lundi 6 juillet 2015

Hy vọng gì ở chuyến viếng thăm Mỹ của ông Trọng ?


Chuyến đi thăm Mỹ của ông Nguyễn Phú Trọng đã được lên lịch trình sau nhiều lần đình lại. Tin tức cho biết, chuyến đi sẽ bắt đầu từ ngày 6 và kết thúc ngày 10 tháng 7. Ông Trọng sẽ được TT Obama tiếp đón tại Nhà Trắng ngày 7-7. Đây là lần đầu tiên, sau 20 năm bình thường hóa ngoại giao, một tổng bi thư đảng CSVN, trên danh nghĩa là người lãnh đạo tối cao, thăm viếng một nước cựu thù địch.

Lãnh đạo CSVN muốn gì trong chuyến đi này ? Người VN « bình thường » nghĩ gì, hy vọng gì về chuyến đi này ?

1/ Dĩ nhiên hy vọng của lãnh đạo CSVN là Mỹ nhìn nhận tính chính thống lãnh đạo của đảng CSVN.

Ta biết điều này qua nội dung bản trả lời phỏng vấn báo chí của Ông Trọng hôm đầu tháng 7. Ông Trọng cho biết ông đi Mỹ là để « thảo luận cởi mở và thẳng thắn những vấn đề còn khác biệt ». Mọi người có thể thấy một trong « những vấn đề còn khác biệt » kia (lời tiếp theo của ông Trọng) là : « tôn trọng chế độ chính trị lẫn nhau ».

Chế độ chính trị của VN là đảng cộng sản lãnh đạo. Tổng bí thư đảng nắm quyền lực tối cao.

VN và Mỹ chính thức thiết lập bang giao 11 tháng 7 năm 1995. Hành vi này mặc nhiên nhà nước Mỹ nhìn nhận sự hiện hữu của quốc gia Việt Nam có tư cách pháp nhân trước công pháp quốc tế. Mỹ nhìn nhận sự « toàn vẹn lãnh thổ » của VN, nhìn nhận tư cách « công dân mang quốc tịch VN » và nhìn nhận chính phủ VN, tức người đại diện quốc gia VN.

Các tuyên bố chung hai nước Việt-Mỹ gần đây thấy xuất hiện những giòng chữ : « hai bên tôn trọng thể chế chính trị, độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và luật pháp của mỗi nước ». Điều này đến từ tháng 9-1995, sau khi Mỹ tuyên bố tham gia Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác tại Đông Nam Á (TAC) với ASEAN. Tinh thần của hiệp ước TAC là các nước tôn trọng chế độ chính trị của nhau, không can thiệp vào chuyện nội bộ của nước khác. VN là một nước thuộc khối ASEAN, vì vậy Mỹ phải tôn trọng những điều trên.

Nhưng ý kiến « tôn trọng chế độ chính trị lẫn nhau » chưa chắc hàm ý nhìn nhận tính chính thống lãnh đạo của đảng CSVN.

Từ sau khi bang giao, đã ba lần tổng thống Mỹ tiếp đón đại diện chính phủ VN tại Nhà Trắng. Hai lần tiếp thủ tướng (Phan Văn Khải và Nguyễn Tấn Dũng) và một lần tiếp chủ tịch nước Trương Tấn Sang. Chưa có tổng bí thư đảng nào được hân hạnh như vậy.

Vấn đề là nguyên tắc. Tổng bí thư là người đại diện cho một đảng chứ không đại diện cho quốc gia.

Vấn đề là Mỹ đã cam kết « tôn trọng luật pháp của nhau », mà hiến pháp VN nhìn nhận đảng CSVN nắm mọi quyền lực quốc gia, là lực lượng lãnh đạo xã hội.

Nghe báo chí nói rằng Obama sẽ tiếp đón ông Trọng tại Nhà Trắng. Vấn đề là « thể thức tiếp đón ra sao » ? Có lẽ đây là một nhượng bộ lớn lao của Obama đến từ những « áp lực chính trị » trong nước. Những chậm trễ trong chuyến đi của ông Trọng là đến từ việc hai bên chưa thống nhứt về thể thức tiếp đón.

TT Obama không thể tiếp đón ông Trọng như một « đại diện của quốc gia », ít nhứt vì những lý do sau đây :

Đảng CSVN không có tính chính thống.

Những người ủng hộ đảng CSVN cầm quyền thường biện luận rằng đảng CSVN đã « lãnh đạo dân tộc giành lại độc lập ». Giả sử đó là một sự thật lịch sử, không có điều gì cần tranh biện. Thì những người cộng sản hôm nay cũng không thể vịn vào lý do này để tiếp tục giành quyền lãnh đạo. Cá nhân những người cộng sản hôm nay không có công lao nào đóng góp cho công cuộc dành độc lập xảy ra từ nhiều thập kỷ trước. Những người « có công », tức những người có tham gia vào cuộc chiến, đã không còn bao nhiêu người. Trong đảng hiện nay không có ai có công lao (giành lại độc lập) để đặt nền tảng làm sự « chính danh ».

Tính chính thống không có « kế thừa ». Việc kế thừa chỉ hiện hữu dưới chế độ « quân chủ » lạc hậu.

Tính chính thống cũng không đến từ « chuyên chính vô sản ».

Đảng cộng sản nào cũng cho rằng họ có tính « chính thống » để lãnh đạo đất nước, vì họ đại diện cho số đông (nhân dân vô sản) trong xã hội.

Đảng CSVN hiện nay không còn đại diện cho quyền lợi của « số đông », tức giai cấp công nhân, nông dân, những người lao động nghèo… trong xã hội. Trên thực tế, đảng CSVN là đại diện cho tầng lớp tư bản hoang dã, tầng lớp đầu cơ trục lợi cũng như tầng lớp tư bản nước ngoài… Những ngày gần đây lãnh đạo CSVN van nài Mỹ nhìn nhận VN là nước « kinh tế thị trường ». Tức là chính họ đã phủ nhận tính chính thống lịch sử của những người cộng sản.

Quyền lực của đảng CSVN không hề do nhân dân trao phó qua một cuộc bầu cử. 

Đảng CSVN, mặc dầu được hiến pháp chỉ định là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội, nhưng đảng này không hề chịu trách nhiệm trước pháp luật.

Điều quan trọng hơn cả, bản báo cáo về nhân quyền vừa được công bố, VN được xếp vào hạng những nước nhân quyền bị đàn áp tồi tệ nhứt.

Nhà nước Mỹ có thể máy móc tôn trọng « pháp luật » VN, như cam kết trong Hiệp ước TAC và những Tuyên bố chung với VN, đến mức tôn trọng một đảng đứng trên mọi qui định của pháp luật ?

Có thể tổng thống Obama, do áp lực của các « lobby » kinh tài, sẽ nhượng bộ và tiếp đón ông Nguyễn Phú Trọng như là người chính đáng lãnh đạo quốc gia Việt Nam. Có thể ông Trọng đạt được nguyện vọng : Mỹ nhìn nhận tính chính thống lãnh đạo của đảng CSVN. Nhưng việc này thực hiện thì các giá trị nền tảng của chế độ Mỹ sẽ sụp đổ.

2/ Người dân "bình thường" nghĩ gì về chuyến viếng thăm Mỹ của ông Trọng ?

Lịch sử VN cho thấy, không có ngoại lệ, vận mệnh VN luôn gắn liền « chính trị, văn hóa, ý thức hệ » với một « nước lớn ».

Trong một thời gian rất dài (như lịch sử), VN lệ thuộc vào TQ. Về mô thức tổ chức hành chánh và quân quyền, Việt Nam là một « đế quốc Trung Hoa » thu nhỏ lại. Về văn minh, VN cũng là một bản sao (không trọn vẹn) của nền văn minh TQ. Chỉ đến khi Pháp vào VN, văn hóa Trung Hoa mới mờ nhạt đi và dân VN tiếp nhận một nền văn minh mới của Tây phương. Tiếp theo, giai đoạn thuộc Nhật quá ngắn ngũi để nền văn hóa này lưu lại dấu ấn. Từ năm 1954 miền Bắc lệ thuộc ý thức hệ chính trị vào khối XHCN gồm TQ và LX ; miền Nam dựa vào Mỹ. Sau 1975 VN hoàn toàn ngả về LX. Đến thập niên 90 lại ngả về TQ.

Chế độ chính trị VN hôm nay cũng là một bản sao chế độ chính trị của TQ. Ngày trước triều đình, cung điện Bắc Kinh ra sao thì triều đình Huế (hay Hà Nội trước đó) cũng y như vậy, nhưng với một mức độ khiêm tốn hơn. Bây giờ không khác, người ta không tìm ra sự khác biệt về mô hình chính trị và mô thức phát triển giữa hai nước VN và TQ hiện nay.

Nếu nhìn lại chiều dài lịch sử « bản sao chính trị và văn hóa » kia, giai đoạn nào đã đem lại « ấm no và hạnh phúc » thực sự đến cho người dân VN ?

Người Nhật sau khi « thoát Trung » thì nhanh chóng trở thành cường quốc. Đại Hàn cũng vậy. Thậm chí các nước như Đài Loan, Singapour… mặc dầu dân chúng là người gốc Hoa, nhưng bản chất của họ là « thoát Trung », vì vậy cũng trở thành những quốc gia cường thịnh.

"Thoát Trung" là yếu tố phát triển. Người dân có thể hy vọng chuyến đi của ông Trọng là một dấu hiệu « thoát Trung » ?

Còn quá sớm để nói. Bởi vì, hai đảng cộng sản VN và TQ là hai đảng « anh em ». Nhân sự đảng CSVN có mối quan hệ « hữu cơ » với TQ. Thoát ra không dễ.

3/ Tương lai Việt Nam.

TQ và Mỹ, cả hai đều là « cựu thù » của VN. Vấn đề là VN đã lựa chọn TQ.

Nếu so sánh, với Trung Quốc, hai bên đối đầu trong cuộc « chiến tranh biên giới » và « cuộc chiến Kampuchia », từ năm 1979 cho đến đầu thập niên 90, thì vết thuơng chiến tranh giữa VN và TQ lại sớm lành da hơn là đối với Mỹ.

Chiến tranh Việt-Mỹ đã chấm dứt từ 40 năm, đến nay vẫn chưa có TBT đảng CSVN nào thăm Mỹ. Trong khi đối với TQ, chỉ cần 10 năm hai bên đã khép lại hận thù. Hội nghị Thành Đô tháng 9 năm 1990, toàn thể lãnh đạo tối cao VN, từ Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, thủ tướng Đổ Mười cho đến cố vấn Phạm Văn Đồng… tất cả đều có mặt. 

Quan hệ ngoại giao với TQ được thiết lập một cách nhanh chóng và tình hữu nghị hai bên được kết nối trên phương châm « 4 tốt và 16 chữ vàng » : « bạn bè tốt, láng giềng tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt » và « láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai », theo như tinh thần của hội nghị Thành Đô năm 1990.

Quan hệ hai bên Việt-Trung, từ năm 2008, là « quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện ». Hệ thống chính trị, chế độ, cách tổ chức quốc gia, kinh tế… VN rập khuôn TQ.

Đối với Mỹ, cuộc chiến kết thúc năm 1975 nhưng đến năm 1995 hai bên mới thiết lập bang giao. Tổng thống Bill Clinton là người quyết định bãi bỏ cấm vận thuơng mại và thiết lập bang giao với VN ngày  11 tháng 7 năm 1995. Hai bên cũng ký hiệp định thuơng mại song phương vào tháng 7 năm 2000.

Nhưng sau 40 năm VN vẫn không quên thù cũ. Ngày 30-4 vừa qua, TT Nguyễn Tấn Dũng qua bài diễn văn đã lên án tội ác của đế quốc Mỹ đối với nhân dân và đất nước.

Những tấm bia « thù hận » ghi « tội ác » của Mỹ còn rải rác trên bốn miền đất nước. Chúng vẫn được bảo trì cẩn thận. Trong khi đối với TQ, cuộc chiến biên giới khốc liệt, TQ đã tàn phá thành bình địa tất cả các tỉnh dọc theo biên giới, gây ra biết bao tội ác chiến tranh và tội ác diệt chủng. Hiến pháp VN 1980 ghi nhận TQ là « bọn bá quyền xâm lược ». Dầu vậy, những nghĩa trang liệt sĩ của quân đội VN trên vùng biên giới bị bỏ hoang phế. Những tấm bia chiến tích, hay những tấm bia ghi tội ác của quân TQ… thì đã bị dẹp bỏ từ lâu. Ngay cả trong sử sách, nếu không có sử « ngoài luồng », thì sinh viên, học sinh VN sẽ không biết đã có cuộc chiến khốc liệt với TQ đầu năm 1979.

VN đã trở thành một thuộc địa kiểu mới của TQ. Bình tâm nhìn lại quá trình bang giao VN và TQ từ 1990 đến nay, đúng  như lời ông Nguyễn Cơ Thạch đã nói : VN đã sa vào vòng bắc thuộc mới. Lãnh đạo ở Ba Đình hiện nay đều là những tiết độ sứ, an nam quốc vương… những thứ mà thiên triều sắc phong để cai trị dân VN.

Nhưng vấn đề Biển Đông đã làm bộ máy đang chạy trơn tru của Bắc Kinh đặt tại Ba Đình bỗng nhiên chựng lại. Dân VN không quá mù quáng để không nhìn thấy những hành vi bành trướng của TQ.

Trước sự phản đối của dân chúng (và một thành phần không nhỏ trong đảng), lãnh đạo VN bắt buộc phải xét lại quan hệ với TQ. 

Đây là đốm hy vọng nhỏ nhoi để VN có thể « thoát Trung ».

VN không thể rập khuôn Bắc Kinh (từ mô hình phát triển kinh tế cho đến mô thức chính trị), mà có thể dựa vào Mỹ để chống lại TQ, bảo vệ lãnh thổ và quyền lợi của mình ở Biển Đông.

VN và Mỹ phải có những điểm chung, như chia sẻ những giá trị nền tảng về nhân quyền, để có thể xây dựng « niềm tin chiến lược » trong tương lai. Đến nay, Mỹ vẫn xếp VN vào đối tác « có thể tin cậy », chứ chưa hề « tin cậy » về chiến lược.



Như vậy quyết định có « thoát » để tiến bộ hay không là ở VN chứ không phải do Mỹ.

vendredi 3 juillet 2015

Về ý kiến của ông Vương Nghị trước báo chí ngày 27-6-2015

Nhân trả lời báo chí 27-6-2015 về vấn đề chủ quyền của TQ tại Trường Sa, Bộ trưởng bộ Ngoại giao TQ, Ông Vương Nghị vừa phóng đại, vừa nhập nhằng một số điều, khiến trắng đổi thành đen, không biến thành ra có. Ông cho rằng rằng 1.000 năm trước TQ là một « quốc gia đi biển lớn », do đó TQ là nước đầu tiên phát hiện, khai thác và quản lý quần đảo Trường Sa. Ông cũng nhấn mạnh rằng nếu thay đổi lập trường ở Biển Đông là TQ có lỗi với tổ tiên (sic !)

Vấn đề thực ra không phải vậy !

Một ngàn năm trước TQ không hề là một « quốc gia đi biển lớn ». Lịch sử thế giới chưa từng ghi nhận bất kỳ một « khám phá » của TQ liên quan đến biển như những nhà hải hành Tây phương Christophe Colomb, Magellan, Jacques Cartier, Amerigo Vespucci... Những công trình lớn của TQ đều hướng về lục địa, như Vạn lý Trường thành. Mục đích của công trình này để chống lại kẻ thù đến từ phương bắc. Tất cả những kẻ thù của người Hán đều đến từ lục địa. Cho đến thế kỷ 19, lúc TQ bị đe dọa phân liệt trước các đại cường Tây phương, những kẻ thù đến từ phía biển, thì quân đội TQ cũng vẫn tập trung lực lượng để bảo vệ miền Tây (Tân Cương). Ngân sách dành cho các công cuộc « Dương vụ vận động » nhằm phát triển hải quân chỉ chiếm một phần rất nhỏ trước ngân sách của đạo quân chinh tây. Những điều này khiến ta khẳng định rằng TQ không có văn hóa biển. Trong lịch sử TQ 5.000 năm, chưa hề thấy ghi lại một trận hải chiến nào. Các tập « binh thư » của các chiến lược gia TQ (như Tôn Tử) không hề nói đến một trận hải chiến. Họ có nói vài trận về « thủy chiến », nhưng ở đây là trên sông. Từ sông ra đến biển là bề dài hàng trăm năm phát triển. Tài liệu Tây phương về TQ đều ghi nhận một điều : TQ là một đế quốc hướng về lục địa. Chỉ đến cuối thế kỷ 19, trước sự phát triển thần kỳ của Nhật, thì TQ mới bắt đầu để ý đến việc chỉnh đốn hải quân. Nhưng việc này đã quá trễ. TQ đã thua Nhật trong trận hải chiến Áp lục phải kỳ hiệp ước Simonoseki 1895 bồi thường cho Nhật một cách nhục nhã.

Trong khi một ngàn năm trước, các nước chung quanh, họ đã là những giống dân đi biển, sống bằng nghề biển. Có thể họ là những quốc gia nhỏ hơn, nhưng chắc chắn người dân này đi biển thành thạo hơn dân TQ. Trường hợp VN, thời Trịnh Nguyễn phân tranh, hàng năm quân đội các bên đã có những cuộc tuần du trên biển nhằm chinh phạt địch thủ của mình. Họ thuộc địa hình Biển Đông như lòng bàn tay. Bởi vì những người dân ở đây sống gần biển, họ lặn ngụp bắt cá, bắt ốc, bắt rùa… ở các bãi đá ở Trường Sa. Họ không hề lớn tiếng tuyên bố « khám phá » Trường Sa (như ông Vương Nghị). Đơn giản vì họ sinh sống ở đó. Vùng biển có các bãi đá đó là không gian sinh tồn của họ.

Cũng không có sách vở nào ghi lại rằng TQ là nước « phát hiện » Trường Sa.

Tất cả tài liệu của TQ đã công bố đều chỉ nói một cách sơ lược về một số chuyến du hành trên Biển Đông. Nếu những chuyến đi thế này là « phát hiện » thì đương nhiên TQ là kẻ đi sau. Dân các nước chung quanh họ sống chung quanh đó, không phải họ là người đầu tiên phát hiện thì ai vào đây ?

Không hề có bản đồ hải hành nào của người Châu Âu ghi nhận TS là của TQ. Trước đây khoảng một thế kỷ, các nhà hải hành thế giới không phân biệt Hoàng Sa và Trường Sa (Paracel và Spratleys). Hầu hết các bản đồ của các thế kỷ 16, 17, 18… đều gom hai quần đảo này vào làm một (dưới cái tên là Parcel). Một số bản đồ thì ghi "Paracal-Annam", tức Paracel thuộc Việt Nam. Cái tên Spratleys cũng chỉ mới có đây thôi.

Năm 1909 nhà nước TQ khẳng định (với dư luận quốc tế) rằng lãnh thổ cực nam của TQ là đảo Hải Nam. Đến năm 1932 thì nhà nước này tuyên bố lãnh thổ cực nam của họ là Hoàng Sa. Đến năm 1935, trên các bản đồ của TQ còn ghi bãi Scarborough là Nam Sa. Tức cái tên mà họ ngày nay gán cho Trường Sa của VN. Đến năm 1947 thì họ mới đẻ ra cái tên Trung Sa quần đảo, gộp Scarborough và bãi ngầm Macclesfeild vào trong đó. Scarborough đặt tên là Hoàng Nham và Nam Sa đặt cho Trường Sa của VN.

Ngay cả cái tên mà họ còn lúng túng, lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia thì « phát hiện » và « khai thác » cái gì ?. 

TQ cũng chưa từng « quản lý » Trường Sa. Việc Đài Loan chiếm đảo Ba Bình năm 1956 là chiếm một lãnh thổ đã có chủ.

Bởi vì, sau Thế chiến II, Nhật thua trận phải từ bỏ tất cả các lãnh thổ mà họ chiếm hữu trước kia (trong đó có VN cũng như hai quần đảo HS và TS). Vấn đề là các lãnh thổ này trả lại cho ai ?

Nước Anh lãnh nhiệm vụ giải giới quân Nhật ở VN phía nam vĩ tuyến 16, Trung Hoa Dân quốc (của Tưởng Giới Thạch) giải giới quân Nhật ở phía bắc vĩ tuyến 16.

Vấn đề là, Anh nhượng quyền lại cho Pháp, vì họ xem Đông Dương thuộc Pháp. Song song đó Pháp ký các thỏa ước Trùng Khánh với Tưởng vào tháng 2 năm 1946, theo đó Pháp nhượng lại cho TQ đất đai và một số đặc quyền về kinh tế (như đường xe lửa Vân Nam). Đổi lại Pháp vào thế chân TQ.

Tại các đảo HS quân đội Pháp Việt có mặt vào tháng 4 năm 1946 để dựng lại mốc chủ quyền. Quân đội Pháp Việt làm tương tự vào tháng 10 năm 1946.

Tại Hội nghị San Francisco 1951, thủ tướng QGVN là ông Trần Văn Hữu đã tuyên bố thâu hồi hai quần đảo HS và TS về cho VN.

Chủ quyền của VN tại HS và TS đã tái khẳng định, bằng các thủ tục theo đúng thông lệ quốc tế, ở các năm 1946 và 1951.

Vậy TQ quản lý bằng hình thức nào quần đảo TS ?

Ông Vương Nghị còn nói : thay đổi lập trường ở Biển Đông là TQ có lỗi với tổ tiên (sic !)

Nhân ông Vương Nghị nói về tổ tiên TQ. Một câu hỏi là : tổ tiên của TQ là tổ tiên nào ?

Lịch sử dân tộc Hán là lịch sử của sự bành trướng thường trực. Ngay ở lá cờ của TQ hiện nay, năm ngôi sao biểu tượng cho 5 dân tộc Hán, Mông, Mãn, Tạng, Hồi.

Nếu là ông tổ Mãn Châu thì ông này đang đấm ngực kêu trời vì bầy con cháu đã quên mất cội nguồn. Dòng tộc dũng mãnh đã chiến thắng quân Hán và thiết lập nên triều Mãn Thanh sáng chói trong lịch sử nay đã xóa mờ trong ký ức người dân Mãn. Mà thời gian đâu có bao lâu ?

Nếu là ông tổ người Mông Cổ thì ông này cũng đang đấm ngực kêu trời, thuơng tiếc đế quốc Nguyên do Thành Cát Tư Hãn lập nên, mà lũ cháu con vô dụng đã làm mất một nửa bờ cõi là vùng Nội Mông cho dân Hán.

Nếu ông tổ là dân Tây Tạng thì ông này đang… lưu vong với đức Đại Lai Lạt Ma. Dân tộc này đang nguyền rủa dân Hán, thứ nhứt vì dã tâm xóa bỏ nền văn hóa Tây Tạng, thứ hai đã cướp đất và đồng hóa người dân của họ.

Hay ông tổ là Mao Trạch Đông với núi xương chồng chất của gần 100 triệu người dân chết vì đói, vì hiệu quả của cách mạng văn hóa ?

Hay ông tổ là Tưởng Giới Thạch, một tay quân phiệt tham nhũng tới xương, đến đỗi người Mỹ phải chấp nhận bỏ lục địa cho cộng sản vì không thể giúp cho cái túi tham không đáy… ?

Tổ tiên của ông Vương Nghị, là người Hán, thì lãnh địa của ông tổ này không ra khỏi lưu vực sông Hoàng Hà.

Theo tôi, lời nói của ông Vương Nghị đã làm cho tổ tiên của ông hổ thẹn. Những vị tổ này không ngờ cháu con mình có thể ăn nói ngược ngạo như vậy.


Nhưng chủ nghĩa bành trướng của dân tộc Hán vẫn tiếp tục không ngừng nghỉ. Họ bắt đầu xoay mặt ra biển. Năm 1974 TQ đã chiếm HS của VN bằng vũ lực. Năm 1988 TQ đã chiếm một số bãi đá của VN thuộc quần đảo Trường Sa bằng vũ lực.  Bây giờ họ gấp rút xây dựng và mở rộng các bãi đá chiếm được của VN năm 1988 để mưu đồ chiếm lĩnh Biển Đông.  

mercredi 1 juillet 2015

Đâu là những toan tính của TQ trong những ngày sắp tới ?

Giàn khoan 981 của TQ lần nữa lại đưa vào khai thác ở một khu vực biển ngoài cửa vịnh Bắc Việt trong lúc Tòa Trọng tài Quốc tế vào tháng 7 sắp tới sẽ nhóm phiên họp đầu tiên về vụ Philippines kiện TQ.

Hồi tháng 5-2015 giàn khoan này được đưa đến một vùng mà TQ đặt tên là mỏ Lăng thủy. Đến ngày 26 tháng 6 vừa qua thì nó lại chuyển dịch chút ít. Vị trí giàn khoan hiện nay, theo báo chí đăng tải thì cách bờ biển Hải Nam 68 hải lý và cách bờ biển VN 104 hải lý. Khu vực biển này nếu so với khoản cách hai bờ biển của hai nước thì không thuộc vùng tranh chấp. Nhưng nếu ta tính đến yếu tố quần đảo Hoàng Sa thì giàn khoan nằm trong vùng biển có tranh chấp.

Có lẽ đây không phải là một vấn đề đơn thuần về kinh tế (khai thác dầu khí) mà là một hành động chính trị có tính toán của TQ.

Những tính toán này, thứ nhứt là làm áp lực với ông Nguyễn Phú Trọng nhân chuyến viếng thăm nước Mỹ, theo lịch trình thì sẽ bắt đầu vào tuần lễ thứ hai của tháng 7. Rất có thể trong vài ngày tới giàn khoan này sẽ di dịch về phía bờ biển VN, ở một vị trí gây tranh cãi tương tự như hồi năm ngoái, để làm áp lực với ông Trọng, nếu ông này biểu lộ những ý tưởng thân Mỹ. Điều này thì nhiều người đã nói lên trên báo chí trong những ngày qua.

Mặt khác giàn khoan cũng có thể được TQ sử dụng nhằm đánh lạc hướng dư luận để rảnh tay củng cố hạ tầng cơ sở ở các đảo.

Nhớ lại tháng 5 năm ngoái khi giàn khoan 981 đặt trên thềm lục địa của VN, mọi người chú tâm vào đó. Đến khi giàn khoan rút đi thì mọi người mới biết là việc xây dựng mở rộng các bãi đá (mà TQ chiếm được của VN năm 1988) đã thực hiện gần xong. Bây giờ cũng vậy. Ta cũng biết là các đảo nhân tạo mà TQ đã xây dựng xong, vấn đề là TQ sẽ đưa ra đây những thứ gì ? Điều lo ngại là lúc mọi người chăm chú vào giàn khoan 981 thì TQ sẽ lợi dụng đưa các giàn ra đa, hệ thống phòng không, các khẩu pháo... ra các đảo. Đến lúc mọi người quay lại thì các đảo này đã trở thành những căn cứ không quân, hải quân, hay những pháo đài trên biển.

Về vấn đề  Tòa Trọng tài thường trực ở La Haye sẽ mở phiên họp đầu tiên vào tháng 7 về vụ Phi kiện TQ. Theo lịch trình, ở phiên họp đầu tiên này, Tòa sẽ làm hai việc: thứ nhứt là tuyên bố về thẩm quyền của Tòa đối với vụ kiện. Thứ hai là về sự hợp lệ của hồ sơ Phi. Dĩ nhiên là vụ kiện này có quan hệ mật thiết đối với với VN. 

TQ đã tuyên bố không tham gia vụ kiện. Lập luận đáng ghi nhận của TQ qua bản tuyên bố nhằm trả lời vụ kiện là : 1/ Tòa không có thẩm quyền vì cốt lõi của vụ kiện liên quan đến “chủ quyền lãnh thổ” mà điều này không thuộc phạm trù của Công ước Quốc tế về Biển 1982. 2/ Vụ kiện liên quan đến vấn đề “phân chia ranh giới biển” mà điều này TQ đã bảo lưu năm 2006 (loại trừ mọi biện pháp trọng tài có mục đích phân chia ranh giới biển).

Rất có thể Tòa sẽ không có thẩm quyền để phân xử ở một số điều trong hồ sơ của Phi vì các điều này liên quan đến chủ quyền cũng như việc phân định biển mà TQ đã bảo lưu. Nhưng ở các điều như về hiệu lực pháp lý của đường chữ U, hay một số điều liên quan các bãi đá chìm, nổi mà TQ đã chiếm và xây dựng, thì tuyên bố của Tòa có liên quan đến VN.

Đường chữ U chín đoạn, cũng như hành vi của TQ ở các đảo TS, là những quan ngại hàng đầu của VN hiện nay.

Các việc: 1/ đưa giàn khoan 981 tháng 5 vừa rồi vào vùng cửa vịnh Bắc Việt, 2/ việc xây dựng một cách gấp rút các bãi đá và 3/ vụ kiện của Phi đều có quan hệ với nhau.

Hành vi xây dựng và mở rộng các bãi đá (một cách gấp rút) của TQ nhằm mục đích đặt Tòa vào việc đã rồi. Việc xây dựng của TQ có một không hai trong lịch sử thế giới. Nếu so sánh, các đảo nhân tạo của vương quốc Ả Rập ở bờ biển Dubai phải mất hơn 10 năm mới thành hình. Trong khi TQ chỉ mất một năm để hoàn tất về cơ bản 7 đảo nhân tạo, mà đảo nào cũng có diện tích lớn hơn nhiều lần. Đảo nhân tạo ở Dubai thì cận bờ, còn các đảo TS cách TQ cả ngàn cây số.

Bây giờ Tòa không thể phân biệt được các đảo nhân tạo mà TQ đã xây dựng, trước đó là gì ? Là bãi chìm, lúc chìm lúc nổi, hay là bãi cạn ? Tình trạng pháp lý của các cấu trúc địa lý này, theo Luật quốc tế về Biển 1982, thì khác xa với nhau. Một bãi chìm thường trực dưới mặt nước (như các bãi Vành Khăn, Xu bi, Gaven...) thì không phải là lãnh thổ để một quốc gia có thể chiếm hữu. Vấn đề là TQ đã chiếm hữu và xây dựng thành đảo nhân tạo.

Hành vi xây dựng đảo của TQ đã xóa hết những vềt tích, những bằng chứng, chắc chắn sẽ đưa Tòa vào thế khó xử. Chắc chắn đây là hành vi có tính toán của TQ. Họ muốn đặt quốc tế vào việc đã rồi. Trước tòa, những bằng chứng đã bị xóa bỏ, chúng ta khó mà biết Tòa sẽ nhận thức ra sao trước các đảo nhân tạo của TQ. Dầu thế nào thì mọi sự mập mờ về pháp lý đều có lợi cho TQ.


Áp lực của TQ đè nặng lên Việt Nam...

Việc xây dựng các bãi đá của TQ đe dọa an ninh quốc phòng cũng như chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ của VN. Tin tức cũng cho biết TQ kéo pháo đặt trên đảo Gạc Ma. Vấn đề là chúng ta không thấy VN có một phản ứng nào cho thích hợp.

Nhắc lại cuộc khủng hoảng giữa Hoa Kỳ và Liên xô năm 1962, khi Cuba cho phép Liên Xô đặt hỏa tiễn mang đầu đạn hạt nhân trên lãnh thổ này. Khoảng cách giữa Cuba và Hoa Kỳ (Florida) chỉ có 200 cây số. Nếu Nga thành công đặt các giàn hỏa tiễn thì Mỹ sẽ bị Nga đe dọa trực tiếp. Mỹ có thể bị Nga đánh phủ đầu bằng vũ khí nguyên tử mà không có thời gian đánh trả lại.

Thái độ của Mỹ lúc dó rất cương quyết. Bộ quốc phòng Mỹ ra lệnh « cấm vận » Cuba trong khi Kennedy đe dọa chiến tranh nếu LX không rút hỏa tiễn về. Cuối cùng LX nhượng bộ phải rút toàn bộ các giàn hỏa tiễn trở về.

Nhắc lại điều này cho thấy là việc TQ cho đặt đại pháo tại đảo Gạc Ma (và có thể ở các đảo khác), đưa các đảo của VN nằm trong tầm đạn. Căn cứ của TQ ở đảo Chữ Thập, với vị trí thuận lợi có thể cản trở mọi can thiệp của hải quân VN tiếp cận các đảo thuộc Trường Sa. Dĩ nhiên việc so sánh nào cũng khập khễnh, nhưng việc kéo pháo này đe dọa an ninh và toàn vẹn lãnh thổ VN.

Trường hợp Phi, nước có cùng hoàn cảnh bị TQ bắt nạt như VN, họ đã có những thái độ và cách ứng xử xứng đáng là một nước độc lập có chủ quyền. Phi đã đưa TQ ra  Tòa quốc tế. Phi cũng thắt chặt quan hệ với Mỹ để làm thế đối trọng, không để TQ uy hiếp thái quá. Và cũng chính Phi Luật Tân cũng đã công bố các hình ảnh vệ tinh trước dư luận thế giới để tố cáo hành vi của TQ.

Nhà nước Phi đã làm những điều cần thiết có thể làm được nhằm bảo vệ chủ quyền cũng như quyền lợi của họ ở Biển Đông.

Nhìn lại thì thấy thái độ của lãnh đạo VN một người dễ tính cũng khó có thể chấp nhận được. Nhiệm vụ hàng đầu của lãnh đạo là bảo vệ vẹn toàn lãnh thổ và bảo đảm an ninh quốc phòng. Trong chừng mực, đảng CSVN đã đào nhiệm, họ đã chạy trốn trách nhiệm lãnh đạo đất nước của mình.

Trong khi đó quốc hội đã cho biết là không cần thiết để ra nghị quyết về Biển Đông.

Chương năm bản Hiến pháp nói về vai trò Quốc hội. Điều 13 nói về thẩm quyền của quốc hội, nguyên văn như sau :

Quốc hội có quyền: “Quyết định vấn đề chiến tranh và hoà bình; quy định về tình trạng khẩn cấp, các biện pháp đặc biệt khác bảo đảm quốc phòng và an ninh quốc gia;”

Như trên đã có nói qua, sự toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia của VN bị đe dọa. Những công trình mà TQ vừa xây xong, trong những ngày tới sẽ trở thành những căn cứ quân sự, không quân và hải quân, một số có thể trở thành những pháo đài trên biển. Tất cả các đảo hiện do VN kiểm soát đều bị các căn cứ này đe dọa. Trong khi tham vọng của TQ, họ không dấu diếm, là làm chủ 90% Biển Đông. Thời gian tới họ sẽ ra tuyên bố vùng nhận diện phòng không (ADIZ). Vùng biển của VN cũng bị đe dọa sẽ mất cho TQ.

Trước một tình huống như vậy, nếu ta so sánh với Phi, thì ta thấy thái độ của đại biểu VN khi cho rằng chưa cần thiết để ra một nghị quyết về Biển Đông là vô trách nhiệm.

Hợp lý thì quốc hội phải cấp thời ra nghị quyết về Biển Đông, ban bố tình trạng khẩn cấp ở Biển Đông, hoặc tuyên bố một biện pháp đặc biệt nào đó. Thí dụ kiện TQ ra Tòa. Quốc hội cũng có thể ra văn bản chính thức yêu cầu LHQ lên tiếng, yêu cầu TQ “tôn trọng luật quốc tế”. Điều này dễ dàng thực hiện vì thời gian qua các viên chức Mỹ đã nhiều lần nói lên việc này.

Sự im lặng của nhà nước CSVN trước những hành vi, những toan tính, những nước cờ (có thể thấy trước đường đi nước bước) của TQ cho phép người ta đặt ra một nghi vấn. Phải chăng đã có sự dàn xếp nào đó, giữa hai đảng cộng sản VN và TQ, về chủ quyền quần đảo TS ?


Đảng CSVN không có một thẩm quyền nào để thỏa hiệp, nhượng lãnh thổ, hay bất kỳ quyền lợi quốc gia cho ngoại bang. Người dân mới là người chủ thật sự lãnh thổ, biên cương của mình.

mercredi 17 juin 2015

Về hiệu lực pháp lý và cách hóa giải Công hàm 1958 của ông Phạm Văn Đồng.

Lập luận thường thấy dẫn đi dẫn lại, không chỉ ở các bài viết của (hầu hết) các học giả VN, mà còn thấy thường xuyên ở các dư luận viên, với mục đích « hóa giải » công hàm 1958 của Phạm Văn Đồng. Đó là « người ta không thể chuyển nhượng cho ai cái mà người ta không có chủ quyền ». Lập luận này cho rằng Việt Nam bị chia hai theo Hiệp định Genève 1954. Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa do VNCH quản lý, những tuyên bố của miền Bắc (VNDCCH), như công hàm 1958, sẽ không có hiệu lực lên chủ quyền của các quần đảo này. Có người còn đi xa hơn, cho rằng hai thực thể chính trị VNDCCH và VNCH là « hai quốc gia, độc lập có chủ quyền », sau đó kết luận rằng hệ quả về pháp lý của công hàm 1958 sẽ không ràng buộc đối với quốc gia CHXHCNVN hiện tại.

Lập luận này tôi đã từng viết cảnh báo nhiều lần rằng nó rất nguy hiểm. Nếu nhà nước chính thức sử dụng nó thì các thế hệ VN trong tương lai sẽ vô phương, không còn lý lẽ nào để đòi lại HS và TS.
Nhắc lại một vụ VN dính líu đến pháp lý gần đây, đó là vụ kiện « chất da cam », mục đích răn đe để mọi người cẩn thận. Không biết luật thì đừng đùa với luật.

Người Mỹ rải 80 triệu lít chất khai quang này lên một số vùng lãnh thổ ở miền Nam. Tác hại của nó, lên người cũng như lên đồng ruộng, rừng rú… VN chắc chắn phải là có. Những cựu quân nhân Mỹ và Đại Hàn, những người trước kia đã tiếp xúc với hóa chất này tại VN, đã kiện và đã thắng. Họ được chính phủ Mỹ bồi thường. Nhưng VN kiện nhà nước Mỹ, lại thua. Vì sao thua ? Dĩ nhiên là vì « ngu », vì không biết luật, chứ không phải vì thiếu bằng chứng. VN đã giao hồ sơ kiện cho một nhóm người, có thể tinh tường về xảo thuật tuyên truyền, nhưng là những « a ma tơ » về luật. Vụ này không phải duy nhứt. VN cũng có nhiều vụ kiện (quốc tế) thất bại, như vụ hàng không VN. Nguyên nhân thua đơn giản cũng chỉ vì không biết luật (nhưng thích giỡn mặt với luật).

Công hàm 1958 là một « tuyên bố đơn phương » của VNDCCH nhìn nhận một (tuyên bố đơn phương) của TQ về lãnh hải 12 hải lý và chủ quyền lãnh thổ của TQ ở một số đảo.

Về ý nghĩa và hiệu lực pháp lý của một tuyên bố đơn phương, tôi có viết bài ở đây : 


Tôi cũng đặt giả thuyết, nếu công hàm 1958 không hiện hữu, thì sự « im lặng » của VN trước tuyên bố về lãnh hải và chủ quyền lãnh thổ của TQ, thì tuyên bố của TQ sẽ có hiệu lực ràng buộc VN. Bài viết ở đây :


Trong tiểu đoạn này tôi không nhắc lại những điều đã ghi trong các bài đó mà chỉ nói những điều chưa đề cập (hay ít đề cập).

1/ Công hàm 1958 vô hiệu do hệ quả « table rase – phủi sạch » sau khi VN thống nhứt.

Lập luận này thấy trong bài viết của tác giả « Quốc Pháp », được đăng tải trên các trang báo trong, ngoài nước.

Tác giả giải thích rằng, tập quán quốc tế dành cho những quốc gia mới độc lập quyền « table rase », tức là phủi sạch, tất cả những hiệp ước bất bình đẳng đã ký kết trước đây. Theo tác giả, nước CHXHCNVN kế thừa HS và TS từ VNCH, thông qua CHLPCHMNVN.

Vấn đề là, theo điều 11 của Công ước Vienne 1978 (Vienna Convention on Succession of States in respect of Treaties 1978), « table rase » không áp dụng trong trường hợp các kết ước, hay những điều ước có liên quan đến lãnh thổ, hoặc các điều ước có hiệu quả làm thay đổi đường biên giới.  

Xem bài tôi giải thích về điều 11 Công ước Vienne 1978 ở đây : 


2/ Về lập luận « VNCH và VNDCCH là hai quốc gia độc lập có chủ quyền » của nhóm « Quĩ Nghiên cứu Biển Đông ».

Đây là lập luận nguy hiểm nhứt, có thể làm cho VN mất vĩnh viễn danh nghĩa chủ quyền HS và TS. Lập luận này có những điều sơ hở chết người như sau :

Thứ nhứt, đi ngược nội dung hai hiệp ước nền tảng khai sinh nước VN sau này, đó là Hiệp định Genève 1954 và Hiệp định Paris 1973. Cả hai hiệp định này khẳng định « Việt Nam là một quốc gia độc lập, thống nhứt ba miền Bắc, Trung, Nam. Vĩ tuyến 17 là đường phân chia tạm thời, không phải là đường ranh giới ».

Mọi người cần phải biết, một hồ sơ « pháp lý » muốn có giá trị, điều tiên khởi là mọi lập luận nền tảng của hồ sơ phải phù hợp với pháp lý.

Công pháp quốc tế đặt nền tảng trên những qui ước, những đồng thuận của các quốc gia cũng như tập quán về quan hệ giữa các quốc gia.

Lập luận « VNCH và VNDCCH là hai quốc gia độc lập có chủ quyền » đã đi ngược các nguyên tắc về luật quốc tế. Nó đã đi ngược lại nội dung hai kết ước quốc tế  1954 và 1973.

Một hồ sơ kết tinh trên một lập luận như vậy, theo tôi, có thể bị Tòa loại ngay từ vòng đầu.

Thứ hai, khi nhìn nhận VNCH và VNDCCH là hai quốc gia độc lập có chủ quyền, thì (người chủ trương lập luận này) đã mặc nhiên nhìn nhận VNDCCH không có danh nghĩa chủ quyền tại HS và TS.

Vậy thì việc TQ chiếm HS năm 1974 (và có thể toàn bộ TS sau này) là chiếm lãnh thổ của quốc gia tên gọi VNCH. Quốc gia VNDCCH, bây giờ là CHXHCNVN, là bên thứ ba, đâu có quan hệ gì đến HS và TS ?

Thứ ba, những người chủ trương lập luận này cho rằng quốc gia VN hôm nay, tức CHXHCNVN, « kế thừa » danh nghĩa chủ quyền HS và TS từ CPLT CHMNVN.

Giả sử rằng CHXHCNVN kế thừa HS và TS từ CPLT CHMNVN. Vấn đề là quốc gia CHXHCNVN « kế tục » quốc gia VNDCCH. Làm thế nào một quốc gia có thể kế thừa cùng lúc hai lập trường đối kháng ?

Còn nhiều lập luận « nguy hiểm » khác nhưng không nhắc ở đây. (Như lập luận của Từ Đặng Minh Thu. Tác giả cho rằng công hàm 1958 là một « tuyên bố về ý định », mà một tuyên bố về ý định có thể không tuân thủ…)

Tất cả các tác giả của những lập luận trên đây đều có điểm chung là nhìn nhận hiệu lực công hàm 1958. Lập luận của các tác giả là « né tránh » hiệu lực ràng buộc về pháp lý công hàm này chứ không nhằm « hóa giải » nó.

Đây là một điều tệ hại nhứt của luật học. Một lý thuyết gia về luật, hay một luật sư, cho dầu tệ hại đến đâu, mục tiêu của họ là phủ nhận hiệu lực pháp lý bất kỳ hồ sơ nào do địch thủ đưa ra chứ không phải là nhìn nhận nó.

Câu hỏi đặt ra, hóa giải hiệu lực công hàm 1958 như thế nào ?

Quân bất hí ngôn, bút sa gà chết ! đã ký rồi thì chối cãi làm sao ?

Tôi đã đề nghị phương pháp hóa giải, nói đi nói lại nhiều lần, điển hình ở đây : 


Lập luận của tôi, công hàm 1958 không có giá trị pháp lý, vì nó đã đi ngược lại các nguyên tắc nền tảng về pháp lý qui định từ hai hiệp định nền tảng khai sinh ra nước VN : hiệp định Genève 1954 và Hiệp định Paris 1973.

Tôi có giải thích như sau :

Do hoàn cảnh lịch sử, nước Việt Nam bị phân chia thành hai vùng lãnh thổ tại vĩ tuyến 17, lần lượt mang tên : Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Việt Nam Cộng Hòa.

Chiếu theo tinh thần Hiệp định Genève 1954 (được các nước Anh, Pháp, Mỹ, Liên Xô, TQ bảo trợ), các nước công nhận chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ VN. Vĩ tuyến 17 là đường ranh quân sự tạm thời, không phải là đường phân định biên giới về chính trị hay lãnh thổ.

Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, do ở phía nam vĩ tuyến 17, do đó thuộc quyền quản lý của VNCH.
Vấn đề chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam được tái xác định theo Hiệp định Paris năm 1973 : « Hoa Kỳ và các nước khác tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam như Hiệp định Genève 1954 về Việt Nam đã công nhận. »
Tinh thần hai hiệp định, cũng là một chân lý làm nên chất keo gắn bó nhân dân và đất nước VN : đất nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một…
Điều này thể hiện lên thực tế. Trong khoảng thời gian từ 1954 đến 1973, không có bất kỳ quốc gia nào trên thế giới nhìn nhận sự hiện hữu của hai quốc gia Việt Nam. Khối Tư bản nhìn nhận VNCH là đại diện của nước Việt Nam duy nhất. Khối XHCN công nhận VNDCCH là đại diện nước VN duy nhất. Nước này nhìn nhận phía này thì không nhìn nhận phía kia, hay ngược lại.
Trên tinh thần tôn trọng « độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam » của các hiệp ước quốc tế này (mà các nước Mỹ, Trung Quốc, Anh, Pháp… đồng bảo trợ chúng), bất kỳ các tuyên bố, các hành vi đơn phương của một bên (VNCH hay VNDCCH), nếu có làm tổn hại đến việc toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, chúng đều không có giá trị.

Nhà cầm quyền Trung Quốc viện dẫn công hàm của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng viết nhằm ủng hộ tuyên bố về lãnh thổ và hải phận của Trung Quốc tháng 9 năm 1958, cho rằng nhà nước VNDCCH đã nhìn nhận chủ quyền của Trung Quốc tại Hoàng Sa (và Trường Sa). Điều này hiển nhiên không đúng
Công hàm 1958 của ông Phạm Văn Đồng viết trong khoản thời gian 1954-1973, có liên quan đến chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, đi ngược lại tinh thần hai Hiệp định 1954 và 1973, do đó không có giá trị pháp lý ràng buộc.

Hóa giải công hàm 1958 chỉ đơn giản như vậy.



lundi 15 juin 2015

Nhân 800 năm Magna Carta thử bàn về nguồn gốc và cách dịch thuật từ « pháp quyền » trong « Pháp quyền Xã Hội Chủ nghĩa ».

Tuyên ngôn « Magna Carta Libertatum » của Anh quốc ra đời ngày 15 tháng 6 năm 1215, đến nay là đúng 800 năm, được xem là văn bản đầu tiên, làm nền tảng cho các hệ thống luật lệ và hình thức tổ chức nhà nước « Rule of Law » và « Etat de Droit » ở các nước tự do dân chủ hiện thời. Nội dung cốt lõi của Magna Carta (được thể hiện ở các quốc gia tự do dân chủ) là quyền tự do của cá nhân được bảo đảm bằng luật và sự thể hiện quyền lực của hoàng đế (nay là nhà nước) phải tuân thủ theo luật lệ. 

Nếu so sánh với tinh thần « Magna Carta », 800 năm sau, thì cái gọi là « Pháp quyền Xã Hội Chủ nghĩa » của nhà nước Việt Nam vẫn là một thứ lẩu thập cẩm về luật lệ. Hiến pháp thực tế là « cương lĩnh » của đảng cộng sản cầm quyền trong một giai đoạn nhứt định. Đảng là một tập đoàn « siêu quyền lực », được hiến pháp cho phép lãnh đạo tuyệt đối mọi lãnh vực trong xã hội, nhưng không bị chế tài bởi pháp luật. Tức là đảng đứng trên và đứng ngoài hệ thống pháp luật. Toàn bộ quyền lực nhà nước tập trung vào nhân sự đảng viên. Hiến pháp qui định lực lượng công an, quân đội phải có nhiệm vụ bảo vệ đảng. Nếu xét cho kỹ, hệ thống luật pháp của VN hiện nay còn kém hơn luật lệ của Anh từ 800 năm trước. Bởi vì quyền lực của hoàng gia Anh phải tuân thủ pháp luật trong khi đảng CSVN không hề bị chế tài bởi bất kỳ một điều luật nào.

Dầu vậy hệ thống luật lệ và cách thức tổ chức nhà nước này được mệnh danh là « nhà nước pháp quyền ».

Vậy thì nguồn gốc của « pháp quyền » trong cụm từ « nhà nước pháp quyền » đã đến từ đâu ?
Theo TS Nguyễn Sĩ Dũng trong bài « Hiến pháp 1946 với tư tưởng pháp quyền » :

“Năm 1919, trong Bản yêu sách được Nguyễn Ái Quốc gửi đến hội nghị Vecxây, yêu sách thứ 7 là pháp quyền. Sau này, yêu sách đó được Bác thể hiện thành lời ca: “Bảy xin Hiến pháp ban hành. Trăm điều phải có thần linh pháp quyền” (Yêu cầu ca, Báo Nhân dân, ngày 30/1/77).”


“Cho đến nay, qua các tư­ liệu lịch sử có đ­ược, có thể nói, đây là lần đầu tiên trong văn học sử Việt Nam xuất hiện khái niệm “pháp quyền” và “pháp quyền” ở đây lại được nâng lên thành “thần linh” - một khái niệm linh thiêng, làm nổi bật ý nghĩa tính chất “pháp quyền”, nổi bật ý nghĩa, vai trò của pháp luật, của Hiến pháp trong đời sống xã hội.”

Như vậy từ ngữ « pháp quyền », theo các học giả trên, là của ông Hồ.

Vấn đề là ý nghĩa của “pháp quyền” mà ông Hồ sử dụng là gì ? Ông sử dụng từ ngữ này trong dịp nào ? Muốn vậy ta phải tìm hiểu bản Yêu sách năm 1919 (Revendications du peuple Annamite – Yêu sách của nhân dân An Nam) đã nói lên những điều gì.

Bài vè lục bát tựa đề « Việt Nam yêu cầu ca », thực ra là bản “phóng tác” của bản yêu sách 7 điểm viết bằng tiếng Pháp « Revendications du peuple Annamite – Yêu sách của nhân dân An Nam » (mà các sử gia VN cho là của ông Hồ), viết năm 1919 nhân dịp Hội nghị các đại cường thắng trận Đệ Nhất thế chiến tổ chức tại Versaille. Gọi là “phóng tác” vì bài dịch này không phù hợp với ý nghĩa tiếng Pháp của văn bản. Bài vè có câu :

« Bảy xin Hiến pháp ban hành
Trăm điều phải có thần linh pháp quyền »

Nguyên văn yêu sách số 7, bản tiếng Pháp :

« 7/ Remplacement du régime des décrets par les régimes des lois. » (Nguồn : Les décolonisations au XXe siècle: La fin des empires européens et japonais, Par Pierre Brocheux, Annexe 1.)

Tạm dịch ra tiếng Việt là : thay thế chế độ pháp lệnh bằng chế độ luật lệ.

So sánh lại ta thấy ý nghĩa tiếng Việt và tiếng Pháp của văn bản là không hoàn toàn chính xác. Trong bản tiếng Việt nói đến « hiến pháp » mà điều này không thấy trong bản chính tiếng Pháp. Nhưng đại cương về ý tứ thì có thể chấp nhận.

Ý nghĩa của điều 7 (tiếng Việt) là gì ? « Xin » ở đây là « xin ai », ai xin ? Hiến pháp này là hiến pháp nào ? Ai ban bố ?

Bản “yêu sách” gởi Hội nghị Versaille, nơi các cường quốc thắng trận đang hội họp. Dĩ nhiên là “xin” lãnh đạo các đại cường thắng trận, trong đó có Pháp quốc. Người xin dĩ nhiên là tác giả của Văn bản (các sử gia VN thì cho là của ông Hồ).

Hiến pháp này là hiến pháp nào ? VN lúc đó vẫn còn là “thuộc địa” của Pháp, được Pháp cai trị dưới “chế độ pháp lệnh” (của Bộ Thuộc địa và quan Toàn quyền), chứ không theo luật lệ (Hiến pháp) của mẫu quốc. Hiến pháp ở đây phải là hiến pháp của mẫu quốc.

Điều này sẽ rõ rệt nếu ta xét lại điều 2 của bản Yêu sách :

« 2/ Réforme de la justice indochinoise par l’octroi aux Indigènes des mêmes garanties judiciaires qu’aux Européens, et la suppression complète et définitive des Tribunaux d’exception qui sont des instruments de terrorisation et d’oppression contre la partie la plus honnête du peuple Annamite. »

(Nguồn : Les décolonisations au XXe siècle: La fin des empires européens et japonais, Par Pierre Brocheux, Annexe 1.)

Tạm dịch : cải cách lại pháp lý Đông dương bằng cách ban bố cho người bản địa được bảo đảm về tư pháp (tài phán) như là người Châu Âu đồng thời bãi bỏ vĩnh viễn tất cả những loại Tòa án đặc biệt mà thực chất chỉ là những công cụ khủng bố và đàn áp thành phần những người An Nam lương thiện nhất.

Chữ « l’octroi » trong tiếng Pháp có nghĩa là « ban bố, ban phát ».

« Xin » để được « ban phát » : quyền được bình đẳng về tài phán như người Châu Âu.

« Bảy xin hiến pháp ban hành - trăm điều phải có thần linh pháp quyền » ở đây có nghĩa là xin hiến pháp của mẫu quốc ban hành những điều « luật » để bảo đảm « quyền » của người « bản địa ».

VN lúc đó chưa lấy lại « độc lập – souveraineté » thì không thể nói « hiến pháp » trong câu này là « hiến pháp » của nước VN được.

 (Giả sử rằng Tây thực dân lúc đó chấp nhận bản Yêu sách, thay đổi hiến pháp, cho phép toàn dân Đông dương được quyền “ngang hàng” với dân Tây mẫu quốc. VN (và Khmer, Lào) đã trở thành một “lãnh thổ hải ngoại” của Pháp, như Nouvelle-Calédonie, Réunion... hiện nay. Các dân tộc Đông dương (kể cả VN) đã có quốc tịch Pháp hết rồi ! Uổng quá phải không ?)

Như vậy « pháp quyền » của ông Hồ có ý nghĩa là “juridiction” (như các định nghĩa của tự điển tiếng Việt xuất bản ở miền Nam trước 1975).

Vấn đề đặt ra, ta có thể dùng tinh thần pháp quyền của ông Hồ để chuyển dịch ý nghĩa của khái niệm « rule of law » của Anh (như đã thấy ở một số học giả, nhà báo Việt Nam trong, ngoài nước hiện nay) được hay không ?

Theo tôi là không được !

Thứ nhứt, về cách dịch theo “word by word”. Thuật từ « rule of law » là một nhóm từ chuyên môn thuộc về “khái niệm”, không thể tách rời ra từng chữ. Ý nghĩa của nó là « sự ưu việt hay sự thống trị của pháp luật » (prééminent de droit – primauté de droit). Tách rời từng chữ ra để dịch có thể đúng trên con chữ, nhưng sẽ mất đi ý nghĩa “khái niệm” của thuật từ.

Tự điển tiếng Hoa có lúc dịch là “pháp qui”, tức qui tắc luật pháp (luật chơi trong cờ bạc). Có lúc dịch là “pháp trị”.

Cách dịch thứ nhứt không đúng vì chữ “rule” ở đây không thể dịch là “qui tắc” mà phải dịch là sự “thống trị” hay “ưu việt” (“règne” trong tiếng Pháp). Cách dịch thứ hai tạm ổn vì “pháp trị” là một khái niệm “dựa theo luật để cai trị” hiện hữu trong văn minh Trung Hoa từ lâu đời. Khái niệm “pháp trị” tương tự tinh thần của “Magna carta” 800 năm trước của Anh nhưng kém một điều là không qui định rõ quyền lực của hoàng đế có phục tùng luật pháp hay không. Dầu vậy, dùng một từ “khái niệm tương ứng” để dịch một từ tương ứng là đúng cách.

Thứ hai, như mọi người điều biết, ở Anh có đến hai khái niệm về luật : “common law” (luật do các phán lệ của các quan tòa) hay “statute law” (luật do quốc hội ban hành). Luật pháp nước Anh không đặt nền tảng trên hiến pháp (do quốc hội ban hành) mà trên các “phán lệ”. Chữ “law” trong « rule of law » là đến từ “common law”. Trong khi các xứ Châu Âu như Pháp, “état de droit”, nền tảng luật pháp đặt trên hiến pháp. Ở đây luật là do quốc hội ban hành.

Ý nghĩa chữ “pháp quyền” của ông Hồ mang nội hàm luật “hiến định” (bảy xin hiến pháp ban hành – trăm điều phải có thần linh pháp quyền), theo khái niệm “etat de droit” của Pháp.

 “Etat de Droit” được hiểu là “nhà nước xây dựng trên sự tôn trọng pháp luật” (État fondé sur le respect de la loi), tương đương với khái niệm “rule of law”.

Như vậy, lấy một khái niệm mang nội hàm “luật hiến định” để dịch một từ mang nội hàm “common law – droit commun – thông luật” là không hợp cách.

Thứ ba, về từ ngữ, không ai giải thích được (đến hôm nay), chữ “quyền” trong “pháp quyền” đến từ “quyền lực – power – pouvoir” hay từ “quyền lợi – right – droit” ? Nếu chưa xác định được nguồn gốc chữ “quyền” đến từ đâu thì mọi cách dịch đều chỉ là miễn cưỡng.

Vì vậy tôi cho là cách dùng từ “pháp quyền” để dịch “rule of law”, hay “nhà nước pháp quyền” để dịch “état de droit” đều sai.

Tạm chấp nhận, theo cách dịch của người Hoa, Nhật... là “pháp trị” (rule of law) và “nhà nước pháp trị” (etat de droit). Nhưng chính xác phải là “tinh thần trọng luật” hay “nhà nước (được xây dựng trên tinh thần) thượng tôn pháp luật”.