhưng đây là một nghi vấn lịch sử khác.

4. Mất đất tại Nam Quan

a/ Buổi họp đầu tiên của hai ủy ban phân định biên giới Pháp-Thanh được nhóm tại Nam Quan ngày 12 tháng 12 năm 1885. Phía ủy ban Pháp lấy Đồng Đăng làm bản doanh và phía TQ lấy Nam Quan làm bản doanh.

Việc phân định xảy ra trên thực địa, có nghĩa là hai bên cùng cử người đi khảo sát trên thực tế và vẽ bản đồ.

Theo thực tiễn và lịch sử giữa hai nước Việt-Trung, đường biên giới luôn được xác định bằng các cửa ải, thí dụ : ải Du, ải Bố Sa, ải Sơn Tử, ải Bình Nhi, ải Ná Chi, ải Khấu Sơn v.v… Tại cửa ải Nam Quan (Trấn Nam Quan Ngoại, tức ải Bắc theo Việt Nam) đường biên giới lý ra phải đi ngang qua cửa, đất phía nam thuộc về Việt Nam, đất phía bắc thuộc về Trung Quốc. Nhưng phía người Hoa không muốn như vậy, họ không chấp nhận đường biên giới đi ngang qua cửa ải.

Theo bút ký của Bác-Sĩ Néïs «Sur Les Frontières Du Tonkin», việc phân định không dễ dàng vì người Hoa muốn giành toàn vùng chung quanh Nam Quan. Ông kể lại, khi phái đoàn Pháp vừa ra khỏi Ðồng Ðăng để đi lên cửa ải thì đã thấy cờ nheo cắm đầy trên những ngọn đồi chung quanh và lính Tàu phất cờ nheo đứng dọc hai bên đường. Phe Trung Quốc muốn chứng tỏ cho phái đoàn Pháp biết là họ đang ở trên đất của người Hoa.

Tuy nhiên việc này không thuyết phục được người Pháp, vì ủy ban Pháp đòi hỏi đường biên giới phải đi qua cổng Nam Quan, tức là bức tường đá nối cổng Nam Quan lên đỉnh núi. Nhưng phía TQ nhất định không đồng ý và đòi biên giới phải ở phía Nam cổng Nam Quan, tức đòi một thêm vùng đất trước cổng.

Việc phân định biên giới bị bế tắc ngay từ buổi họp đầu tiên. Công việc đình trệ 3 tháng. Sau đó, do áp lực của Pháp, phía bên người Hoa mới ngồi lại vào bàn họp. Kết quả đầu tiên, 6 tháng sau khi ủy ban Pháp được thành lập và 3 tháng làm việc, khi tại Ðồng Ðăng, khi tại Nam Quan, đường biên giới tại Nam Quan được xác định.

Theo biên bản số 4, phân định từ Nam Quan đến Bình Nhi, ký ngày 7 tháng 4 năm 1886, Pháp nhượng bộ đòi hỏi phi lý của TQ, đường biên giới phải lui về phía nam 100 mét, tức cách cổng Nam Quan 100 mét.
b/ Mất đất ở Hữu Nghị Quan : Hiệp định phân định biên giới tháng 12 năm 1999 đã nhưọng rất nhiều phần đất của VN cho TQ. Thí dụ khu vực nối đường ray, theo tài liệu Tình hình Trung Quốc lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam từ năm 1954 đến nay của NXB Sự Thật, năm 1979, Việt Nam tố cáo Trung Quốc đã lấn đất vùng Nam Quan. Nguyên văn như sau :

"Năm 1955, tại khu vực Hữu Nghị Quan, khi giúp Việt Nam khôi phục đoạn đường sắt từ biên giới Việt Trung đến Yên Viên, gần Hà Nội, lợi dụng lòng tin của Việt Nam, phía Trung Quốc đã đặt điểm nối ray đường sắt Việt Trung sâu trong lãnh thổ Việt Nam trên 300m so với đường biên giới lịch sử, coi điểm nối ray là điểm mà đường biên giới giữa hai nước đi qua."

TQ lý luận như thế này : nếu là đất của VN tại sao có đường ray với kích cỡ của TQ ?

Các trường hợp khác, cũng trong tài liệu dẫn trên, nguyên văn như sau :

"Lợi dụng đặc điểm là núi sông hai nước ở nhiều nơi liền một dải, nhân dân hai bên biên giới vốn có quan hệ họ hàng, dân tộc, phía Trung Quốc đã đưa dân họ vào những vùng lãnh thổ Việt Nam để làm ruộng, làm nương, rồi định cư những người dân đó ở luôn chỗ có ruộng, nương, cuối cùng nhà cầm quyền Trung Quốc ngang ngược coi những khu vực đó là lãnh thổ Trung Quốc.

Khu vực Trình Tường thuộc tỉnh Quảng Ninh là một thí dụ điển hình cho kiểu lấn chiếm đó. Khu vực nầy được các văn bản và các bản đồ hoạch định và cắm mốc xác định rõ ràng là thuộc lãnh thổ Việt Nam: đường biên giới lịch sử tại đây đi qua một dãi núi cao, chỉ rõ làng Trình Tường và vùng chung quanh là lãnh thổ Việt Nam. Trên thực tế, trong bao nhiêu đời qua, những người dân Trình Tường, những người dân Trung Quốc sang quá canh ở Trình Tường đều đóng thuế cho nhà đương cục Việt Nam. Nhưng từ năm 1956, phía Trung Quốc tìm cách nắm số dân sang làm ăn ở Trình Tường bằng cách cung cấp cho họ các loại tem phiếu mua đường, vải, và nhiều hàng khác, đưa họ vào công xã Ðồng Tâm thuộc huyện Ðông Hưng, khu tự trị Choang – Quảng Tây. Nhà đương cục Trung Quốc ngiễm nhiên biến một vùng lãnh thổ Việt Nam, dài 6 km, sâu hơn 1.300 m thành sở hữu tập thể của một công xã Trung Quốc. Từ đó, họ đuổi những người Việt Nam đã nhiều đời nay làm ăn sinh sống ở Trình Tường đi nơi khác, đặt đường dây điện thoại, tự cho phép đi tuần tra khu vực nầy, đơn phương sửa lại đường biên gới sang đồi Khâu Thúc của Việt Nam. Tiếp đó họ đã gây ra rất nhiều vụ hành hung, bắt cóc công an vũ trang Việt Nam đi tuần tra theo đường biên giới lịch sử và họ phá hoại hoa mầu của nhân dân địa phương. Trình Tường không phải là một trường hợp riêng lẻ, còn đến trên 40 điểm khác mà phía Trung Quốc tranh lấn với thủ đoạn tương tự như xã Thanh Loa, huyện Cao Lộc (mốc 25,26,27) ở Lạng Sơn, Khẳm Khau (mốc 17-19), ở Cao Bằng, Tả Lũng, Làn Phù Phìn, Minh Tân (mốc 14) ở Hà Tuyên, khu vực xã Nam Chay (mốc 2-3) ờ Hoàng Liên Sơn với chiều dài hơn 4 Km, sâu hơn 1 Km; diện tích hơn 300 héc-ta."

Phía TQ lý luận : đất của VN sao có dân TQ sinh sống ?

Cũng có nơi trên vùng biên giới, luận điệu của TQ là : nơi nào cho « chuối xanh » thì nơi đó là đất của TQ, vì chỉ có dân TQ mới trồng chuối ! Lại có nơi tử sĩ TQ chết lại chôn bên đất của VN. Đất này trở thành đất Tàu ! Nếu không phải đất của TQ tại sao có nghĩa trang của người Hoa ?

Cứ như thế mà đất của VN trở thành đất của TQ.


6. Vụ tổng Đèo Lương, thác Bản Giốc và núi Khấu Mai

6.1. Tổng Đèo Lương xưa thuộc tỉnh Cao Bằng, ở phía đông bắc tỉnh tỉnh này, phía nam là Thủy Khẩu, phía bắc có sông Qui Xuân chảy vào, diện tích khoảng 300km², mất vào tay TQ nhân dịp phân giới 1893-1894. Trên bản đồ hiện nay là phần lõm vào ở đông bắc Cao Bằng. Trường hợp mất được ghi vắn tắt qua nhật ký của Ủy ban Phân giới vùng Quảng Tây, trong chiến dịch phân giới 1893-1894. Theo đó, phía TQ đã lấy tên của một số làng xã của phía TQ để đặt tên cho các làng xã thuộc tổng Đèo Lương. Song song đó, phía TQ vận động với Đặc sứ Pháp tại Bắc Kinh để lấy vùng đất này, mặt khác, họ tìm cách kéo dài thì giờ, vì đây là điểm yếu của Pháp : càng kéo dài thì việc cắm mốc giới càng thêm tốn kém mà ngân sách của mẫu quốc dành cho Bắc Kỳ ngày thêm hạn chế. Cuối cùng, Pháp nhượng bộ trên vấn đề Ðèo-Lương nhưng với điều kiện phải được Pháp phải được trái núi quan trọng về chiến lược : Khấu Mai (TQ gọi là Khấu Mai Lĩnh, VN gọi là Cao May).

Như thế Việt Nam mất đất Đèo Lương vì lý do âm mưu đổi tên các làng mạc của TQ và sự nhượng bộ của Pháp. Việc hoán đổi tên các địa danh để chiếm lấy đất ở đây đã được sử dụng trước đó nhiều lần.
6.2. Thác Bản Giốc: Theo các chi tiết đã ghi trong các biên bản, nhật ký phân giới, sông Qui Xuân (Qui Thuận, Quây Sơn) chảy vào phía bắc của tổng Đèo Lương. Vào lúc phân giới thác Bản Giốc nằm sâu trong lãnh thổ của Việt Nam. Nếu không mất Đèo Lương thì sẽ không bao giờ có tranh chấp chủ quyền tại Bản Giốc vào những năm sau này, vì nó sẽ nằm sâu vào lãnh thổ VN.

Xem thêm ở đây :

http://nhantuantruong.blogspot.fr/2013/10/au-la-su-that-cua-thac-ban-gioc.html

6.3. Núi Khấu Mai : Núi này hoàn toàn thuộc Việt Nam theo biên giới lịch sử. Trong dịp phân giới và cắm mốc lại, núi này được trao đổi với tổng Đèo Lương : VN giữ núi Khấu Mai, TQ được tổng Đèo Lương. Nhưng phía TQ vẫn ngang ngược nhứt định dành nó về phía họ. Núi này khoảng giữa Bình Nhi và Thủy Khẩu, được cắm mốc mang số 15 trên biên bản phân giới ngày 19 tháng 6 năm 1894 ký kết giữa ông Galliéni và ông Thái Hy Bân. Núi này có vị trí chiến lược quan trọng, địa hình thuận tiện cho quân đội đóng quân, có đường mòn từ phía Việt Nam dẫn lên đỉnh. Trên núi có 3 nguồn nước, đất tốt nên dân chúng khai thác trồng trọt, cây cối xinh tươi. Chiếm giữ được nó thì có thể kiểm soát được cả vùng Long Châu cho tới Bằng Tường.

Do phía TQ trì trệ, không cắm mốc, rốt cục phía Pháp lại nhưọng bộ. Cột mốc tại Khấu Mai cắm trên sườn núi phía đông, cách đỉnh 200m, chừa một góc nhỏ cho TQ. Ngoài ra, cột mốc 14 cắm dưới chân phía Ðông, cột 16 dưới chân phía Tây-Bắc để xác định rõ ràng chủ quyền hai bên về ngọn núi.

Nhưng TQ lại không tôn trọng, xâm chiếm đất vùng này sau khi cắm mốc. Năm 1936, cột mốc số 14 bis được cắm thêm. Theo biên bản vị trí cột 14 bis xác định như sau : 580 mètres Sud-ouest de la borne 14 ; Est, Sud-Est de la borne 15. Cột 14 bis cách cột 14 là 580m về phía Tây-Nam ; cột ở phía Ðông Ðông-Nam cột số 15.

Nhưng chủ quyền núi Khấu Mai rất có thể bị phía Trung Quốc đặt vấn đề vào đầu năm 2001. Theo tài liệu của Nguyễn Chí Trung, thư ký riêng của ông Lê Khả Phiêu, viết ngày 21 tháng 7 năm 2002, được Câu Lạc Bộ Dân chủ đăng trên mạng Ý Kiến ngày 25 tháng 11 năm 2003 dưới nhan đề «Tài liệu mật của Đảng CSVN », nội dung cho biết Giang Trạch Dân, lúc đó là lãnh đạo tối cao Trung Quốc, muốn dành núi Khấu Mai cho Trung Quốc. Lập luận phía TQ đặt lại vấn đề : Cột mốc không cắm trên đỉnh núi vì trước kia do công nhân đưa cột mốc không tới đỉnh núi đành bỏ lai sườn núi, bây giờ đưa cột mốc lên đỉnh. Toàn bộ 314 cột mốc cắm trên biên giới Việt-Trung, chỉ có cột mốt cắm tại Khấu Mai là cắm ở sườn núi thay vì đỉnh núi.

Khấu Mai

Hình trên: vị trí núi Khấu Mai theo bản đồ của Sở Địa Dư Đông dương (SGI). Nguồn: CAOM.

Theo bản đồ của Hiệp ước phân định biên giới ký ngày 25 tháng 12 năm 1999 (hình dưới), khu vực núi Khấu Mai được phân định lại. Cột mốc được đưa lên đỉnh trong khi đường biên giới cũng bị thay đổi (so với bản đồ SGI).

Khau Mai

7. Hoàng Sa và Trường Sa

Công hàm ngoại giao của Đặc Sứ Thanh triều tại Paris, gởi chính phủ Pháp ngày 29 tháng 9 năm 1932, tài liệu đính kèm cuốn La Souveraineté sur les Archipels Paracels et Spratleys của bà Monique Chemillier-Gendreau, nguyên văn đoạn liên hệ công ước 1887, Vịnh Bắc Việt và Hoàng Sa:

« Légation de la République Chinoise.

29 Septembre 1932.

La Légation de la République Chinoise en France, d’ordre de son Gouvernement, a l’honneur de transmettre la réponse de ce dernier à la Note que le Ministère des Affaires Etrangères a bien voulu lui adresser le 4 Janvier 1932 au sujet de l’Archipel des Iles Paracels.

Les Iles Si-Chao-Tchuin-Tao désignées aussi sous le nom de Tsi-Tcheou-Yang appelées en langue étrangère Iles Paracels, et au Nord-Est desquelles sont les Iles Ton-Chao, se trouvent dans la mer territoriale de la Province du Kouang-Tong (South China Sea); elles forment un des groupes de l’ensemble des Iles de la Mer de Chine du Sud qui font partie intégrante de la mer territoriale de la Province du Kouang-Tong.

D’Après les Rapports établis en l’An XVII de la République Chinoise (1926) au sujet des Si-Chao-Tchuin-Tao (Paracels), rédigés par Mr. Shen-Pung-Fei, Président de la Commission d’enquête sur ces Iles, et les dossiers concernant également ces Iles établis par le Bureau de l’Industrie de la Province Kouang-Tong, ces Iles s’étendent du 110° 13 au 112° 47 de longitude Est; grandes et petites, elle sont au nombre de plus d’une vingtaine, la plupart d’entre elles sont des banc de sable incultes, les autres, une dizaine, sont formés de rochers, huit forment réellement des Iles. Des deux groupes Est et Ouest, celui de Est est appelé “Amphitrite”, celui de l’Ouest “Croissant”.Ces groupes se trouvent à 145 miles marins de l’Ile de Hai-Nan et forment la partie du territoire chinois située le plus au sud.

La clause 3 de la Convention relative à la Délimitation de la Frontière entre la Chine et le Tonkin, signée à Pékin le 26 Juin 1887 stipule qu’au Kouang-Tong, il est entendu que les points contestés qui sont situés à l’Est et au Nord-Est de Monkai, au-delà de la frontière telle qu’elle a été fixée par la Commission de Délimitation, sont attribués à la Chine. Les Iles qui sont à l’Est de la ligne Nord-Sud passant par la pointe orientale de l’ile de T’cha-Kou et formant la frontière sont également attribuées à la Chine. Les Iles Kou-Teou et les autres petites Iles qui sont à l’Ouest de cette ligne appartiennent à l’Annam.

Le point de départ des frontière entre l’Indochine et la province chinoise du Kouang-Tong est Tchou-Chan situé à 21° 30 de latitude Nord et 108° 2 de longitude Est. D’après les sus-dites stipulation, le littoral de l’Indochine se trouvant à l’Ouest de Tchou-Chan; de ce point, en descendant la côte vers le Sud, de toutes façons les Iles Paracels se trouvent très loin à l’Est de cette ligne, et sont séparées du littoral Indochinois par l’Ile de Hai-Nam. On voit aisément, d’après leur position géographique à quel pays elles doivent être rattachées…»

Các ý chính tạm dịch như sau : Quần đảo Si-Chao-Tchuin-Tao (Tây Sa Quần Đảo), còn được gọi dưới tên Tsi-Tcheou-Yang (Thất Châu Dương), nước ngoài gọi là Paracels, phía đông bắc có quần đảo Ton-Chao (Đông Đảo, tức Pratas), tọa lạc trong lãnh hải tỉnh Quảng Ðông; là một bộ phận của lãnh hải tỉnh Quảng-Ðông… các đảo nầy rải rác trải từ 110° 13 đến 112° 47 kinh tuyến Ðông; gồm khoảng 20 đảo lớn nhỏ, phần lớn là những dải cát hoang, một số khác, khoảng 10 đảo do đá tạo nên, 8 đảo thực sự là đảo, chia làm hai nhóm Ðông và Tây. Nhóm Ðông gọi là nhóm “Amphitrite”, nhóm Tây gọi là nhóm “Croissant”. Hai nhóm nầy cách đảo Hải Nam 145 dặm biển và tạo thành vùng lãnh thổ cực Nam của Trung Quốc.

Ðiều 3 của Công ước Phân định Biên giới giữa Trung Hoa và Tonkin, ký tại Bắc Kinh ngày 26 tháng 6 năm 1887 qui định rằng ở Quảng Ðông, hai bên thỏa thuận rằng các vùng tranh chấp ở phía đông và đông bắc Móng Cái thì thuộc về Trung Quốc. Những đảo ở về phía Ðông của đường bắc nam đi qua đông điểm của đảo Trà Cổ và tạo thành đường biênngiới thì chúng cũng thuộc về Trung Quốc. Những đảo Keou-Teou (Trà Cổ) và những đảo nhỏ khác ở về phía Tây của đường nầy thì thuộc về Việt Nam.

Ðiểm bắt đầu của biên giới giữa Indochine và tỉnh Quảng Ðông là Trúc Sơn có tọa-độ 21° 30 vĩ tuyến Bắc và 108° 2 kinh tuyến Ðông. Theo những gì ghi nhận trên đây, bờ biển Indochine ở về phía Tây của Trúc Sơn. Từ điểm nầy, đi xuống về phía Nam, bằng cách nào thì quần đảo Paracels cũng ở về phía Ðông của đường nầy và giữa quần đảo nầy với bờ biển Indichine thì có đảo Hải Nam ngăn chặn. Người ta thấy dễ dàng, theo vị trí địa lý của Paracels, là nó thuộc về nước nào.

Các điểm ghi nhận như sau :

Hoàng Sa có tên Tàu là Thất Châu Dương.

Hoàng Sa là lãnh thổ vùng cực nam của TQ.

Đường kinh tuyến từ đông điểm Trà Cổ của công ước phân định biên giới 26-6-1887 cho phép TQ có chủ quyền tất cả các đảo ở phía đông đường kinh tuyến này.

Ta thấy điều ngang ngược thứ nhất ở đây của TQ là diễn giải Công ước 1887 theo lối có lợi cho mình. Thực ra công ước 1886 có tên là « Convention Relative à la Délimitation de la Frontière entre la Chine et le Tonkin ». Phía TQ đã thay đổi Tonkin (Bắc Kỳ) thành ra Indochine, cho là công ước này phân định biên giới giữa TQ và Indochine, nhằm dành quần đảo HS về TQ. Đường kinh tuyến đi qua đông điểm đảo Trà Cổ 105° 43′ kinh độ Đông Paris chỉ có hiệu lực trong vịnh Bắc Việt, vì công ước chỉ phân định các tỉnh Nam Hoa với Bắc Việt, nó chỉ có giá trị ở đây và không có giá trị khi ra ngoài vịnh Bắc Việt.

Điều thứ hai, tên Thất Châu Dương là có thật, nhưng theo thư tịch của TQ thì nó là tên của các đảo gần Văn Xương, đảo Hải Nam. TQ lấy tên này đặt cho HS của VN, lập lại thủ thuật mà họ đã dành đất của VN như ở Tụ Long, Kiến Duyên, Bát Tràng, Đèo Lương v.v… Tức là lấy tên một địa danh của TQ đặt cho các vùng lãnh thổ của VN rồi hô hoán lên nói là đất của TQ.

Thứ ba, chính TQ thời đó cũng đã khẳng định HS là vùng đất cực nam của TQ. Ta thấy sự ngang ngược của TQ hiện nay đã lan xuống các đảo Trường Sa.

Nhưng chưa hết. Hồ sơ của Bộ Ngoại giao Trung Quốc công bố ngày 30 tháng 1 năm 1980 viết rằng : “Trung Quốc là nước đầu tiên đã khám phá, khai khẩn, thâu huê lợi và quản lý các quần đảo gọi là Xisha (Tây Sa) và Nansha (Nam Sa). Từ ngàn năm nay, những nhà nước Trung Quốc đã liên tục đặt quyền pháp trên những nơi đây. Dân tộc Trung Hoa là người chủ hai quần đảo nầy không thể phản biện”.

Điểm ghi nhận đầu tiên là các bộ « chính sử » của Trung Quốc thì không bộ nào viết Tây Sa và Nam Sa (hay dưới các tên khác) thuộc về Trung Quốc.

Tài liệu chứng minh của hồ sơ Bộ Ngoại giao Trung Quốc là hai tác phẩm Nan Zhou Yi Wu Zhi (Nam Châu Dị Vật Chí của Vạn Chấn) và Funanzhuan (Phù Nam Truyện của Khang Thái từ thời Tam Quốc (220-265) đồng thời một danh sách 6 tác phẩm từ đời Tống đến đời Thanh (thế kỷ 11 đến thế kỷ thứ 19) : Mong Liang Lu (Mộng Lương Lục), Qao Yi Zhi Luc (Ðảo Di Chí Lược), Dong Xi Yang Kao (Ðông Tây Dương Khảo), Shun Feng Xiang Song (Thuận Phong Tương Tống), Zhi Nan Zheng Fa (Chỉ Nam Chinh Pháp), Hai Guo Wen Jian Lu (Hải Quốc Văn Kiến Lục). Hồ sơ này xác nhận rằng những tác phẩm trên đây « kể lại những cuộc hành trình của người Hoa đi đến Tây Sa và Nam Sa và những hoạt động sản xuất mà họ đã thực hiện từ hơn ngàn năm » và « đã đặt tên lần lượt cho hai quần đảo nầy với những tên sau đây : Jiurulozhou (Cửu Nhũ Loa Châu), Shitang (Thạnh Ðường), Qianlishitang (Thiên Lý Thạnh Ðường, Wanlishitang (Vạn Lý Thạnh Ðường), Changsha (Trường Sa), Qianlichangsha (Thiên Lý Trường-Sa), Wanlichangsha (Vạn Lý Trường Sa) » v.v…

Các bộ sách đã dẫn đã được nhà nghiên cứu Phạm Hoàng Quân cho là không phải là chính sử trong sử liệu Trung Quốc, talawas, 11-12-2007. Ông Phạm Hoàng Quân cũng dẫn chứng bằng các sử liệu của chính TQ là lãnh thổ của TQ chưa bao giờ vượt khỏi đảo Hải Nam

Ngoài ra, học giả Lãng Hồ Nguyễn Khắc Kham, trong Tập san Sử Địa số 29 (tháng 1 đến tháng 3 năm 1975), một tài liệu gối đầu của mọi người VN muốn nghiên cứu HS và TS, cũng đã đã bẻ gẩy mọi lý lẽ của các học giả TQ đưa ra để chứng minh HS là của TQ.

Mặt khác, bộ Nhị thập tứ sử (bộ chính sử được tất cả các triều đại Trung Quốc thừa nhận) tức từ Sử ký ghi chép từ Thượng cổ đến Tần, Hán, cho đến Minh sử; và Thanh sử cảo soạn thời Dân Quốc, ở các mục Địa Dư chí, tất cả đều không đề cập đến các hòn đảo ở xa hơn đất Nhai Châu, Quỳnh Châu, tức Hải Nam ngày nay.

Như thế, các tên Cửu Nhũ Loa Châu, Thạnh Ðường, Thiên Lý Thạnh Ðường, Vạn Lý Thạnh Ðường, Trường Sa, Thiên Lý Trường Sa, Vạn Lý Trường Sav.v… là từ đâu mà « gắn » vào HS và TS của VN ?

Theo TS Nguyễn Quang Ngọc thì các địa danh Vạn Lý Trường Sa, Thạch Đường, Thiên Lý Thạch Đường, Cữu Nhũ Loa Châu… chỉ là những địa danh phiếm, chỉ các vùng biển, đảo nguy hiểm, không thuộc TQ.

Cũng theo nhà nghiên cứu Phạm Hoàng Quân trong tài liệu dẫn trên: «xem trong Quỳnh Châu phủ chí (tức tương đương Hải Nam tỉnh chí ngày nay) do Quận thú Tiêu Khánh Thực tổ chức biên soạn vào năm Càn Long thứ 39 (1774), trong quyển 3, phần Dư địa chí, mục Cương vực, thấy chép: “… nam tắc Chiêm Thành; tây tắc Chân Lạp, Giao Chỉ; đông tắc Thiên Lý Trường Sa, Vạn Lý Thạch Đường; bắc tiếp Lôi Châu phủ Từ Văn huyện” (nam là Chiêm Thành; tây là Chân Lạp, Giao Chỉ; đông là Thiên Lý Trường Sa, Vạn Lý Thạch Đường; bắc giáp huyện Từ Văn phủ Lôi Châu). Đoạn văn hành chính về tứ cận này cho thấy rằng, Thiên Lý Trường Sa và Vạn Lý Thạch Đường (tức Tây Sa và Nam Sa theo cách nghĩ và gọi của Trung Quốc ngày nay) còn là một nơi chưa rõ chủ quyền và ngoài lãnh hải Trung Quốc mà lạinằm ở hướng Đông của Hải Nam.»

Hồ sơ của Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã trích dẫn một đọan văn và cho là của Vũ Kinh Tổng Yếu, viết dưới triều Renzong (1023-1063) Bắc Tống : Triều đình Bắc Tống « ra lệnh cho quân đội hoàng gia tuần tiễu xây dựng ở Guangnan (Quảng Nam, hiện thời là Quảng Ðông) một nơi đóng quân nhằm vào việc tuần-tiễu trên biển » và « xây-dựng những chiến-thuyền bằng loại có sống giữa (đao ngư – navire à quille)»… « Nếu người ta theo gió Ðông để cho thuyền đi về hướng Tây-Nam, mất 7 ngày để từ Tunmenshan (Ðồn Môn Sơn) đến Jiuruluozhou (Cửu Nhũ Loa Châu)».

Cho rằng Jiuruluozhou (Cửu Nhũ Loa Châu) là « quần đảo Tây-Sa », hồ sơ trên kết luận rằng « triều đình Bắc Tống đã hành sử dụng chủ quyền của mình ở quần đảo Tây Sa », và « hải quân Trung Quốc đã tuần tiễu cho đến Tây Sa ».

Nhưng sự thật thì hoàn toàn không đúng như thế. Wu Jing Zong Yao (Vũ Kinh Tổng Yếu) đã viết như sau :

« … ra lệnh cho quân đội hoàng gia thực hiện việc tuần tiễu, xây dựng một trại quân cho việc tuần tiễu trên biển tại hai bến tàu ở phía Ðông và phía Tây khoảng cách là 280 trượng, cách Tunmenshan (Ðồn Môn Sơn) 200 lí và xây dựng những chiến thuyền bằng loại có sống giữa (đao ngư).

Nếu người ta theo gió Ðông để cho thuyền đi về hướng Tây Nam, mất 7 ngày để đi từ Tunmenshan (Ðồn Môn Sơn) đến Jiuruluoshou (Cửu Nhũ Loa Châu), thêm 3 ngày nữa thì đến Pulaoshan (Bất Lao Sơn thuộc Huanzhou Hoàn-Châu), sau khi đi thêm 300 lí về hướng Nam thì tới Lingshandong (Lăng Sơn Ðông). Ở phía Tây-Nam của nơi này thì có các nước Dashifu, Sizi (Tích-Lan), Tianzhu (Thiên-Trúc). Không thể ước-lượng được khoảng cách ».

Đồn Môn Sơn là cửa sông Châu Giang, Quảng Đông. Bất Lao Sơn là cù lao Chàm, Huanzhou là nước Chiêm Thành, Dashifu, hay Dashi, theo một sách cổ của Trung-Hoa, đó chỉ một vương-quốc thời Trung-Cổ ở trong vịnh Persique ; Sizi là Srilanka (Tích-Lan) ; Tianzhu là Ấn Ðộ (theo các sách của Tangshu, Songshi, Gugintushuzisheng).

Như thế, phần trích dẫn ghi trên của Vũ Kinh Tổng Yếu, đoạn ghi lại việc hoàng đế Bắc Tống ra lệnh « xây dựng một trại quân dùng vào việc tuần tiễu trên biển » ở bến Quảng Châu, một đoạn khác mô tả vị trí địa lý của trại quân ghi trên, và một đoạn khác nữa mô tả hải trình đi từ bến Quảng Châu cho đến Ấn Ðộ Dương. Không thấy chỗ nào ghi rằng hải quân Trung Hoa đi tuần tiễu cho đến quần đảo « Xisha » (Tây Sa).

Hồ sơ của Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã cắt ra một đoạn để dán vào đó một đoạn khác, nhằm ngụy tạo bằng chứng để giành lấy Hoàng Sa của Việt Nam.

Nhưng ý nghĩa chính là TQ đặt cho HS và TS một cái tên ở một địa danh nào đó, sau đó đánh chiếm HS và TS của VN với danh nghĩa lấy lại lãnh thổ. Tuy nhiên, vì bịa ra, do đó tài liệu của TQ có nhiều mâu thuẫn không chấp nhận được.

8. Ý nghĩa của bản đồ 9 gạch

Tấm bản đồ này xuất hiện không biết chính xác từ khi nào (có nhiều nguồn nói khác nhau : xuất hiện năm 1914, 1920, 1930 ; thậm chí có nguồn nói xuất hiện từ thế kỷ 19 !) nhưng chắc chắn cũng là một thủ thuật cổ điển của TQ như dàn dựng các tên giả, hay hoán đổi tên các làng v.v… để chiếm đất của VN. TQ dựng ra tên Tiểu Đổ Chú Hà để lấy đất Tụ Long, dựng ngọn Tiểu Phân Mao Lãnh cướp đất Kiến Duyên và Bát Tràng, hoán đổi tên làng xã để chiếm đất Đèo Lương, vẽ bản đồ để chiếm thác Bản Giốc, xây đường rày xe lửa để chiếm đất Nam Quan… Chắc chắn tấm bản đồ chín gạch này dựng lên cũng để chiếm biển và đảo của VN, nó thay đổi nội dung tùy theo khả năng và tham vọng bành trướng của TQ.

Nghiên cứu bản đồ 2 ( trích từ cuốn La Chine, Une Puissance Encerclé), xem mục tham khảo) tức bản đồ xác định lãnh thổ và ảnh hưởng chính trị của Trung Quốc trước năm 1840. Ta thấy có 21 vùng đất trước 1840 thuộc Trung Hoa hay thần phục Trung Hoa (ghi theo A, B, C…), đó là :

A: đảo Sakhaline, nhường cho Nga và Nhật. B : Vùng đất Đông Bắc, phía Đông Hắc Long Giang (Amour), nhượng cho Nga theo hiệp ước Bắc-Kinh năm 1860. C : Vùng đất Đông Bắc, phía Tây Hắc Long Giang, nhượng cho Nga năm 1858 theo hiệp ước Aigun. D : Mông Cổ, tuyên bố độc lập năm 1924. E : Cộng Hòa Touva, tuyên bố độc lập năm 1921, sau đó sát nhập vào Liên Xô năm 1944. F : Vùng đất Tây Bắc, nhượng cho Nga qua hiệp ước Tacheng 1864. G : Pamir, bị Nga và Anh bí mật lấy chia với nhau năm 1896. H : Népal, độc lập năm 1898, sau đó trở thành thuộc địa Anh. J : Sikkim, Anh chiếm năm 1889. K : Bhoutan, độc lập năm 1865, sau đó trở thành thuộc địa Anh. L : Vùng biên giới Tây Bắc, bị Anh chiếm. M : Assam, Miến Điện nhượng cho Anh năm 1826. N : Miến Điện, thuộc địa Anh năm 1886. O : Đảo Andaman, thuộc địa Anh P : Thái-Lan, độc lập nhưng dưới sự kiểm soát của Anh và Pháp năm 1904. Q : Đông Dương, thuộc địa Pháp năm 1885. R : Mã Lai (phần lục địa), thuộc địa Anh năm 1985. S : Quần đảo Sulu, thuộc địa Anh năm 1895. T : Đài Loan, nhượng cho Nhật qua hiệp ước Simonoseki năm 1895. U : Quần đảo Điếu Ngư, Nhật chiếm năm 1910. V : Triều Tiên, độc lập năm 1895, trở thành thuộc-địa Nhật năm 1910.

Hai bản đồ này biểu lộ tham vọng của TQ bắt đâu từ thập niên 50. Bản đồ 2 được chính thức đưa vào học trình của chương trình trung học của bộ giáo dục Trung Quốc từ năm 1950 trong khi bản đồ chữ U thì không.

Về ý nghĩa của bản đồ chữ U, chắc chắn vào thời đó chỉ nhằm xác định các đảo trong khu vực chữ U thì thuộc về TQ. Bởi vì quan niệm về chủ quyền vùng biển chỉ mới có sau thế chiến thứ hai, qua các công ước về Biển 1958 và 1982. Trước đó thế giới chỉ có quan niệm về “lãnh hải” 3 hải lý, là tầm đạn đại bác.

Khái niệm về biển lịch sử cũng khá mới, nhưng sau đó không được thế giới chấp nhận, do đó ý nghĩa biển lịch sử chữ U của TQ không thuyết phục cộng đồng thế giới.

Tham vọng về chủ quyền trên biển của TQ bắt đầu khi nào cũng không chính xác, nhưng chắc chắn chỉ mới biểu lộ sau này. Nhiều tài liệu trên thế giới đều xác nhận rằng dân tộc Hán là một dân tộc “quay lưng ra biển, hướng vô lục địa”. Để ý bản đồ 2, vào các thập niên 40-50, TQ xem Đài Loan là vùng đã bị mất. Đảo này, chỉ sát nhập vào TQ chậm trễ dưới thời nhà Thanh, do đề đốc Thi Lang. Cho rằng TQ có chủ quyền tại HS&TS, sau đó có chủ quyền vùng biển trên bản đồ 9 gạch, thì không có gì phi lý hơn.

Ở miền Nam VN ít ai nghe nói bản đồ 9 gạch. Năm 1974, sau khi chiếm HS, cũng không nghe nói đến bản đồ chữ U. Tuy nhiên, theo tài liệu của GS Tạ Quốc Tuấn, «Vài nhận xét về lập luận của hai chính phủ Bắc Kinh và Đài Loan» viết: năm 1974, « lần đầu tiên Trung-Cộng đã công-khai bộc-lộ rõ nguyên-nhân thầm-kín thúc-đẩy việc tranh-chấp chủ-quyền trên hai quần-đảo Hoàng-sa và Trường-sa: đó là nguồn tài-nguyên thiên-nhiên ở vùng này. Thực vậy, bản tuyên-bố ngày 11.1.1974 có câu: Các tài-nguyên thiên-nhiên trong các vùng biển quanh các quần-đảo này cũng thuộc về Trung-quốc. ».Cũng từ tài liệu này, ngày 4.2.1974, Bộ Ngoại-giao Trung-Cộng lại ra một bản tuyên-bố « Chính-phủ Trung-hoa đã nhiều lần tuyên-bố là các quần-đảo Nam-sa, Tây-sa, Trung-sa và Đông-sa tất cả đều là phần lãnh-thổ của Trung-quốc và nước Cộng-hòa Nhân-dân Trung-hoa có chủ-quyền bất-khả tranh-nghị đối với các quần-đảo này và các hải-khu chung quanh các quần-đảo đó. ». Tài liệu đề cập đến từ ngữ « hải khu », tức khu vực biển, nhưng không hề đề cập bản đồ chữ U.

Tập san Sử Địa 29, Đặc khảo về HS và TS, xuất bản tháng 1 năm 1975, không có dòng nào nói đến bản đồ chữ U. Tập tài liệu La Souveraineté sur les Archipels Paracels và Spratleys của bà Monique Chemillier-Gendreau in năm 1996 cũng không có dòng nào nói đến tấm bản đồ này, ngoài hai bản đồ đính kèm như là bằng chứng của TQ đòi hỏi vùng biển.

Theo tài liệu của ông Cao Xuân Thự, Chuyên viên Vụ Biển, Ban Biên giới của Chính phủ, công bố nhân dịp hội thảo Biển Đông hồi tháng 3 năm 2009, có ghi chép : Ngày 30 tháng 7 năm 1977 : « Tám ngày sau khi ông Đặng Tiểu Bình chính thức khôi phục lại địa vị, trong một tuyên bố chính sách đối ngoại của TQ, ngoại trưởng Hoàng Hoa nói : lãnh thổ của TQ chạy xa mãi về phía nam, tận bãi Tăng Mẫu gần Bornéo của Mã Lai…, các người có thể thăm dò chúng nếu các người muốn, nhưng khi thời cơ đến, chúng tôi sẽ thu hồi chúng hoàn toàn, không cần phải thuơng lượng gì hết vì các quần đảo đó có nguồn gốc thuộc về Trung Quốc… ». Đoạn này cũng không nói đến biển chữ U mà nói các quần đảo đó có nguồn gốc thuộc về Trung Quốc…

Trên báo chí, sách vở và tài liệu nước ngoài, bắt đầu đề cập đến tranh chấp biển Biển Đông từ thập niên 80. Nguyên nhân vào năm 1980, công ty Pertamina của Nam Dương khám phá mỏ dầu ở vùng đảo Natuna, bản đồ chữ U tái xuất hiện bao gồm thêm đảo Natuna. Việc này phía Nam Dương phản đối mạnh, báo chí có nhắc nhở. Ý nghĩa của bản đồ chữ U cũng chỉ giới hạn về chủ quyền các đảo thuộc TQ.
Về văn kiện chính thức, tác giả viết bài chưa đọc hay thấy tài liệu nào từ phía TQ chính thức dẫn tấm bản đồ chữ U, ngoại trừ công hàm ngày 7 và 8 tháng năm 2009 vừa qua để phản đối hai hồ sơ của VN mà Mã Lai (nộp chung).

Như thế, tạm kết luận rằng, bản đồ chữ U từ 1982 trở về trước có ý nghĩa : TQ có chủ quyền các đảo trong khu vực đó (đồng thời giả thuyết về vùng nước lịch sử của TQ).

Từ 1982 trở đi thì bản đồ chữ U có ý nghĩa : khẳng định khu vực biển của TQ. Điều này có thể hiểu vì năm 1982 Luật Quốc tế về Biển ra đời, theo đó, các đảo cũng có hiệu lực như trên đất liền về lãnh hải, vùng kinh tế độc quyền, thềm lục địa. TQ đã thông qua công ước này năm 1996. Do đó quan niệm chủ quyền về biển chữ U của TQ, sau 1982, do hiệu lực của HS và TS (vì TQ có chủ quyền ở HS và TS theo công hàm của ông Phạm Văn Đồng). Diện tích khu vực biển này co giãn tùy theo nhu cầu và đối tượng.

Giả thuyết về biển lịch sử của TQ khó đứng vững vì công ước về Biển 1982 không có khoản nào định nghĩa về biển lịch sử.

Nhưng TQ là bậc thầy về chiến lược; họ luôn úp úp, mở mở về ý nghĩa của bản đồ này, làm nhiều người không biết TQ muốn gì .

Sau khi TQ sát nhập đảo Natuna vào bản đồ chữ U, Nam Dương phản đối mạnh mẽ, đồng thời vũ trang mạnh. Đây là nước dông dân nhất khu vực Đông Nam Á và có quân lực mạnh nhất. Từ năm 2000 trở lại đây thì bản đồ chữ U loại trừ đảo Natuna, có nghĩa là TQ đã nhượng bộ. Thí dụ khác, bản đồ chữ U từ năm 1950 thì có thêm quần đảo Sulu, nhưng những năm sau này thì bản đồ này không bao gồm quần đảo này nữa.

Trung Quốc Chính Khu

Hình trên: Bản đồ tên gọi “Trung Quốc chính khu”, theo đó quần đảo Natuna của Indonésie bị TQ “chiếu tướng” bằng hai cái nháy “’”, để mở cho mọi người hiểu sao thì hiểu.

Như thế, biển chữ U của TQ có thể rất lớn nếu các nước chung quanh lo sợ. Nhưng sẽ rất nhỏ, hay không có gì, nếu các nước chung quanh không nhượng bộ.

TQ đã ký và thông qua Luật Quốc tế về Biển 1982, bản đồ chữ U hôm nay chỉ là minh họa, thay đổi tùy theo tương quan lực lượng, nhưng chắc chắn ý nghĩa của bản đồ chữ U sẽ được TQ giải thích theo luật Biển 1982 cho dư luận quốc tế lúc cần thiết.

7. Kết luận

Ta thấy từ Tiểu Đổ Chú Hà, Tiểu Phân Mao Lãnh, đền thờ Phục Ba, đất Đèo Lương, núi Khấu Mai, đất Nam Quan, điểm nối ray, thác Bản Giốc (sau này có thêm vụ chuối xanh, vì chỉ có người Hoa trồng chuối trên biên giới), người Hoa thì đất của người Hoa, nghĩa trang người Hoa thì đất của người Hoa v.v… cho đến Thất Châu Dương, Cửu Nhũ Loa Châu, Thạnh Ðường, Thiên Lý Thạnh Ðường, Vạn Lý Thạnh Ðường, Trường Sa, Thiên Lý Trường Sa, Vạn Lý Trường Sa, bản đồ chín gạch… đều do phía TQ đặt ra để chiếm đất, chiếm đảo, chiếm biển của VN. Tất cả rõ ràng chỉ là những bịa đặt lếu láo, rất sơ đẳng, lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia, chỉ gạt được những người không biết. Đều trớ trêu là cái luận điệu sơ đẳng bịa đặt lặp đi lặp lại này đã giành được đất của dân tộc Việt Nam không biết bao nhiêu lần. Và có thể nó vẫn tiếp tục lường gạt được người Việt Nam.

Phải chăng dân tộc ta có vấn đề ?

Đến hôm nay vẫn còn học giả VN, có người vẫn ảnh hưởng hỏa mù của TQ qua các ý nghĩa của biển chữ U. Có người vẫn không dám đối diện với ý nghĩa của công hàm ông Phạm Văn Đồng, kể cả không muốn biết TQ đã có các âm mưu gì và sẽ có các âm mưu gì ?…

Khi hiểu cặn kẽ, ta có thể có các biện pháp thích ứng : Muốn đối phó với « biển lịch sử » của TQ, VN phải khẳng định chủ quyền HS và TS, khẳng định các đảo này có hiệu lực về hải phận ZEE và thềm lục địa theo định nghĩa của Luật Biển 1982. Bản đồ lịch sử chín gạch chữ U của TQ sẽ bị hiệu lực HS và TS hóa giải không còn cái gạch nào. Xem trường hợp đảo Natuna của Nam Dương thì rõ rệt. Nhưng muốn vậy, trước tiên VN phải mạnh và phải vô hiệu hóa công hàm của ông Phạm Văn Đồng. Trường hợp TQ trả đất Tụ Long cho VN năm 1724 cũng vậy, là do VN mạnh chứ không hề do hoàng đế anh minh nào cả. Nếu VN thời đó « yếu » (như hôm nay), chắc chắn Tụ Long đã mất trước khi Pháp vào VN.

Phương pháp để hóa giải bản đồ chín gạch, nếu TQ dưạ theo Luật Biển 1982 (giả thuyết này hầu như là 99%), phía VN cũng phải khẳng định chủ quyền các đảo HS&TS đồng thời đòi hỏi hải phận và thềm lục địa của các đảo theo Luật Biển 1982. Và muốn làm như thế cũng phải vô hiệu hóa trước tiên công hàm ông Phạm Văn Đồng.

Chính sách giữ nước của Đảng CSVN hiện nay có khuynh hướng hủy bỏ hiệu lực của các đảo HS và TS, tức tự hủy hoại thân thể, tự đốt nhà của mình. VN quá « yếu », không thể bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ VN, mặt khác, công hàm ông Phạm Văn Đồng đã tuyên bố HS&TS là của TQ, đòi lại sao được ? Do đó nhà nước CSVN nhất định để mất HS&TS chứ không tìm cách hóa giải công hàm này thông qua một quá trình dân chủ hóa và hòa giải dân tộc.

Dân tộc VN đổ máu làm gì để giữ những cục đá không giá trị đó nữa ?

Hồ sơ công bố của VN về thềm lục địa vừa qua đã cho thấy rõ rệt chính sách của nhà nước. Có thể có những « options » khác, có lợi cho VN, nhưng chưa chắc đảng CSVN sẽ chọn. Rất có thể quần đảo HS và TS sẽ không có hiệu lực, giá trị gì hết ! Đây là một quyết định nhất thời cứu nguy cho Đảng CSVN nhưng rất nguy hiểm, vì nó có ảnh hưởng không thể đảo ngược, làm mất vĩnh viễn quyền lợi của dân tộc VN tại HS và TS.

Vào các năm 1860 thời Tự Đức, lúc Pháp đã đặt chân ở Nam Kỳ và lăm le ra Bắc Kỳ, tình cảnh người dân Bắc Kỳ hết sức dửng dưng. Lúc quân Pháp chiếm thành Hà Nội thì dân chúng đổ ra coi, như là trò vui. Triều đình đối xử với dân như tôi mọi, như kẻ thù địch thì người dân xem việc Pháp chiếm đất là việc của nhà vua. Việt Nam thời nay không khác Việt Nam thời Tự Đức. Đất nước gặp lúc mạt vận thì dân tình nó như thế.

Nhưng nhìn lại như thế cho thấy giải pháp duy nhất để giữ nước hiện nay là « dân chủ hóa » đất nước. Đảng CSVN không thể vì quyền lợi của một nhóm người mà hy sinh quyền lợi lớn lao của cả dân tộc.

Tham khảo :

Tài liệu internet :

Tạ Quốc Tuấn, Vấn đề chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa: Vài nhận xét về lập luận của hai chính phủ Bắc Kinh và Đài Loan

Phạm Hoàng Quân, Tây Sa và Nam Sa trong sử liệu Trung Quốc, talawas, 11-12-2007

Nguyễn Quang Ngọc, Địa danh Trung Quốc các quần đảo giữa Biển Đông, Lịch sử một thế kỷ chuyển đổi, www.hoangsa.org

Cao Xuân Thự, Điểm lại những sự kiện chính trong cuộc tranh chấp chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và mấy nhận xét về cách gây xung đột về biển giữa Trung Quốc và Việt Nam, www.hoangsa.org

Tài liệu đóng tập :

Tập san Sử Địa số 29, Đặc khảo về Hoàng Sa và Trường Sa, Văn Nghệ Khai Trí, từ tháng 1 đến tháng 3 năm 1975

Chemillier-Gendreau, Monique. La Souveraineté sur les Archipels Paracels et Spratleys. Harmattan, 1996

Fourniau, Charles. Vietnam Domination coloniale et résistance nationale 1858-1914. Les Indes Savantes, 2002

Brisset, Vincent. La Chine, Une Puissance Encerclé ?, IRIS, 2002

Tình hình Trung Quốc lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam từ năm 1954 đến naycủa NXB Sự Thật, năm 1979

Tài liệu thuộc văn khố CAOM, Pháp :

Deloustal. Les Mines de Tu-Long. AOM. Cote B 2899 ou B 6326.

Dévéria, La Frontière Sino-Annamite. Descriptions Géographique et Ethnographique. AOM, cote D 1198

Famin, Au Tonkin et sur la frontière du Quang-Si. SOM, cote C 43.

Dr Néïs , Sur Les Frontières Du Tonkin – Le Tour Du Monde, năm 1887. CAOM. BIB, SOM, Cote 20.543.

Les Frontières du VietNam. Histoire des Frontières de la péninsule Indochinoise. Paris, l’ Harmattan. 1989. AOM. Cote 42934.

Ministère des Affaires Etrangères de la RSVN 1981. Les Archipels Hoang-Sa et Truong-Sa.

Hồ sơ Phân định Biên giới 1886-1894 : Cartons : 65353, 65354, 65355, 65356, 65357, 65358, 65359, 65360. Indo, GGI.

Tài liệu Văn khố Bộ Ngoại giao Pháp :

Hồ sơ « Công ước Pháp-Thanh 1887 ».

lundi 11 août 2014

Góp ý với ba vị giáo sư có 30 năm kinh nghiệm giảng dạy ở Hoa Kỳ

Thật tình tôi không thể chia sẻ bất kỳ ý tứ nào của của ba vị (giáo sư tiến sĩ có hơn 30 năm giảng dạy ở Hoa Kỳ) trong bài phỏng vấn của BBC ở đây.

Bài phỏng vấn có tựa đề: “Hoàng Sa-Trường Sa : hợp tác để chia sẻ”.

Ý kiến của ba vị này, như theo ông GS Trần Hữu Dũng :

“Tôi nghĩ rằng Việt Nam hơi sai khi đặt nặng vấn đề về chủ quyền hơn là vấn đề an ninh khu vực và tự do khu vực.”

Vấn đề đặt ra là : VN hợp tác với ai, về cái gì và chia sẻ với ai, về cái gì ?

Nói về Hoàng Sa. TQ đã chiếm quần đảo này (trên tay VNCH) từ năm 1974.

Nếu chỉ tính từ biến cố giàn khoan 981, lý do mà TQ đưa ra trước quốc tế để bào chữa cho hành động đặt giàn khoan này là : 1/ Hoàng Sa là lãnh thổ của TQ. 2/ Vị trí đặt giàn khoan 981 thuộc về thềm lục địa của các đảo HS.

Ban đầu TQ cho rằng vị trí giàn khoan nằm trong “lãnh hải” của đảo Tri Tôn. Sau đó họ nhận ra rằng việc này là không đúng, vì vị trí giàn khoan nằm cách đảo Tri Tôn đến 17 hải lý (trong khi bề rộng lãnh hải theo luật định chỉ có 12 hải lý). Vì vậy họ mới chữa là giàn khoan nằm trong vùng “tiếp cận lãnh hải” của đảo Tri Tôn. TQ còn nói thêm rằng, dầu thế nào thì giàn khoan cũng nằm trong hải phận của các đảo HS (nếu tính hiệu lực các đảo như Phú Lâm…)

Thử đặt giả thuyết, VN không đặt nặng vấn đề chủ quyền như ý kiến của các giáo sư : (Hoàng Sa là của VN), thì VN chỉ có lý do duy nhất để phản bác hành vi của TQ (khi đặt giàn khoan 981) là các đảo Hoàng Sa quá nhỏ (để có hải phận kinh tế độc quyền).

Nhưng khi nói vậy, thứ nhứt VN mặc nhiên nhìn nhận HS thuộc chủ quyền của TQ. Thứ hai, tranh chấp giữa VN và TQ trở thành tranh chấp về việc cách diễn giải điều 121 của Luật Biển 1982 về hiệu lực các đảo, mà điều này phần thua 99% thuộc về VN. Bởi vì Luật Biển 1982 không hề phân biệt đảo nhỏ hay đảo lớn (để có vùng kinh tế độc quyền 200 hải lý) mà chỉ phân biệt đảo mà con người có thể sinh sống và có nền kinh tế tự túc hay không.

Quan niệm như vậy, TQ sẽ không cho VN “hợp tác” và “chia sẻ” bất cứ cái gì (như hiện nay) ở Hoàng Sa (và vùng biển chung quanh).

Tức là nếu VN không đặt nặng vấn đề chủ quyền (Hoàng Sa là của VN), có nghĩa là VN sẽ phải “chia sẻ” và “hợp tác” với TQ  vùng biển (và thềm lục địa) của mình, từ bờ biển miền Trung cho đến đảo Tri Tôn.
Phải chăng ý kiến của ba vị giáo sư “có 30 năm kinh nghiệm giảng dạy tại Hoa Kỳ” (sic!) là vậy ?

Còn về an ninh và tự do hàng hải, thực ra, nếu nhìn sâu xa, thì hiện nay VN mới là bên có thể đe dọa “an ninh” và “tự do hàng hải” trong Biển Đông hơn cả TQ. Trong một mức độ chiến thuật, nếu khủng hoảng giàn khoan 981 bùng nổ, thì chỉ phía VN là bên có khả năng “ngăn chặn” tất cả các tàu buôn, của TQ hay của các nước khác, qua lại. Hải quân TQ chưa đủ mạnh để có thể kiểm soát Biển Đông. Trong khi vùng biển Hoàng Sa thì không hề nằm trên trục qua lại của tàu bè các nước. Do đó, khi Hoa Kỳ cũng như các nước lo ngại vụ giàn khoan 981 sẽ đe dọa an ninh khu vực, phần lớn là do từ khả năng “du kích đại dương” của VN mà ra, chứ không phải đe dọa từ TQ.

Cá nhân tôi nhận thấy rằng, trong vấn đề giàn khoan 981, phản ứng của VN như vậy là khá hợp lý, trong khi phía TQ có lẽ đã phạm sai lầm. VN đã sử dụng thành công các mặt vận động dư luận, vận động về pháp lý, kể cả việc răn đe… Điều còn lại là VN nên nắm lấy cơ hội để đưa tranh chấp Hoàng Sa ra một trong tài quốc tế.

Câu hỏi đặt ra, ở Hoàng Sa, điều hợp lý là VN phải “đặt nặng” hay “đặt nhẹ” vấn đề chủ quyền ?

Còn ở khu vực Trường Sa, vấn đề cũng đặt ra là : VN hợp tác với ai, về cái gì và chia sẻ với ai, về cái gì ?
Giả sử nếu không có TQ, thì tranh chấp Trường Sa giữa VN với các nước Phi, Mã Lai, Indonésie… sẽ không là việc khó. VN có thể tuyên bố các đảo này quá nhỏ để có hiệu lực về ZEE, hoặc đề nghị một vùng khai thác chung trong vùng biển thuộc Trường Sa. Các đề nghị này đều có thể được người dân VN dễ dàng chấp nhận.

Vấn đề nổi cộm là đòi hỏi phi lý của TQ về chủ quyền các đảo TS cũng như vùng biển chung quanh (và vùng biển theo đường chữ U).

VN và các nước liên quan có thể “hợp tác” và “chia sẻ” cái gì ở Trường Sa với Trung Quốc ?

Vấn đề là TQ muốn gì ?

Đối với VN, trong quá khứ, TQ chiếm một số đảo của VN năm 1988, thảm sát gần trăm binh lính VN (không cầm khí giới). Thập niên 90, TQ đã cho các tập đoàn dầu khí (của Hoa Kỳ) khai thác trên thềm lục địa của VN, thuộc vùng Tư Chính- Vũng Mây (mà TQ gọi là Vạn An Bắc), cách bờ biển VN khoảng 300km. Gần đây TQ cho gọi đấu thầu khai thác dầu khí trên các lô thuộc thềm lục địa của VN, cách bờ biển các tỉnh miền Trung chỉ hơn 100km. Ngoài ra còn có các hành vi ngang ngược như cắt cáp tàu Bình Minh, ra lệnh cấm đánh cá…

Đối với Phi, TQ chiếm đảo Vành Khăn (thập niên 90). Gần đây chiếm bãi cạn Scarborough, đe dọa chiếm bãi Cỏ Rong…

Đối với Indonésie, TQ mở tranh chấp lãnh thổ ra tới đảo Natuna. Với Mã Lai thì cho tàu bè chiếm đóng các bãi cạn…

Bỏ các nước kia ra một bên, VN có thể « chia sẻ » cái gì với TQ ? Vùng Tư Chính – Vũng Mây ? Hay thềm lục địa miền Trung (khu vực giữa đá Gạc Ma và bờ biển VN) ?

Không thấy quí vị giáo sư “có 30 năm kinh nghiệm giảng dạy tại Hoa Kỳ” (sic!) nói rõ ý kiến « chia sẻ và hợp tác », trường hợp với TQ, là chia ở đâu, và chia như thế nào ?


Theo tôi, nếu VN không đặt nặng vấn đề chủ quyền : Trường Sa là của Việt Nam, thì VN sẽ không có cách nào khả dĩ bảo vệ được quyền lợi chính đáng của mình trước những yêu sách ngang ngược của TQ.