mardi 23 septembre 2014

Xây dựng hồ sơ lịch sử và pháp lý về chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa

 Sự lựa chọn chiến lược : Có một, hai (hay ba) quốc gia Việt Nam trong khoảng thời gian 1954-1975 ?

  1.  Câu hỏi đặt ra là có bao nhiêu quốc gia Việt Nam trong khoảng thời gian 1954-1975?
Câu trả lời thuộc về các chuyên gia lịch sử và pháp lý có thẩm quyền.

Đối với một công dân Việt Nam bình thường, có một, hai (hay ba) quốc gia mang tên Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa, Việt Nam Cộng Hòa (và Cộng hòa Miền Nam Việt Nam) thì không có gì là quan trọng. Có một, hai hay ba quốc gia Việt Nam thì cũng chỉ là những “chi tiết lịch sử”, trong một giai đoạn lịch sử phân chia nước Việt Nam. Điều quan trọng ngày nay : Việt Nam là một quốc gia độc lập và thống nhất. Những con số một, hai, ba… trong quá khứ không làm thay đổi được thực tế này.

Nhưng vấn đề tranh chấp chủ quyền lãnh thổ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa với Trung Quốc đã khiến vấn đề không đơn giản. Trên phương diện pháp lý, có một, hai hay ba quốc gia Việt Nam (trong khoảng thời gian 1954-1975) là sẽ có một, hai hay ba hồ sơ pháp lý khác nhau. Trên phương diện lịch sử, có một, hai hay ba quốc gia Việt Nam là sẽ có một, hai hay ba quan điểm lịch sử về chủ quyền (Hoàng Sa và Trường Sa) khác nhau.

Dĩ nhiên người Việt nào cũng muốn hồ sơ chủ quyền về pháp lý và lịch sử của Việt Nam vững chắc, một mặt để tranh cãi với Trung Quốc trên bàn thuơng nghị, mặt khác có thể thắng được Trung Quốc nếu tranh chấp đưa ra một trọng tài quốc tế để phân xử.

Vấn đề đặt ra, Việt Nam cần đứng trên quan điểm nào để xây dựng một hồ sơ pháp lý “có lợi” nhất ?

  1.  Để ý, trong những tranh chấp chủ quyền lãnh thổ (tại các vùng lãnh thổ không có người ở như hải đảo), phe thắng kiện luôn là phía chứng minh được sự liên tục về thẩm quyền quốc gia (trong một thời gian dài) trên các vùng lãnh thổ đó. Vấn đề “chủ quyền lịch sử” tuy quan trọng nhưng vẫn không quan trọng bằng việc liên tục thể hiện thẩm quyền quốc gia (effectivité).
Nhiều luật gia quốc tế nhìn nhận, chủ quyền (lịch sử) của VN tại Hoàng Sa và Trường Sa, từ khi khám phá cho đến năm 1975 là “vững” hơn lý lẽ về chủ quyền của Trung Quốc.

Bất kể những sự thay đổi về thể chế, về chính trị, từ chế độ phong kiến vương quyền nhà Nguyễn sang chế độ bảo hộ của Pháp; từ chế độ bảo hộ Pháp sang chính quyền Quốc Gia Việt Nam của ông Bảo Đại, sau đó chuyển sang các chế độ cộng hòa ở miền Nam cho đến 30 tháng 4 năm 1975… chủ quyền của quốc gia Việt Nam tại các vùng lãnh thổ Hoàng Sa và Trường Sa đã thể hiện một cách liên tục.

Trải qua nhiều triều đại, nhiều thể chế chính trị khác nhau, vấn đề “kế thừa” (chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa) đã được (các thể chế chính trị nối tiếp nhau) thể hiện một cách minh bạch, phù hợp với luật lệ quốc tế.

Chủ quyền của Trung Quốc tại Hoàng Sa thì không được luật pháp quốc tế nhìn nhận, mặc dầu nước này trên thực tế đã chiếm hữu toàn bộ quần đảo.

Tháng 4 năm 1956, lợi dụng lúc quân Pháp rút khỏi Đông Dương trong lúc quân đội của quốc gia Việt Nam chưa kịp củng cố, Trung Quốc đã đưa quân xâm chiếm nhóm phía đông quần đảo Hoàng Sa (nhóm An Vĩnh - Amphitrite). Tháng giêng năm 1974, Trung Quốc đã sử dụng vũ lực xâm chiếm nốt nhóm còn lại (nhóm Nguyệt Thiềm - Croissant). Các hành vi xâm lược này không đem lại chủ quyền cho Trung Quốc tại vùng lãnh thổ Hoàng Sa vì hai lẽ: 1/ luật lệ quốc tế không nhìn nhận chủ quyền quốc gia tại vùng lãnh thổ nếu việc chiếm hữu thể hiện bằng vũ lực. 2/ Chính quyền VNCH liên tục khẳng định chủ quyền của VN tại Hoàng Sa đồng thời không ngừng lên án hành vi xâm lăng của TQ trước trường quốc tế.

Chỉ sau ngày 30-4-1975, chính quyền VNCH sụp đổ, chủ quyền của quốc gia VN tại các vùng lãnh thổ Hoàng Sa và Trường Sa bị thách thức nặng nề bởi Trung Quốc.

Việc “kế thừa”, tức là cái gạch nối, tạo sự “liên tục quốc gia” mỗi khi quốc gia có thay đổi thể chế chính trị, hoặc có sáp nhập (hay ly khai) một vùng lãnh thổ.

Ngày 30-4-1975 là một biến cố trọng đại của dân tộc và quốc gia Việt Nam. Một vùng lãnh thổ (VNCH và sau đó là CHMNVN) được sáp nhập vào một vùng lãnh thổ khác (VNDCCH), tạo thành một nước Việt Nam độc lập, thống nhất ba miền (CHXHCNVN). Vấn đề “kế thừa” dĩ nhiên đặt ra.

Quốc gia Việt Nam có giữ được sự liên tục chủ quyền tại Hoàng Sa và Trường Sa hay không là tùy thuộc vào thể thức “kế thừa” VNCH của các chính quyền tiếp nối sau ngày 30-4-1975.  

Nếu chỉ có một quốc gia Việt Nam, việc kế thừa giữa các vùng lãnh thổ (VNCH, CHMNVN và VNDCCH) là “kế thừa” giữa các “chính phủ”, là vấn đề “nội bộ” của Việt Nam. Việc kế thừa không phải là đối tượng của công pháp quốc tế.

Nếu có trên hai “quốc gia” Việt Nam: quốc gia VNCH, quốc gia CHMNVN và quốc gia VNDCCH. Việc kế thừa ở đây là kế thừa giữa “quốc gia” với “quốc gia”. Vì chủ thể “quốc gia” là đối tượng của quốc tế công pháp, việc kế thừa trở thành đối tượng của quốc tế công pháp.

Việc “lựa chọn” có một, hai hay ba quốc gia VN vì vậy trở thành một lựa chọn mang tính chiến lược.

  1.  Thực ra trong lịch sử không có chỗ cho việc “lựa chọn”. Lịch sử là sự ghi chép lại những sự việc liên quan đến chính trị, kinh tế, văn hóa... đã xảy ra trong quá khứ. Người viết sử trung thực thì dữ kiện (hay sự kiện) lịch sử chỉ có một. Nhưng lịch sử (Việt Nam) thường xuyên được được viết bởi phe chiến thắng. Trong trường hợp này người ta cũng không thể “lựa chọn”, mà chỉ có thể “thiết lập” lại sự thật cho lịch sử.
“Sự thật” lịch sử nào cần phải thiết lập lại trong giai đoạn 1954-1975 ?

Có ít nhất 4 phe tham dự vào cuộc chiến: VNDCCH, VNCH, MTGPMN và Mỹ (và một số nước đồng minh). Vì vậy có 4 lập trường (quan điểm) khác nhau về cuộc chiến. Mỗi bên có một lý lẽ riêng biệt để biện hộ cho việc can dự (vào chiến tranh) của phe mình. Phe nào cũng cho rằng cuộc chiến mà mình tham dự là cuộc chiến “có chính nghĩa” (jus ad bellum). Ngoài ra còn có quan điểm khách quan của các luật gia, sử gia thuộc các nước trên thế giới.

Một số quan điểm (học thuyết) mà các học giả quốc tế thường nhắc khi nói đến chiến tranh VN. Những người này cho rằng đây là cuộc chiến : chiến tranh giải phóng dân tộc, chiến tranh cách mạng, nội chiến (guerre civile), chiến tranh ý thức hệ, xâm lược vũ trang (agression armée), tự vệ chính đáng đơn phương và đa phương …

Thật vậy, cuộc chiến Việt Nam có đầy đủ những yếu tố cấu thành các lý thuyết về chiến tranh đã liệt kê. Nhưng các qui ước quốc tế (về chiến tranh) của các học thuyết này đối chọi nhau.

Dưới ánh sáng của từng học thuyết chiến tranh khác nhau, tình trạng pháp lý của quốc gia Việt Nam trong thời gian này cũng được nhìn qua nhiều lăng kính khác nhau.

3.1 Quan điểm của VNDCCH miền bắc, cuộc chiến 54-75 là cuộc chiến “thần thánh” chống Mỹ cứu nước, được thể hiện dưới hai lý thuyết (về chiến tranh) : “chiến tranh cách mạng” của chủ nghĩa Mao và “ chiến tranh giải phóng dân tộc”. Hành vi can thiệp của người Mỹ vào miền Nam bị lên án là hành vi “xâm lược”. Chính quyền VNCH ở miền Nam bị xem là chính quyền “ngụy”, tay sai của “đế quốc Mỹ”. Tức là miền Bắc quan niệm chỉ có một quốc gia Việt Nam duy nhất (qua hiến pháp), đó là quốc gia Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.

(Dầu vậy lý tưởng dân tộc “đánh Mỹ cứu nước” lại nhập nhằng với lý tưởng quốc tế cộng sản “đánh Mỹ cũng là đánh cho Liên Xô, Trung Quốc”. Sau 1975, Việt Nam trở thành “tên xung kích vô sản” sừng sỏ ở phương đông).

3.2 Quan điểm của miền Nam VNCH, cuộc chiến 54-75 là cuộc chiến “bảo vệ tự do”. Chính quyền VNCH có lúc tự hào là “tiền đồn của thế giới tự do”. Cộng sản miền Bắc bị xem là “phỉ”: “cộng phỉ”. Mục đích của những nhà cầm quyền miền Nam là “bắc tiến”, giải phóng miền Bắc ra khỏi ách “cộng sản”. Quan điểm của miền Nam cũng chỉ có một quốc gia Việt Nam duy nhất (qua hiến pháp), đó là Việt Nam Cộng hòa.

Quan điểm của hai miền Bắc và Nam trùng hợp “chỉ có một nước Việt Nam duy nhất, thống nhất ba miền trung, nam, bắc” là do sự ràng buộc của Hiệp định Genève 1954: “Việt Nam là nước độc lập, toàn vẹn lãnh thổ, có chủ quyền và thống nhất”. Điều này nên nhắc vì đây là thành quả tranh đấu của nhiều tầng lớp, phe phái, của nhiều thế hệ dân tộc Việt Nam nhằm chống chủ trương sáp nhập “Nam Kỳ” vào lãnh thổ của đế quốc Pháp.  

3.3 Quan điểm của Hoa Kỳ. Phía này không nhìn nhận Hiệp định Genève 1954. Họ cho rằng có hai quốc gia Việt Nam (độc lập, có chủ quyền): VNDCCH và VNCH. Hoa Kỳ “lên án” miền bắc (VNDCCH) đã “xâm lược vũ trang” quốc gia VNCH. Trên quan điểm công pháp quốc tế, VNCH có quyền “tự vệ chính đáng”. Hoa Kỳ (và các nước đồng minh) có nghĩa vụ phải giúp đỡ Việt Nam để bảo vệ độc lập và chủ quyền của nước này (theo đúng các qui định của Hiến chương LHQ).

Trong khoảng thời gian 1954-1972, Hoa Kỳ luôn thuyết phục các lãnh đạo Việt Nam Cộng Hòa rằng Hoa Kỳ sẽ giúp cho VNCH trở thành một quốc gia độc lập, có chủ quyền. Vì chỉ khi VNCH là một quốc gia độc lập, có chủ quyền thì sự can thiệp của Hoa Kỳ mới chính đáng, jus in bello, theo nguyên tắc “quyền tự vệ chính đáng đa phương”. Hoa Kỳ muốn biến một cuộc “nội chiến” trở thành một cuộc “chiến tranh đa quốc gia”, biến chiến trường Việt Nam thành thí điểm nóng cho cuộc chiến tranh lạnh.

(Sự can dự của Mỹ vào chiến tranh VN đã làm chia rẽ giới học giả, luật gia của nước này. Một số ủng hộ lập trường của chính phủ, cho rằng sự can thiệp vào Việt Nam là chính đáng, phù hợp với luật lệ quốc tế. Số còn lại phản đối, cho rằng sự can thiệp của Hoa Kỳ vào Việt Nam là “không chính đáng”, vi phạm luật lệ quốc tế do can thiệp vào chuyện nội bộ của một quốc gia độc lập, có chủ quyền”.)
  
3.4 Quan điểm của các sử gia, học giả trên thế giới, chiến tranh Việt Nam 1954-1975 vừa là một cuộc “nội chiến” vừa là cuộc chiến “ý thức hệ”. Việt Nam là “thí điểm nóng của cuộc chiến tranh lạnh”. Các bên lâm chiến chỉ là những thành phần của dân tộc Việt Nam. Các bên được sự trợ giúp vũ khí đạn dược cũng như nhân sự của các thế lực từ bên ngoài.

Nội dung Hiệp định Genève 1954 “Việt Nam là nước độc lập, toàn vẹn lãnh thổ, có chủ quyền và thống nhất” được các nước trên thế giới tôn trọng.

  1.  Chiến tranh đã ngưng. Việt Nam được độc lập và thống nhất đã bốn thập niên. Vấn đề “chính nghĩa” của các phe (trong cuộc chiến) lần hồi trở thành những chi tiết rất phụ của lịch sử. Có một, hai hay ba quốc gia VN (trong giai đoạn 54-75) thì có gì là quan trọng khi mà đất nước VN đã thống nhất, nước VN đã dành được độc lập và có chủ quyền ?
Điều quan trọng là đứng dưới ánh sáng của lý thuyết luật học nào, bằng những dữ kiện lịch sử nào, hồ sơ lịch sử và pháp lý về chủ quyền của VN tại Hoàng Sa và Trường Sa chắc chắn nhất, có lợi nhất ?

Điều này tùy thuộc vào nội dung của hồ sơ chủ quyền phía Trung Quốc. Hồ sơ của phía Trung Quốc đã nói cái gì ?. Nhà cầm quyền Bắc Kinh đã dựa vào đâu để cho rằng Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền “bất khả tranh nghị” của Trung Quốc ?

Gác lại một bên các đòi hỏi phi lý về “quyền lịch sử” ở Biển Đông, về “đường chữ U chín đoạn”, ở đây ta chỉ xét các lý lẽ mà Trung Quốc đã đưa ra trước các diễn đàn quốc tế sau khi đặt giàn khoan 981 (trên thềm lục địa của Việt Nam). Chắc chắn đây là những lý lẽ mà phía Trung Quốc cho là quan trọng nhất, có thể thuyết phục được dư luận quốc tế về sự chính đáng của mình: khu vực mà họ đặt giàn khoan 981 thuộc (quyền) chủ quyền của Trung Quốc.

Các lý lẽ, thực ra là các “bằng chứng”, gồm một số tài liệu giáo khoa, bản đồ do phía VN xuất bản, trong đó ghi nhận Tây Sa (tức Hoàng Sa) và Nam Sa (tức Trường Sa) thuộc về Trung Quốc. Ngoài ra là lá thư của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, còn gọi là “công hàm Phạm Văn Đồng” viết ngày 14 tháng 9 năm 1958, công nhận tuyên bố về lãnh thổ và hải phận của Trung Quốc.

Các “bằng chứng” này có thể số đông người Việt Nam chưa biết đến, nhưng từ thập niên 70 các học giả trên thế giới đã đề cập tới.

Đầu thập niên 90, một số tài liệu nghiên cứu về tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông được các học giả quốc tế công bố, trong đó có đề cập đến công hàm 1958 như là một bằng chứng quan trọng. Một số học giả cho rằng, qua công hàm 1958, Việt Nam đã nhìn nhận chủ quyền của Trung Quốc tại Hoàng Sa. Việc này khiến VN bị phạm nguyên tắc “Estoppel”, tức nguyên tắc không được phép nói ngược lại. Tức là, trong quá khứ, quốc gia tiền nhiệm của CHXHCNVN, gọi là VNDCCH, đã “nhìn nhận” chủ quyền của TQ tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Hôm nay quốc gia tiếp nối VNDCCH, tức là quốc gia CHXHCNVN, không thể nói ngược lại (hai quần đảo đó là của VN).

  1.  Trước thách thức như vậy, phía VN đã có biện pháp nào để hóa giải?
Nếu không có điều lầm lẫn, ít nhất cho đến tháng 5 năm 2014, lập trường của hầu hết (nếu không nói là tất cả) các học giả Việt Nam trong ngoài nước, và cũng là lập trường “chính thức” của Việt Nam hiện nay, là có hai quốc gia Việt Nam trong khoảng thời gian 1954-1975. Lập luận cho rằng Hoàng Sa và Trường Sa thuộc quản lý của quốc gia VNCH, quốc gia VNDCCH không có thẩm quyền về hai quần đảo này. Nguyên tắc “Người ta không thể từ bỏ về cái mà người ta không có chủ quyền”, vì vậy công hàm 1958 là không có giá trị pháp lý.

Lập luận này dẫn từ hồ sơ của bà học giả Monique Chemillier-Gendreau, trong tập “La Souveraineté sur les archipels Paracels et Spratleys », nxb Harmattan, ISBN 2-7384-4061-4. Đây là một tập hồ sơ về pháp lý và lịch sử quan trọng, mang tính học thuật, thuyết phục. Tác giả là người có tấm lòng đối với dân tộc Việt Nam.

Nguyên văn lẽ ra phải viết đầy đủ như sau :

« Dans ce contexte, les déclarations ou pris de position éventuelles des autorités du Nord-Vietnam sont sans conséquences sur le titre de souveraineté. Il ne s’agit pas du gouvernement territorialement compétent à l’égard des archipels. On ne peut renoncer à ce sur quoi on n’a pas d’autorité[i] ».

Tạm dịch : trong bối cảnh đó, những tuyên bố hay lập trường nào đó của nhà cầm quyền miền Bắc thì không ảnh hưởng lên danh nghĩa chủ quyền. Nhà nước này không phải là nhà nước có thẩm quyền về lãnh thổ đối với các quần đảo. Người ta không thể từ bỏ về cái mà người ta không có thẩm quyền.

Đó là câu « On ne peut renoncer à ce sur quoi on n’a pas d’autorité - Người ta không thể từ bỏ về cái mà người ta không có thẩm quyền ».

Vấn đề là người ta không thể « trích ngang » một « ý » trong một « nguồn ý », rồi diễn giải sao cho phù hợp sở nguyện của mình. Ý nghĩa của câu này không thể tách rời « nguồn ý », đến từ « bối cảnh » mà tác giả cố gắng diễn đạt.

Bối cảnh đó là học giả Monique Chemillier-Gendreau phản biện ông L. Thomas Bradford, trong tập « The Spratly Island Imbroglio : a tangled web of conflict »; Ông này cho rằng, qua công hàm Phạm Văn Đồng, “Vietnam réaffirmé sa reconnaissance de la prétention chinois sur les archipels » - « Việc Nam tái xác nhận sự công nhận của họ về chủ quyền của Trung Quốc ở các quần đảo ».

Lập luận của bà Monique Chemillier-Gendreau nhằm phủ nhận ý kiến của Thomas Bradford, khi ông này cho rằng VN bị Estoppel. Ý kiến của bà là không thể diễn giải Công hàm 1958 như là hành vi « tái xác nhận việc công nhận chủ quyền của TQ tại HS và TS ».

« Estoppel » là « bối cảnh » của câu văn.

Ý kiến của bà Monique Chemillier-Gendreau không chấm dứt ở đó. Bà viết tiếp (nhưng các học giả VN lại không để ý) :

« Néanmoins, son silence devant l’affirmation de souveraineté chinoise sur les iles peut être interprété comme un acquiescement, et cela autant plus qu’il est renforcé par la déclaration relative aux zones de combat et les articles du Nhan Dan.[ii] »
Tạm dịch : « dầu vậy, sự im lặng (của nhà nước VNDCCH) trước sự khẳng định chủ quyền của Trung Hoa tại các đảo có thể được hiểu như là một sự đồng thuận. Việc này càng được củng cố qua các tuyên bố liên quan đến vùng chiến sự và những bài viết trên báo Nhân Dân. »

Thế nào là « sự đồng thuận – acquiescement » ? hiệu lực pháp lý của « sự đồng thuận – acquiescement » là như thế nào ?

« l’Acquiescement » được định nghĩa là « thuật ngữ thuộc quá trình tố tụng chỉ định hành vi qua đó một bên tranh chấp, một cách minh thị hay mặc thị, vô điều kiện hay có điều kiện, chấp nhận một nghĩa vụ hay một yêu cầu của bên kia. »

Theo tập quán quốc tế, (thể hiện qua các án lệ của các tòa án quốc tế), ít khi nào một bên bị mắc « acquiescement » chỉ vì một dấu hiệu (ưng thuận) đơn lẻ nào đó. Một « sự đồng thuận – acquiescement » luôn là sự kết tinh của một quá trình logic, một tập hợp những « dấu hiệu » thể hiện trong một thời gian lâu dài, từ đó cấu thành một « lập trường » (một thái độ) của một bên.

Sau khi Trung Quốc ra tuyên bố đơn phương về lãnh thổ và hải phận ngày 4 tháng 9 năm 1958. Theo tập quán quốc tế, các nước nếu công nhận lập trường này, sẽ gởi công hàm trả lời mang hình thức « reconnaissance – công nhận ». Trường hợp không đồng ý thì gởi công hàm « phản đối – protestation ».

Công hàm 1958 là một tuyên bố đơn phương, công nhận những đòi hỏi của TQ trong tuyên bố 4-9-1958. Nếu quan niệm VNDCCH (và VNCH) là quốc gia độc lập, có chủ quyền, công hàm 1958 là một vấn đề thuộc công pháp quốc tế, có hiệu lực pháp lý ràng buộc.

Để nhấn mạnh tầm quan trọng của một « tuyên bố đơn phương », ta thử giả sử rằng phía VN « im lặng », không bày tỏ bất kỳ một hành vi nào liên quan đến tuyên bố của Trung Quốc. (Tức giả sử rằng công hàm Phạm Văn Đồng không hiện hữu, hay đã mất hiệu lực do sự « hóa giải » của học giả VN).

Theo tập quán quốc tế, thái độ « im lặng » này sẽ được hiểu là sự « đồng ý ám thị - consentement tacite ».

Thí dụ trường hợp Trung quốc ra tuyên bố về vùng « Nhận diện phòng không » ngày 23-11-2013. Tuyên bố này phù hợp với công pháp quốc tế.

Một quốc gia nếu không lên tiếng phản đối, hay bảo lưu một điều nào đó trong tuyên bố (như chồng lấn vùng không gian, không chấp nhận việc đe dọa sử dụng vũ lực – theo điều 3 của Tuyên bố...) thì tuyên bố này tự động có hiệu lực.

Thái độ « im lặng » của VN sau khi TQ tuyên bố về lãnh thổ và hải phận của họ năm 1958, có nghĩa là sự « đồng ý ám thị », một hình thức thụ động của nguyên tắc « acquiescement ».

Một số hành vi khác củng cố thái độ « đồng thuận » của VN (về chủ quyền của TQ tại HS), điều này học giả Monique Chemillier-Gendreau đã nhắc tới. Đó là các bài viết trên báo Nhân Dân vào thập niên 60 nhìn nhận vùng biển Hoàng Sa (mà Đệ thất hạm đội của Mỹ đang hoạt động) thuộc về TQ. Hoặc các bản đồ do Bộ Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam xuất bản năm 1960 (trên đó quần đảo Nam Sa – tức Trường Sa - được đánh dấu là lãnh thổ Trung Quốc). Hay bản đồ do Cục Bản đồ Việt Nam xuất bản năm 1972, trong đó quần đảo Nam Sa được chú thích bằng tiếng Hoa, chứ không phải bằng tiếng Việt, tiếng Anh hay tiếng Pháp.

Thêm vào đó là các tài liệu (sách giáo khoa), bản đồ do VN xuất bản mà phía TQ vừa công bố mới đây, theo đó Tây Sa và Nam Sa thuộc Trung Quốc.

Thái độ khác, quan trọng hơn cả là sự « im lặng » của VNDCCH vào tháng giêng năm 1974 khi Trung quốc dùng vũ lực xâm lăng Hoàng Sa của VN.

Sự im lặng của VNDCCH được hiểu là « đồng ý ám thị » hành vi của Trung quốc là chính đáng. Mặt khác, các bên VNDCCH và MTGPMN từ chối ký tên vào bản tuyên bố phản đối TQ do phía VNCH đề nghị.

Các điều này kết tinh, đồng thời củng cố, yếu tố « acquiescement - đồng thuận » của VN về các đòi hỏi về danh nghĩa chủ quyền của TQ tại HS và TS.

Như vậy lập luận có hai quốc gia Việt Nam là một điều phiêu lưu và nguy hiểm. Ta không ngạc nhiên khi phía TQ dẫn công hàm 1958 của ông Phạm Văn Đồng ra trước diễn đàn quốc tế LHQ.

Mặt khác, khi lập luận « Người ta không thể từ bỏ về cái mà người ta không có thẩm quyền », là nhìn nhận quốc gia VNDCCH chưa bao giờ có chủ quyền ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Câu hỏi đặt ra, bằng cách nào quốc gia CHXHCNVN hôm nay có chủ quyền ở hai quần đảo này ? Bằng cách « kế thừa » từ quốc gia VNCH ? Hoàng Sa bị TQ chiếm trên tay VNCH tháng giêng năm 1974, làm sao có thể kế thừa một vật đã bị mất ?

Một câu hỏi (chính đáng) đã đặt ra, từ những lần bàn luận trên Facebook : anh đã giết chết người ta thì anh có tư cách gì để kế thừa người ta ?

Từ « giết chết » sử dụng ở đây có thể không phù hợp, nhưng thực tế lịch sử giữa hai thực thể VNCH và VNDCCH, từ năm 1959 đến 1975, đã thể hiện trong chiều hướng như vậy.

học giả lập luận rằng sau 1975 chính phủ CHMNVN kế thừa VNCH. Kế thừa ở đây là kế thừa « chính phủ » với « chính phủ ». Trước đây 40 năm thì người ta có thể lập luận như vậy. Hôm nay, chỉ cần bấm các chữ MTGPMN (viết tắt) trên google thì cũng sẽ hiện ra các nguồn dẫn nói về Mặt Trận Dân tộc giải phóng Miền nam. Theo đó người ta biết rằng Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam được khai sinh ngày 20-12-1960, theo nghị quyết của của Đại hội đảng toàn quốc lần thứ ba của đảng CSVN (lúc đó là đảng Lao Động), do bộ Chính trị đảng CSVN và Trung ương cục miền Nam lãnh đạo.

Tức là CHMNVN chỉ là một « con đẻ » không thể tách rời của VNDCCH mà phía Trung Quốc là « bà mụ » đỡ đẻ. Nó không thể gọi là một « chính phủ » trên danh nghĩa pháp lý, vì nó bị « giật dây », nếu không nói là cánh tay nối dài của VNDCCH.

Giả sử vấn đề tranh chấp được giải quyết bằng một trọng tài quốc tế, trước Tòa, làm thế nào phía VN thuyết phục Tòa rằng CHMNVN (một bộ phận không tách rời của VNDCCH) « kế thừa » VNCH ?

Nhưng cũng thử giả sử rằng VN « qua mặt » được Tòa, chính phủ CHMNVN kế thừa danh nghĩa chủ quyền Hoàng Sa từ VNCH một cách tốt đẹp.

Xét lại các văn bản ngoại giao sau 1975, quốc gia CHXHCNVN « tiếp nối » quốc gia VNDCCH. Vấn đề là quốc gia CHXHCNVN làm thế nào cùng lúc kế thừa hai lập trường đối nghịch : lập trường nhìn nhận chủ quyền HS và TS thuộc TQ của VNDCCH và lập trường đối kháng của VNCH ?.

  1. Có người lại kêu gọi nhà nước VN hôm nay « công nhận » VNCH như là một « quốc gia ».
Việc « công nhận quốc gia » là quan trọng trong quan hệ quốc tế, vì nó xác định sự hiện hữu (tư cách pháp nhân) một quốc gia trên sân khấu quốc tế. Thủ tục công nhận thể hiện bằng việc « thiết lập bang giao », qua các việc trao đổi lãnh sự, ký kết các hiệp ước, hay bằng một tuyên bố đơn phương giữa các quốc gia. Việc công nhận quốc gia là các bên chấp nhận các yếu tố đặc thù về công dân, về lãnh thổ và về chính phủ của các bên.

Trên tinh thần này thì nhà nước VNDCCH, tức nhà nước tiền nhiệm của CHXHCNVN, chưa bao giờ « công nhận » sự hiện hữu của VNCH (chưa nói đến việc VNCH có là « quốc gia » hay không). Hai miền Nam, Bắc là hai đối thủ thù nghịch nhau trong cuộc nội chiến 54-75, chưa bao giờ có thiết lập quan hệ ngoại giao mà chỉ có đối đầu bằng súng đạn.

Mặt khác, nước CHXHCNVN cũng không thể bây giờ mới « công nhận » VNCH là một quốc gia. Đơn giản vì người ta không thể công nhận cái đã không còn hiện hữu.

Kêu gọi nhà nước VN hôm nay « công nhận » VNCH là quốc gia thì cũng như việc kêu gọi Bắc Kinh công nhận Đài Loan là « quốc gia ».

Nhiều người so sánh tình trạng pháp lý của quốc gia VN (từ 1954-1975) tương tự như trường hợp Nam, Bắc Hàn, Đông Tây Đức.

Trường hợp hai miền Nam và Bắc Triều Tiên cùng gia nhập LHQ cuối năm 1991, theo đề nghị của Gorbachev, vì chiến tranh lạnh chấm dứt. Cộng đồng quốc tế có thói quen xem hai miền là hai « quốc gia », nhưng thực tế không phải vậy. Hai xứ này cùng gia nhập LHQ trên tinh thần của Kết ước « Hòa giải và hợp tác » ký giữa hai miền ngày 13-12-1991. Lời mở đầu của kết ước khẳng định các quan hệ hai bên không phải là quan hệ giữa « quốc gia », mà chỉ là một quan hệ tạm thời trong tiến trình thống nhứt đất nước.

Tình trạng pháp lý của quốc gia Việt Nam bị phân chia thực ra gần gũi với trường hợp giữa Trung Quốc lục địa với Đài Loan. Hội nghị San Francisco lấy lại Đài Loan từ Nhật và giao trả lại cho Trung Hoa. Đài Loan vì vậy là một « vùng lãnh thổ » của quốc gia Trung Hoa. Hiệp định Genève 1954 phân chia VN thành hai miền : VNDCCH ở miền bắc và VNCH ở miền Nam. Cả hai cùng thuộc về một quốc gia Việt Nam duy nhất.

Nếu Bắc Kinh không thể « công nhận » Đài Loan là « quốc gia » thì VNDCCH (lúc đó) cũng không thể « công nhận » VNCH là « quốc gia » được.

  1. Việc lựa chọn quan điểm có « hai quốc gia Việt Nam » đã đặt hồ sơ pháp lý của VN vào thế kém. Trong khi, trên phương diện lịch sử, ta có thể có một sự lựa chọn tốt hơn.
Trở lại lập trường của Hoa Kỳ. Lập trường này chủ trương có hai quốc gia VNCH và VNDCCH là hai quốc gia độc lập có chủ quyền.

Chiến tranh của người Mỹ tại Việt Nam được kết thúc qua Hiệp định Paris 1973. Người Mỹ đã thất bại, vì đã không thể giúp VNCH trở thành một quốc gia độc lập có chủ quyền, cũng không thể biến cuộc “nội chiến” thành cuộc “chiến tranh đa quốc gia”. Cuối cuộc chiến, chỉ có một mình Hoa Kỳ ở lại. Thế giới lúc đó hầu như đồng loạt lên án Hoa Kỳ về việc tham dự cuộc chiến.

Nội dung Hiệp định Paris 1973 khẳng định lại hiệu lực Hiệp định Genève 1954: “Việt Nam là nước độc lập, toàn vẹn lãnh thổ, có chủ quyền và thống nhất”.

Tức là, người Mỹ đã hoài công xây dựng một nước VNCH độc lập, có chủ quyền, liên tục (tính gọn) từ 1954 đến 1973.

Sau khi hiệp định được ký kết, phía VNDCCH tiếp tục chiến tranh như Mỹ không thể trở lại. Lý do : đã nhìn nhận VN là một nước độc lập, có chủ quyền. Chiến tranh VN vì vậy trở thành cuộc nội chiến. Việt Nam được thống nhất theo « phương cách » của nó. Hoa Kỳ không còn lý do để can thiệp.

Dầu vậy, phía Hoa Kỳ “vớt vát” được một điều trong Hiệp định Paris: Dân miền Nam giữ được quyền “dân tộc tự quyết”. Điều này được đưa vào thực sự không có ý nghĩa lớn lao, như nhằm bảo vệ sự “chính đáng” của Hoa Kỳ khi tham dự vào cuộc chiến. Hiệp định Paris 1973 là cái cớ để “đồng minh tháo chạy” trong danh dự. Thì cái gọi là quyền “dân tộc tự quyết” của “dân tộc miền Nam” có thể chỉ là một “thủ thuật pháp lý”, phòng ngừa sau này lấy cớ chính đáng để “khi đồng minh trở lại”.

Thật vậy, giả sử dân tộc miền Nam đồng lòng đứng lên “đòi quyền tự quyết” (như trường hợp Kossovo hay Crimée), thì Hoa Kỳ có thể bị “ràng buộc” bởi Hiệp định Paris 1973 để vào can thiệp.

Việc hô hào « công nhận » VNCH đã là một « quốc gia » vì vậy sẽ mở đường cho nhiều giả thuyết bất lợi về sau, như miền Nam (VNCH cũ) có thể ly khai, tuyên bố độc lập. Đây là điều không người VN nào mong muốn.

  1. Lập trường một quốc gia Việt Nam duy nhất.
Trên phương diện thực tế và lịch sử, 20 tháng 7 năm 1954, hiệp định Genève quyết định phân chia quốc gia VN thành hai miền tại vĩ tuyến 17. Hiệp định nhấn mạnh việc phân chia chỉ tạm thời, đường vĩ tuyến 17 trong bất kỳ trường hợp nào, không thể xem đó là đường biên giới phân định lãnh thổ hay chính trị. Hai miền Nam và Bắc lần lượt mang tên Việt Nam Cộng Hòa và Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Nội dung Hiệp định Genève xác nhận VN là một nước « độc lập, toàn vẹn lãnh thổ, có chủ quyền và thống nhất ».

Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, do ở phía nam vĩ tuyến 17, do đó thuộc quyền quản lý của VNCH.

Hiệp định Paris năm 1973 xác định lại nội dung hiệp định Genève 1954 : « Hoa Kỳ và các nước khác tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam như Hiệp định Genève 1954 về Việt Nam đã công nhận. »

Cả hai hiệp định này đều được bảo trợ của Trung Quốc, cũng như các cường quốc Mỹ, Anh, Pháp…

Năm 1956 VNCH công bố Hiến pháp, điều 1 khẳng định : VN là một nước cộng hòa, độc lập, thống nhất và bất khả phân. Về phía VNDCCH, Hiến pháp 1946, điều 2 xác định VN là một khối thống nhất bắc, trung, nam không thể phân chia. Hiến pháp 1959, những dòng đầu đã khẳng định VN là một nước thống nhất từ Lạng sơn đến Cà Mau.

Cả hai miền như vậy đều tôn trọng nội dung hiệp định Genève 1954 : Việt Nam là một quốc gia thống nhất (ba miền) độc lập và có chủ quyền.

Điều này thể hiện lên thực tế. Trong khoảng thời gian từ 1954 đến 1973, không có bất kỳ quốc gia nào trên thế giới nhìn nhận sự hiện hữu của hai quốc gia Việt Nam. Khối Tư bản nhìn nhận VNCH là đại diện của nước Việt Nam duy nhất. Khối XHCN công nhận VNDCCH là đại diện nước VN duy nhất. Nước này nhìn nhận phía này thì không nhìn nhận phía kia, hay ngược lại.

Tức là, trên thế giới chỉ hiện hữu một quốc gia VN duy nhất. Hai thực thể VNCH và VNDCCH, nói theo ngôn ngữ công pháp quốc tế, là hai « quốc gia chưa hoàn tất – Etat partiel ».

Thời điểm phát xuất công hàm 1958 của cố TT Phạm Văn Đồng, phía VNDCCH vẫn còn có nguyện vọng thống nhất đất nước. Nhiều lần phía VNDCCH hối thúc VNCH, cho đến năm 1960, thương nghị giữa hai miền để tiến tới thống nhất Việt Nam theo nội dung của Hiệp định Genève 1954.

Như vậy, trên quan điểm công pháp quốc tế, nước VN chỉ có một, thống nhất ba miền, toàn vẹn lãnh thổ, độc lập, có chủ quyền.

Trên tinh thần đó, bất kỳ các tuyên bố, các hành vi đơn phương của một bên (VNCH hay VNDCCH), như công hàm 1958 của Phạm Văn Đồng, cũng như một số các hành vi khác của VNDCCH trong khoảng thời gian 1954-1976 (có thể diễn giải là hành vi từ bỏ chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa), vì đe dọa đến việc toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, đi ngược lại nội dung các hiệp định quốc tế 1954 và 1973, do đó chúng đều không có giá trị pháp lý.

Tức là công hàm 1958 của cố TT Phạm Văn Đồng được hóa giải một cách dễ dàng, đúng theo tinh thần trọng luật của công pháp quốc tế, phù hợp với trình tự lịch sử.

Về vấn đề kế thừa, hai thực thể chính trị VNCH và VNDCCH chỉ là hai miền thuộc về một quốc gia Việt Nam duy nhất, việc kế thừa lại là việc « nội bộ » của quốc gia, không thuộc phạm vi công pháp quốc tế. Danh nghĩa chủ quyền của VN tại HS và TS do đó được giữ liên tục, từ thời các vua chúa VN, sang đến thời thuộc Pháp, thuộc Nhật, hay đồng minh quản lý, cuối cùng chuyển sang VNCH sau đó là VN hôm nay.

  1. Vấn đề kiện tụng.
Kiện tụng là một việc phiêu lưu, VN có thể thắng, có thể thua. Phía TQ bảo lưu ở LHQ sẽ không chấp nhận bất kỳ một trọng tài nào giải quyết tranh chấp lãnh thổ (hay những vấn đề liên quan đến lãnh thổ). Không gian pháp lý của VN rất là hẹp. Các học giả, luật gia VN cần phải tìm ra giải pháp kiện thế nào để vừa không bị tòa bác đơn do các bảo lưu của TQ, vừa không bị thua kiện do hồ sơ quá yếu.

Cá nhân tôi đã có một đề nghị đã công bố, ghi lại ở đây :

VN đệ đơn đề nghị Tòa Công lý Quốc tế (CIJ) tuyên bố một số điều :

-      Việc chiếm hữu một lãnh thổ bằng phương pháp vũ lực là vi phạm các nguyên tắc cơ bản của LHQ.
-      Việc chiếm hữu các đảo ở Trường Sa (lập danh sách chi tiết các đảo) năm 1988 bằng vũ lực không đem lại cho Trung Quốc danh nghĩa chủ quyền.
-      Việc chiếm hữu quần đảo Hoàng Sa tháng giêng năm 1974 bằng vũ lực không đem lại cho Trung Quốc danh nghĩa chủ quyền.

Ba điều yêu cầu Tòa tuyên bố hoàn toàn thuộc về quyền của quốc gia Việt Nam, là thành viên các công ước và các nguyên tắc cơ bản của LHQ. Đồng thời việc giải thích nội dung các điều ước quốc tế thuộc thẩm quyền của Tòa CIJ. (Các điều ước quốc tế liên quan gồm : Công ước Drago-Porter 1907, Hiến chương LHQ điều 2 khoản 4 ngày 26-6-1945, hay Tuyên bố của Đại hội đồng LHQ 18-11-1987). Đặc biệt các yêu cầu này không liên quan đến các bảo lưu của TQ về việc phân giải tranh chấp chủ quyền bằng trọng tài quốc tế.

Mục đích việc yêu cầu Tòa tuyên bố, nếu thành công (điểm 3), sẽ đưa quần đảo Hoàng Sa (không có tranh chấp, theo TQ) vào tình trạng « có tranh chấp ». 

Nếu VN thua, tức Tòa không tuyên bố (không có ý kiến), thì VN cũng không có gì để mất. Trong vụ yêu cầu Tòa tuyên bố này không hề nói đến chủ quyền các đảo (HS và TS) là của ai, mà chỉ nói đến việc nhìn nhận hay không nhìn nhận, danh nghĩa chủ quyền nếu việc chiếm hữu thực hiện bằng vũ lực.

Còn nếu thắng (sác xuất thắng là rất cao), VN được nhiều thứ.

Theo tập quán quốc tế, « đất thống trị biển ». Nếu các đảo Hoàng Sa là lãnh thổ « có tranh chấp » thì vùng biển phát sinh từ nó cũng có tranh chấp. Tức vùng biển từ đảo Hải Nam đến Hoàng Sa là vùng biển có tranh chấp.

Theo thông lệ quốc tế, nếu lãnh thổ có tranh chấp, việc giải quyết thường là chia hai (hay cộng đồng khai thác), mỗi bên được một phần của lãnh thổ đó. Tức là, quần đảo HS có thể chia hai, thí dụ hai nhóm Nguyệt Thiềm và An Vĩnh. VN có thể nhận nhóm Nguyệt Thiềm (phía tây) và giao cho TQ nhóm An Vĩnh (phía đông). Hải phận sinh ra do quần đảo này do đó cũng sẽ chia hai.

Đó là cái lợi thứ nhất. 

Cái lợi thứ hai ở Trường Sa. Nếu tòa tuyên bố, thì TQ không có chủ quyền tại các đảo của VN tại TS. TQ sẽ không thể tuyên bố vùng « nhận diện phòng không » trong khu vực này được.

Cái lợi thứ ba, là VN dành được tính « chính đáng ». Nhiều người cho rằng các phán quyết của Tòa cũng không làm gì, nếu TQ không tuân thủ. 

Thực ra phán quyết của Tòa có tầm quan trọng rất lớn. VN có thể dùng các biện pháp để bảo vệ quyền lợi của mình. Việc « bảo vệ » ở đây mang tính tự vệ chính đáng, được hiến chương LHQ công nhận.

Đây là một việc làm ít tốn kém, đáng lẽ không cần phải đưa ra một tổ hợp luật sư nào. Tuy nhiên, để nắm chắc phần thắng, đơn không bị bác do lỗi thủ tục, VN nên thông qua một tổ hợp luật sư chuyên môn ở HK.







[i] Monique Chemillier-Gendreau – La Souveraineté sur les Archipels Paracels et Spratleys – NXB Harmattan 1996, page 123.
[ii] Monique Chemillier-Gendreau, sdd, tr 123.

mercredi 3 septembre 2014

Việt Nam thực sự “độc lập” ngày nào ?

Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tuyên bố độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945. Trước đó ông Bảo Đại đã trao Tuyên ngôn Độc lập cho ông Yokohama, Đại sứ Toàn quyền của Nhật tại Việt Nam, ngày 12 tháng 3 năm 1945.

Việt Nam thực sự “độc lập” ngày nào ? Để có thể trả lời chính xác, điều tiên quyết ta cần phải hiểu thế nào là “độc lập” ?

Độc lập, nghĩa thông thường là đứng một mình. “Kim kê độc lập” là thế võ bắt chuớc từ cách đứng “một chân” của con gà vàng. Trong chính trị, từ “độc lập” thường được sử dụng trong trường hợp các quốc gia thoát khỏi ách “thực dân - colonie” hay “chư hầu – suzeraineté”. Quốc gia được gọi là “độc lập” khi quốc gia đó không còn bị ràng buộc chính trị từ một thế lực ngoại bang.

Trong quốc tế công pháp, “độc lập” được hiểu như là “có chủ quyền – souveraineté” (phán quyết của trọng tài Max Huber, CIJ về tranh chấp đảo Palmas 4-4-1928). Quốc gia có chủ quyền là quốc gia độc lập (không bị ảnh hưởng từ một nước nào khác) trong vấn đề bang giao với các quốc gia khác. Tức là trên phương diện pháp luật (quốc tế), “độc lập” cũng có nghĩa là “chủ quyền”.

Cũng cần hiểu thêm ý nghĩa của từ « chủ quyền – souveraineté ». Từ này bắt nguồn ở cuộc cách mạng Pháp 1789. “Chủ quyền” được định nghĩa như là một « thẩm quyền tối thuợng, tuyệt đối và vô điều kiện ». “Quyền” ở đây là “quyền” của “quyền lực – pouvoir, power”, chứ không phải “quyền” của “droit, right” (như “quyền sở hữu”). Trên nguyên tắc dân chủ, « chủ quyền » (quyền lực tối thuợng) thuộc về nhân dân. Theo nguyên tắc này, không một chủ thể bất kỳ, hay một cá nhân nào đó có thể hành sử quyền hành mà không bắt nguồn một cách minh bạch từ đây (nhân dân).

Tức là, điều kiện để một quốc gia độc lập (có chủ quyền) là: 1/ quyền lực quốc gia bao trùm lên toàn lãnh thổ quốc gia. Quyền lực này “tối thuợng”, có tính “độc quyền”, không chịu ảnh hưởng hay áp lực từ bất kỳ một quốc gia nào. 2/ Độc lập trong vấn đề bang giao với các nước khác, tức được các quốc gia khác nhìn nhận với tư cách là “quốc gia”.

Trong quốc tế công pháp, vào thời kỳ chuyển tiếp sau Thế chiến thứ II, người ta nhìn nhận tư cách pháp nhân “từng phần – partiel” của một quốc gia chỉ trên vấn đề lãnh thổ. Thí dụ, sau Thế chiến II, quần đảo Lưu Cầu của Nhật do Hoa Kỳ quản lý. Việc quản lý của Hoa Kỳ chỉ thuần túy ở mặt quân sự, còn về “chủ quyền lãnh thổ” vẫn thuộc về Nhật. Tức là người dân tại đây vẫn mang quốc tịch Nhật. Thí dụ khác, trong Hội nghị San Francisco 1951, Quốc Gia Việt Nam được tham gia với tư cách là một “quốc gia độc lập” có tuyên chiến với Nhật. Nhưng thật ra tư cách pháp nhân của “Quốc gia Việt Nam” vào thời điểm này chỉ độc lập từng phần, tức chỉ có “chủ quyền” về “lãnh thổ”, trong khi về quân sự và ngoại giao thì bị hạn chế do việc ảnh hưởng của Pháp.

Một ghi nhận thú vị: Người Việt Nam thường hay lẫn lộn “chủ quyền lãnh thổ”, tức “thẩm quyền của quốc gia trên vùng lãnh thổ” với “quyền sở hữu về lãnh thổ”. Chữ “quyền” trong “thẩm quyền” là “quyền”  của “quyền lực”, chứ không phải là “quyền” của “quyền sở hữu”. Do vậy một số các học giả VN thuộc Quĩ Nghiên cứu Biển Đông (qua các lần phỏng vấn trên BBC) nhấn mạnh rằng “chủ quyền lãnh thổ thuộc về quốc gia”. Điều này hoàn toàn sai. “Chủ quyền” ở đây là “quyền lực tối thuợng”, chứ không phải là “quyền sở hữu”. “Chủ quyền” lãnh thổ, tức “quyền tối thuợng” của quốc gia trong vùng lãnh thổ đó, dĩ nhiên phải thuộc về nhân dân.

Khi hiểu “độc lập” và “chủ quyền” như vậy, thì các tuyên bố của ông Bảo Đại ngày 12 tháng 3 năm 1945, hoặc của ông Hồ ngày 2 tháng 9 năm 1945, tuyên bố nào phù hợp với hoàn cảnh của Việt Nam ? (Tức là VN có thực sự “độc lập” vào thời điểm đó hay chưa ?)

Nhìn lại sơ lược về lịch sử vào các thời điểm đó là điều cần thiết.

Ngày 10 tháng 3 năm 1945 Nhật đảo chánh Pháp, chiếm Đông Dương. Đại diện Nhật Hoàng là ông Yokohama tiếp xúc với ông Bảo Đại đề nghị trả lại độc lập cho VN. Ngày 12 tháng 3 năm 1945 Bảo Đại trao bản tuyên ngôn độc lập cho ông Yokoyama. (Bản Tuyên ngôn ký ngày 27 tháng giêng năm Bảo Đại thứ 20). Bảo Đại tuyên bố vô hiệu lực các hiệp ước bảo hộ (mà nhà Nguyễn) đã ký trước đây với Pháp. Quốc gia tên là « Đế Quốc Việt Nam » ra đời. Ngày 17-4-1945 chính phủ Trần Trọng Kim thành lập.

Câu hỏi đặt ra, Tuyên ngôn của Bảo Đại có thật sự là “tuyên ngôn độc lập”, với một nước VN thật sự độc lập ?

“Tuyên ngôn độc lập” của Bảo Đại, trên phương diện quốc tế công pháp, là một “tuyên bố đơn phương”. Tuyên bố này có giá trị pháp lý hay không tùy thuộc vào hai yếu tố (đã ghi trên).

a)    Ông Bảo Đại có đầy đủ “quyền lực tối thuợng” (và độc quyền sử dụng quyền lực) trên toàn lãnh thổ Việt Nam hay không ?

Câu trả lời là không. Phía thực sự nắm quyền lực là quân chiếm đóng trong khi Nam kỳ chủ quyền thuộc về Nhật.

b)   Tuyên bố của Bảo Đại có được sự nhìn nhận của các quốc gia khác hay không ?.

Trên thực tế tuyên bố này chỉ có Nhật thừa nhận. Điều này dễ hiểu, vì Nhật cần sự dứt khoát (về pháp lý) giữa VN và Pháp để đưa VN vào vòng ảnh hưởng của mình.

Việc nhìn nhận của Nhật không đủ để bảo kê cho VN độc lập (sau khi Nhật đầu hàng), vì lẽ : phe chiến thắng (Đồng Minh) không nhìn nhận bất kỳ một chính quyền nào do Nhật dựng lên ở các thuộc địa của Nhật. Điều này cũng có lợi cho VN sau này. Bởi vì, nếu quốc gia tên gọi “Đế quốc Việt Nam” của Bảo Đại được quốc tế nhìn nhận, thì quốc gia này sẽ đứng chung với phe Trục của Nhật, Đức, Ý… trở thành các quốc gia thù nghịch với Đồng Minh. Sau Thế chiến II quốc gia này sẽ có cùng số phận với các nước thua trận.

Tuyên ngôn độc lập của Bảo Đại vì vậy chỉ có ý nghĩa về biểu tượng, về lịch sử. Nó không có giá trị về pháp lý cũng trên thực tế. (Bảo Đại chưa bao giờ thể hiện quyền lực của mình trên toàn cõi quốc gia có tên là Đế quốc Việt Nam).

Còn tuyên ngôn ngày 2 tháng 9 của ông Hồ ?

Ngày 15 tháng 8 năm 1945, Nhật tuyên bố đầu hàng Đồng Minh. Việt Nam có một khoảng trống quyền lực. Thừa dịp, ngày 19 tháng 8 năm 1945 Mặt trận Việt Minh làm « cách mạng », lập chính phủ « lâm thời » tại Hà Nội. Ngày 25 tháng 8 Bảo Đại giao ấn, kiếm cho Trần Huy Liệu, đại diện Ủy ban giải phóng, tuyên bố thoái vị. Quốc gia gọi là « Đế Quốc Việt Nam » kết thúc và quốc gia « Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa » ra đời.

Ngày 2 tháng 9 năm 1945 ông Hồ đọc Tuyên ngôn Độc lập.

Có hai chi tiết thú vị về ngày 2 tháng 9 năm 1945.

Thứ nhất là thời điểm. Ngày 2 tháng 9 được chọn không hề do tình cờ mà là kết quả tính toán sâu xa của ông Hồ Chí Minh (và ban tham mưu, có lẽ là từ các viên chức OSS Hoa Kỳ mà ông Hồ có cộng tác). Bởi vì ngày 2 tháng 9 năm 1945 cũng là ngày đế quốc Nhật ký văn kiện đầu hàng Đồng Minh trên chiếc Thiết giáp hạm USS Missouri của Mỹ đang neo trong vịnh Tokyo.

Thứ hai, nội dung bản Tuyên ngôn dẫn nhiều ý tứ từ bản Tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ.

Từ hai chi tiết này, ta có thể cho rằng Ông Hồ (được sự gợi ý của các chuyên viên OSS), khi đọc tuyên ngôn là có mục đích đưa tín hiệu đến Mỹ.

Công việc không thành, có lẽ là do tình hình chính trị VN chưa được sáng tỏ.

Việc giải giới quân Nhật tại VN do hai lực lượng Đồng Minh, phía Bắc vĩ tuyến 16 thuộc quyền quân Trung Hoa (và Hoa Kỳ), phía Nam thuộc quyền của Anh. Trong khi quân Pháp còn giữ chủ quyền tại Nam Kỳ đồng thời muốn thiết lập lại quyền lực của đế quốc thực dân.

Tuyên ngôn độc lập của ông Hồ, trên phương diện pháp lý cũng như trên thực tế, không thể hiện được một quốc gia Việt Nam độc lập.

VNDCCH không thế “kế thừa” quốc gia Đế quốc VN (khi nhận ấn kiếm từ Bảo Đại), vì quốc gia này không được quốc tế nhìn nhận.

Ông Hồ và chính phủ của ông không hề thể hiện “quyền lực” trên toàn lãnh thổ Việt Nam.

Quốc gia VNDCCH không được một quốc gia nào công nhận.

Quốc gia VNDCCH của ông Hồ còn một khuyết điểm lớn khác, đe dọa tính chính thống của ông Hồ và những người cộng tác. Đó là việc ngày 6 tháng 3 1946, ông Hồ ký với Pháp một hiệp ước gọi là « hiệp ước sơ bộ ». Theo đó Pháp công nhận VN là một nước « tự do » nằm trong Liên bang Đông dương và Liên hiệp Pháp.

Hiệp ước sơ bộ không hề nói một nước Việt Nam “độc lập” mà chỉ nói một nước « Việt Nam tự do » thuộc « Liên bang Đông dương » và khối « Liên hiệp Pháp ». Tức ông Hồ chấp nhận « quốc gia » Việt Nam, không bao gồm Nam Kỳ mà thực chất là một « tiểu bang » hay « xứ », nằm trong Liên bang Đông Dương, có qui chế pháp lý tương đương với xứ Bắc Kỳ.

VNDCCH chỉ được một số nước công nhận sau này, khi các thế lực cộng sản thắng thế tại Trung Hoa cũng như các nơi khác trên thế giới. Lúc đó ông Hồ cũng chỉ kiểm soát được phân nửa đất nước và phân nửa dân chúng. Tức thẩm quyền quốc gia về lãnh thổ của nước VNDCCH chỉ áp dụng cho ½ đất nước. Việc này, theo công pháp quốc tế, chỉ thể hiện một quốc gia VNDCCH “chưa hoàn tất – partiel”.  

Trường hợp ra “tuyên ngôn độc lập” như ở VN không phải là ngoại lệ. Các nước trong khu vực, như Nam Dương, cũng thừa cơ hội Nhật đầu hàng ra tuyên ngôn độc lập, ngày 17-8-1954. Nhưng việc này cũng không được nước nào nhìn nhận. Khi Anh vào tiếp quản, các lực lượng “cộng hòa” tại đây đi vào “kháng chiến”. Trong khi Hòa Lan thì chuẩn bị lực lượng mục đích dành lại thuộc địa của mình. Nam Dương thực sự độc lập khi Anh rút lui (vì không muốn đổ máu cho quyền lợi của Hòa Lan) ngày 27-12-1949 qua sự nhìn nhận của Hòa Lan (Nam Dương độc lập).

Tuyên Ngôn độc lập của ông Hồ, một tuyên ngôn “không dựa trên thực tế”. Việt Nam không phải là một nước độc lập.

Theo tôi, tên quan điểm quốc tế công pháp, ngày thật sự độc lập của quốc gia Việt Nam là ngày mà thẩm quyền quốc gia được phủ trùm lên toàn lãnh thổ đất nước Việt Nam. Thẩm quyền này độc quyền và “tối thuợng” được sự nhìn nhận của cộng đồng các nước trên thế giới.

Có thể đó là ngày ngày 8 tháng 3 năm 1949, ngày ký kết ước Elysée, Pháp trả Nam Kỳ lại cho VN đồng thời nhìn nhận một nước Việt Nam Độc lập và thống nhất. Ngày 27-5-1948 Quốc gia Việt Nam thành hình với Chính phủ Trung ương Lâm thời Việt Nam được thành lập do Nguyễn Văn Xuân làm thủ tướng, Bảo Đại làm « Hoàng Đế, Quốc trưởng ». Nội dung kết ước Elysée có nhiều điều cần bàn cãi, nhưng điểm chính là Pháp trả lại miền Nam cho VN (thay vì cho Kampuchia), đồng thời công nhận VN « độc lập » và « thống nhứt ».

Cũng có thể là ngày 30-4-1975. Ngày này có đủ các yếu tố để trở thành ngày độc lập: thẩm quyền quốc gia bao trùm trên toàn lãnh thổ. Thẩm quyền này “độc quyền” và “tối thuợng”. Tuy nhiên, lúc đó cộng đồng thế giới vẫn chưa nhìn nhận VN là một nước “độc lập”.


Ngày “hiệp thuơng thống nhất đất nước” 21-11-1975 (hoặc ngày 3-7-1976 khai sinh nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam) cũng đều có thể là ngày độc lập thật sự. Từ những ngày này, quốc tế nhìn nhận VN là một nước độc lập, thống nhất và có chủ quyền toàn vẹn.

vendredi 22 août 2014

Nhân 110 năm ngày sinh nhật Đặng Tiểu Bình

Đặng Tiểu Bình có thể là một thiên tài, một kiến trúc sư lớn, xây dựng thành công mô hình « xã hội chủ nghĩa theo bản sắc Trung Hoa », giúp đất nước này thoát cảnh nghèo đói và chậm tiến. Nhưng trên quan điểm chiến lược quân sự, họ Đặng có nhiều khuyết điểm. Ông không phải là một nhà chiến lược quân sự có tài. Thất bại liên tục hai cuộc chiến biên giới 1979 và 1984 trước một nước nhỏ là Việt Nam đã chứng minh điều này.

1/ Thất bại về chiến lược quân sự của Đặng Tiểu Bình :

Lịch sử nhân loại cho ta thấy đường biên giới giữa hai quốc gia được thành hình do kết quả của « tương quan lực lượng » giữa hai bên. Đối với nhiều học giả Trung Quốc, đường biên giới miền bắc VN, do Pháp và nhà Thanh hoạch định theo các công ước 1887 và 1895, là một đường biên giới « bất bình đẳng », gây thiệt hại cho TQ. Những người này cho rằng công ước được ký kết trong lúc nhà Thanh bị uy hiếp, nhà Thanh phải « nhượng » VN lại cho Pháp mà không có sự trao đổi (về đất đai) nào. Trước chiến tranh (Pháp-Trung 1884) xảy ra, hai bên Pháp và nhà Thanh đã có thương lượng về số phận của Việt Nam. Năm 1883, theo tinh  thần một kết ước giữa Lý Hồng Chương và viên Đặc sứ Toàn quyền Pháp tại Bắc Kinh là ông Bourée, Pháp nhìn nhận đường biên giới hai bên là một đường vẽ ở khoảng giữa vĩ tuyến 21 và 22 (từ Lào Cai ra biển), trong khi phía nhà Thanh đòi hỏi biên giới đi qua tỉnh Ninh Bình. Tuy nhiên, sau khi chính phủ Ferry lên nhậm chức ở Paris, kết ước này bị hủy bỏ, ông Bourée (cho là bị Lý Hồng Chương mua chuộc) bị bãi chức và triệu hồi.

Cuộc chiến 1979 cho thấy « mục tiêu quân sự » của họ Đặng có thể là xác lập lại đường biên giới Việt-Trung, theo tinh thần của kết ước Bourée – Lý Hồng Chương. « Mục tiêu quân sự » của họ Đặng là chiếm các vùng đất đã hoạch định : từ Lào Cai ra biển. (Tại vùng Lạng Sơn, biên giới theo sông Kỳ Cùng). Các « mũi nhọn » chiến lược của các đạo quân TQ trên vùng biên giới cho ta thấy điều này.

Thất bại cuộc chiến 1979, cũng là thất bại chua cay của Đặng Tiểu Bình. Chua cay vì VN bị tấn công cùng lúc trên hai mặt trận : phía bắc và phía tây nam. Toàn bộ lực lượng của VN đã dồn về biên giới Kampuchia, biên giới phía bắc hầu như bỏ ngỏ. Quân TQ (với gần 300.000 quân cùng xe tăng đại pháo), vậy mà không hoàn tất được mục tiêu quân sự. Quân TQ chịu tổn thất lớn và đã mất quá nhiều thời gian (gần một tháng) để chiếm Lạng Sơn, lúc Liên Xô đã quyết định vào cuộc. TQ không thể ở lại các vùng đất đã chiếm, vì lo ngại Liên Xô can thiệp, trong khi quân VN vẫn còn ở lại Kampuchia (cho đến cuối thập niên 80).

Lý do thất bại, họ Đặng đã không nghe lời các tham mưu, có kinh nghiệm trên thực địa. Những người này khuyên nên chiếm một vùng đất giới hạn mà VN không thể chiếm lại được (như huyện Trùng Khánh) hay khu vực biên giới Thanh Thủy.

Thất bại lần thứ hai, chiến dịch biên giới Vị Xuyên năm 1984. Cuộc chiến này cũng khốc liệt, dài dẵn cho đến cuối năm 1989, nhưng trong dân chúng (cũng như trước quốc tế), sự xung đột này bị hai bên dấu nhẹm.

Mục tiêu quân sự của phía TQ có thể là thiết lập lại đường biên giới khu vực Hà Giang (xã Thanh Thủy) theo đúng như tinh thần công ước 1887 và công ước bổ túc 1895.

Nội dung hai công ước này, biên giới trong khu vực là con suối Thanh Thủy (chứ không phải là đường phân thủy, qua các đỉnh núi (gồm Lão Sơn...) như trên bản đồ hiện nay. Có thể tham khảo sơ lược tại http://nhantuantruong.blogspot.fr/2014/07/nhan-120-nam-chien-tranh-trung-nhat.html ).

Sau nhiều năm xung đột, phía TQ vẫn thua. Thua vì không đạt được mục tiêu quân sự. Đường biên giới hiện nay (có thay đổi chút đỉnh) nhưng vẫn không phải là con suối Thanh Thủy, như mong muốn của họ Đặng.

(Tác giả sẽ trở lại vài dịp khác để trình bày vì sao biên giới khu vực xã Thanh Thủy (huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà giang) không phải là con suối Thanh Thủy như đã qui định của các công ước Pháp Thanh 1887 và 1895.)

2/ Về di sản « lý thuyết và thực tiễn » của Đặng Tiểu Bình trong vấn đề phát triển Trung Quốc :
Theo cuốn « Từ lý luận đến thực tiễn » của tác giả Trần Tiên Khuê, các định hướng chính của họ Đặng là xây dựng quốc gia Trung quốc thành « một nước phát triển toàn diện », một quốc gia « sáng lập tự do dân chủ xã hội chủ nghĩa », với các tiêu chí như sau :

« Mục tiêu của Trung Quốc là trở thành một nước nêu gương phát triển toàn diện, một nước sáng lập tự do dân chủ xã hội chủ nghĩa.
« Thứ nhất, làm một nước hòa bình và phát triển, không bành trướng xâm lược, không cướp đoạt đối với bên ngoài, dựa vào sức mình và lớn mạnh.
« Thứ hai, sáng lập tự do dân chủ xã hội chủ nghĩa, sáng tạo văn hóa, sáng tạo văn minh nước lớn xã hội chủ nghĩa kiểu mới.
« Thứ ba, không yêu cầu người khác tuân theo y nguyên mô hình phát triển của mình …
« Thứ tư, Trung Quốc cần có cống hiến đáng kể đối với nhân loại, nhất là cần chủ trì công bằng, chủ trì chính nghĩa, ra sức giúp đỡ các nước vừa và nhỏ phát triển, không đòi hỏi bất cứ điều kiện gì. »

Hiển nhiên cái gọi là « xã hội chủ nghĩa theo bản sắc Trung Quốc » hiện nay, nguyên thủy bắt nguồn từ ý kiến « tự do dân chủ xã hội chủ nghĩa » của Đặng Tiểu Bình. Các tư tưởng « nền tảng » của họ Đặng, như về « miêu luận », về « dò đá qua sông »… tựu trung ở việc giải thích thuần túy lý thuyết, sao cho việc xây dựng Trung Quốc (bằng thể thức cũng như vốn liếng, khoa học kỹ thuật của tư bản) hài hòa, không bị mâu thuẩn với chủ thuyết nền tảng lập quốc « xã hội chủ nghĩa » của Mao Trạch Đông.

Họ Đặng đưa ra những khẩu hiệu « phát triển », « hòa bình »… nhằm để trấn an các nước (giúp đỡ Trung Quốc như Mỹ, Nhật, Nam Hàn…) cũng như các nước lân bang để được sự trợ giúp về tư bản và kiến thức khoa học lỹ thuật. Việc này họ Đặng đã thành công. Trung Quốc hiện nay phát triển vượt mức, trở thành cường quốc thứ hai về kinh tế trên thế giới. Trao đổi hàng hóa giữa Trung quốc với Hoa Kỳ, Nhật, Nam Hàn, các nước Tây Âu... chiếm phần lớn lưu lượng hàng hóa trên thế giới. Trung Quốc trở thành « đầu tàu » lôi kéo sự phát triển kinh tế của cả thế giới.

Tuy nhiên trong nội bộ của Trung Quốc, các khẩu hiệu « Trung Quốc hòa bình quang phục », « Trung Quốc hòa bình quật khởi »… được loan truyền. Dĩ nhiên, việc « quang phục », tức lấy lại (một cách vinh quang) những gì đã mất, thì không thể thực hiện bằng phương thức « hòa bình ».

Chi phí lớn nhất của Trung Quốc hiện nay là quân sự. Ngân sách dành cho quốc phòng của nước này đứng thứ nhì trên thế giới, (gần hai trăm tỉ đô la), chỉ sau Hoa Kỳ. Lãnh đạo Bắc Kinh không giải thích được lý do vì sao phải chi tiêu lớn lao cho quân sự (trong thời bình), như Mỹ phải đối phó với các chiến trường Trung Đông, về các đe dọa khác trên thế giới. Trung Quốc không bị đe dọa bởi thế lực nào.

Nỗ lực của Trung Quốc dành cho « quốc phòng » chỉ có hai ý nghĩa : một là chuẩn bị cho chiến tranh, hai là răn đe không cho chiến tranh xảy ra. Ngoài ra là vấn đề Đài Loan.

Vấn đề « thống nhất đất nước », đối với đảng lãnh đạo, là thánh thức lớn. Đảng Cộng sản Trung quốc có trách nhiệm thống nhất đất nước, nhằm khẳng định tính chính thống (là một đảng lãnh đạo chứ không phải là đảng cách mạng).

Đài Loan có vai trò quan trọng cho TQ về kinh tế. Nếu không nói quá, Đài Loan là động cơ của phát triển kinh tế của TQ ngay từ những ngày đầu mở cửa. Đầu tư ở các tỉnh Quảng Đông và Phúc Kiến phần lớn đến từ tài phiệt Đài Loan. Về địa lý chiến lược, Đài Loan giữ vai trò cửa ngõ để hải quân TQ đi ra « biển xanh » (để có thể « đối đầu » với hải quân các cường quốc Mỹ, Tây Âu...)

Về địa lý chiến lược, phía Đông, Trung Quốc bị kềm hãm trong vùng nước cạn của Đông Hải, bởi bức trường thành thiên nhiên là quần đảo Nansei (Nam Tây) của Nhật, chạy dài từ cực Nam của đảo Kyushu cho đến phía Bắc đảo Đài Loan. Phía Đông và Đông Nam, Trung Quốc bị ngăn chận bởi Đài Loan và Phi. Phía Nam, tức biển Đông theo tên gọi của Việt Nam, cũng là vùng biển cạn, trong đó còn có khoảng 130 đảo san hô rải rác trong một vùng 100km chiều ngang và 200km chiều dài, bao bọc bởi các nước Việt Nam, Phi, Nam Dương, Mã Lai và Brunei. Trong các vùng biển cạn, cận bờ và có nơi đầy cạm bẫy đá và san hô, tàu ngầm không thể hoạt động hữu hiệu.

Trung Quốc chỉ có thể trở thành « đại quốc » nếu tàu ngầm chiến lược của Trung Quốc ra vào an toàn vùng biển sâu và rộng của Thái Bình Dương. Việc này chỉ có thể thực hiện nếu Đài Loan và Biển Đông nằm dưới kiểm soát của Trung Quốc.

Trong khi đó, đà phát triển của TQ khiến TQ trở thành một nước « đói » năng lượng. Vùng biển Đông, các vùng trầm tích chạy dọc theo bờ biển VN, các bãi Tư Chính, Vũng Mây, Phúc Tần, Phúc Nguyên… trên thềm lục địa VN, hay vùng bãi Cỏ Rong thuộc quần đảo TS, hay là vùng thềm lục địa chung quanh quần đảo Điếu Ngư, là những vùng có thể có trữ lượng dầu khí. Mặt khác, các nơi đó đều là các ngư trường quan trọng trên thế giới. Trước đây, Tưởng Giới Thạch (khi vạch bản đồ chữ U) đã xem đó là « không gian sinh tồn – espace vitale » của Trung Quốc.

Tiêu chí họ Đặng, « hòa bình và phát triển, không bành trướng xâm lược, không cướp đoạt đối với bên ngoài, dựa vào sức mình và lớn mạnh », có thể thực hiện được, nhưng không thể bằng các phương pháp (diều hâu) của các thế hệ kế thừa, mà nạn nhân là Việt Nam và Phi, như đã thấy hiện nay.

Hành động cho đấu thầu 9 lô trên thềm lục địa VN năm ngoái, cho đặt giàn khoan 981 mới đây, hay các việc cắt cáp tàu nghiên cứu của VN, trong hải phận của VN, hay việc chiếm bãi cạn Scarborough của Phi...

Hiện nay Trung Quốc đã ra mặt tranh chấp (một cách gay gắt) với Nhật về chủ quyền quần đảo Điếu Ngư, đơn phương tuyên bố thành lập « vùng nhận diện phòng không » (ADIZ) trên biển Hoa Đông. Trong Biển Đông, lãnh đạo Bắc Kinh đã thể hiện những hành vi bành trướng về lãnh thổ (và hải phận), gây hấn đối với láng giềng chung quanh (Việt Nam, Phi, Mã Lai…) làm đảo lộn trật tự đã thiết lập từ Thế chiến II đến nay.

Như thế mục tiêu của việc gia tăng lớn lao ngân sách quốc phòng của Trung Quốc nhiều sác xuất là chuẩn bị cho chiến tranh (chứ không nhằm giải phóng Đài Loan). Lãnh đạo Bắc Kinh không thể phục hồi những gì (lãnh thổ) đã mất (một cách vinh quang) bằng phương pháp hòa bình.

Các việc này cho thấy hậu duệ của họ Đặng đã không xây dựng Trung Quốc thành một « đại quốc » theo tiêu chí « hòa bình » của Đặng Tiểu Bình, mà theo tư tưởng xâm lược Đại Hán.

Đặng Tiểu Bình cũng nói nhiều về « nước lớn - đại quốc », mà Trung quốc hướng tới : « nước lớn xã hội chủ nghĩa kiểu mới ». « Xã hội chủ nghĩa kiểu mới » tức là « tự do dân chủ xã hội chủ nghĩa », nay gọi là « xã hội chủ nghĩa theo bản sắc Trung Quốc » đã nói ở trên.

Các thế hệ hâu duệ của học Đặng đã xây dựng đất nước đến đâu rồi ?

Quan niệm về « nước lớn – đại quốc » theo Đặng Tiểu Bình là :

 « Một đại quốc phải hội đủ các điều kiện : Thứ nhất, kinh tế phát triển hàng đầu thế giới. Thứ hai, chiến lược quân sự ở địa vị tiên phong. Thứ ba, tuyên truyền tư tưởng văn hóa có thể ảnh hưởng đến toàn cầu. Thứ tư, có ảnh hưởng chính trị lớn nhất thế giới. »

Có thể trong chừng mực Trung Quốc hiện nay đã trở thành một « đại quốc » về kinh tế và quân sự. Nhưng hai tiêu chí về văn hóa và chính trị vẫn còn là thánh đố.

Từ thời Giang Trạch Dân, người kế thừa trực tiếp từ Đặng Tiểu Bình, ta đã biết đến các khẩu hiệu xây dựng Trung quốc : « hòa bình phát triển » và xây dựng « nhà nước pháp trị xã hội chủ nghĩa » (đề xướng năm 1997). Ở Hồ Cẩm Đào ta biết đến khẩu hiệu « xã hội hài hòa ».

Nguyên nhân của khẩu hiệu « xã hội hài hòa » do từ những khuyết tật xã hội Trung Quốc. Phát triển ở đây không đồng đều (hài hòa). Chỉ một phần nhỏ dân chúng hưởng thành quả của việc phát triển thần kỳ về kinh tế, trong khi phần lớn dân chúng còn lại sống trong cảnh bất công và nghèo khó.

Thời kỳ của Giang và Hồ đã không làm được gì để thay đổi hình ảnh (xấu) của TQ trên thế giới. Tức là phương diện văn hóa và chính trị vẫn là con số âm. Mặc dầu lãnh đạo Bắc Kinh cố gắng xây dựng những học viện Khổng Tử ở các nước nhằm loan truyền văn hóa Trung Hoa, nhưng thành quả vẫn chưa thấy.

Hiện nay Tập Cận Bình, người tự xưng là « hậu duệ » của Đặng Tiểu Bình, « kế thừa » di sản của ông này, đưa đề cương « Trung Hoa Mộng – giấc mơ Trung Hoa » (như để cạnh tranh với « giấc mơ Hoa Kỳ » của những người muốn đến Mỹ quốc để tìm cơ hội). Nhưng điều mà là họ Tập cố gắng thực hiện (trong lúc này) là xây dựng « nhà nước pháp trị xã hội chủ nghĩa », qua các việc bài trừ tham nhũng trong hàng ngũ lãnh đạo, nhằm chấn chỉnh lại xã hội Trung Quốc.

Tập Cận bình đã nhìn thấy yếu điểm của Trung Quốc và muốn sửa chữa. Hiện nay nỗ lực xây dựng « nhà nước pháp trị xã hội chủ nghĩa » của họ Tập bị đồng hóa với việc thanh trừng. Điều này cho thấy, « giấc mơ Trung Hoa » của họ Tập, có thể trở thành ác mộng cho chính ông, nếu việc cải cách thất bại.

Tiêu chí của Đặng Tiểu Bình về « nước lớn » chỉ có thể thực hiện, nếu văn hóa và chính trị Trung Quốc, tức là kiểu mẫu phát triển của Trung Quốc, « quyến rũ » được các nước khác. Mà việc này chỉ có thể hiện thực nếu nhà nước Trung Quốc là một nhà nước pháp trị (thật sự), đảng lãnh đạo là một đảng « cầm quyền » chứ không phải là một đảng « cách mạng ». Việc phát triển phải hài hòa, đem lại phúc lợi cho toàn thể người dân trong nước mà không loại trừ bất kỳ thành phần dân chúng nào.

Lúc đó Trung Quốc mới có thể « cống hiến cho nhân loại, chủ trì công bằng, chủ trì chính nghĩa, ra sức giúp đỡ các nước vừa và nhỏ phát triển... » như là nước Mỹ hiện nay.

Con đường đi lên « đại quốc » của Trung Quốc được Đặng Tiểu Bình khẳng định :

« không theo đường « bá quyền thực dân » của Bồ Đào Nha hay Hòa Lan ở thế kỷ thứ 16 và 17. Con đường của Trung Quốc cũng không theo bá quyền lãnh đạo tự do kiểu Mỹ hay bá quyền xã hội chủ nghĩa của Liên Xô, đặc biệt là sự thống nhất bá quyền quân sự với bá quyền hình thái ý thức ».

Nhưng hành vi của các hậu duệ của họ Đặng lại phủ nhận tiêu chí của Đặng tiểu Bình.

Trường hợp Dương Khiết Trì trong một buổi họp hồi năm ngoái giữa các lãnh đạo ASEAN và bà ngoại trưởng Clinton, thực sự là thái độ « bá quyền thực dân ». Việc dọa nạt các nước khác (ASEAN) là « các tiểu quốc – nước nhỏ » là hành vi của một  « thái thú », bất chấp nguyên tắc cơ bản của LHQ là sự bình đẳng giữa các nước. Ngoài ra, gần đây, cũng ông này, sang VN nhân vụ giàn khoan 981. Thái độ của ông này đối với VN rõ ràng là thái độ hách dịch giữa « thượng quốc » với « chư hầu » chứ không phải là sự giao thiệp giữa hai quốc gia bằng hữu. (Tuy vậy việc này là do phía VN, vì đồng hóa quan hệ quốc gia với « việc gia đình », hơn là từ phía TQ).

Trong khi họ Đặng (cũng như các lãnh đạo khác của TQ) ảnh hưởng sâu đậm lý thuyết « Địa Chiến lược – Không gian sinh tồn » của Friedrich Ratzel (sách gối đầu của Hitler). Mục tiêu đi tới « đại quốc » của họ Đặng (và hậu duệ) vì thế cũng dựa trên lý thuyết này. (Xem lại ở đây : http://nhantuantruong.blogspot.fr/2014/06/thoat-trung.html )

Nếu như thế, ta cần phải hiểu tư tưởng của họ Đặng « ở giữa hai hàng chữ », tức nói vậy mà không phải vậy. Tức là tiêu chí « nước lớn » : « một nước hòa bình và phát triển, không bành trướng xâm lược, không cướp đoạt đối với bên ngoài, dựa vào sức mình và lớn mạnh » chỉ là chót lưỡi đầu môi.