mercredi 15 octobre 2014

Tìm hiểu nội dung hội nghị Thành Đô : đọc lại tài liệu năm 2002 của Nguyễn Chí Trung…

Nội dung của hội nghị Thành Đô đầu thập niên 90 đưa đến việc bình thường hóa hai nước Trung-Việt là như thế nào ? Có cái gọi là « kết ước Thành Đô » giữa lãnh đạo đảng cộng sản VN và TQ hay không ? Câu trả lời hôm nay không dễ.

Lời đồn đoán về cái gọi là « Việt Nam tự trị », hay VN là « một tỉnh » của Trung Quốc, có lẽ không thuyết phục được nhiều người. Tuy nhiên, sác xuất về một cam kết đảng CSVN là một « thành phần » dưới sự lãnh đạo của đảng CS Trung Quốc lại rất cao nhưng lại không thấy dư luận đề cập tới. Trước khi Liên Xô sụp đổ, các đảng cộng sản của các nước đều là một « chi bộ », hay « phân bộ » của cộng sản quốc tế do đảng cộng sản Liên Xô cầm đầu. Sau khi quốc tế cộng sản sụp đổ, đảng cộng sản Trung Quốc đương nhiên là người thừa kế chính đáng, lãnh đạo các đảng CS tại các nước VN, Bắc Hàn và Cuba (sau này có thêm Vénézuella).

Vấn đề vì vậy cần tìm hiểu là sự « quan hệ » giữa hai đảng cộng sản VN và TQ là như thế nào ?

Chắc chắn phía TQ rất thích VN trở thành một « tỉnh », hay một « chư hầu » của TQ, như trước khi VN lọt vào tay Pháp. Đây là mục tiêu của các lãnh tụ TQ, có từ thời Mao Trạch Đông. (Điều này xảy ra thì vùng biển xác định bởi bản đồ chín đoạn chữ U đương nhiên thuộc TQ). Nhưng đưa VN trở lại tình trạng cuối thế kỷ 19 không dễ thực hiện, kể cả khi đảng CSVN là một bộ phận không tách rời của đảng CSTQ. Ta thấy những cố gắng lộ liễu của đảng CSVN, qua những lần VN tiếp đón lãnh đạo đảng CSTQ, phía VN cố gắng qui tụ đông đảo học sinh, giao cho chúng lá cờ đỏ « lục tinh » (quốc kỳ của TQ chỉ có 5 sao), đứng dọc bên đường phe phẩy để chào đón lãnh tụ. Bởi vì trong nội tình của đảng CSVN, một số lớn đảng viên lại « có ý kiến khác ».

Trong trung hạn TQ muốn nhìn thấy một nước VN phân hóa, nghèo đói, ngu dốt chậm tiến… Điều này đương nhiên dễ dàng thực hiện và ít tốn kém hơn. Ta thấy trên thực tế, TQ đã đi hơn ½ đoạn đường của họ.

Tài liệu dưới đây của ông Nguyễn Chí Trung, nguyên là thư ký của Lê Khả Phiêu, viết từ năm 2002, do « Câu lạc bộ Dân chủ » công bố ra dư luận hải ngoại tháng 12 năm 2003. Qua đó ta mới biết trong hàng ngũ lãnh đạo của VN, những ai có chủ trương kiên định « xã hội chủ nghĩa » ? những ai có chủ trương « xóa » XHCN ? Những ai chủ trương xem Mỹ là kẻ thù « chiến lược » và những ai muốn quan hệ và xem Mỹ là đồng minh ? Nhờ vậy ta mới có thể biết được phần nào « đường đi nước bước » của phía TQ. Họ đã « gài người » như thế nào ? họ đã phân hóa « nhân sự » VN ra sao ?

Nhiều người cho rằng, muốn biết nội dung hội nghị Thành Đô thế nào thì nên hỏi Đổ Mười, vì ông này có tham gia hội nghị. Theo tài liệu này, Đổ Mười là nhân tố quan trọng ủng hộ Võ Văn Kiệt (và Nguyễn Mạnh Cầm) « trụ » lại, trong khi hai ông này chủ trương xóa bỏ XHCH. Nếu vậy thì ông Đổ Mười chưa chắc đã « theo Tàu ». Muốn hỏi thì nên hỏi Lê Khả Phiêu.

Còn về vấn đề biên giới lãnh thổ, hải phận, ta cũng biết một điều quan trọng. Lãnh đạo CSVN đã nhìn nhận « có ba vùng biển tranh chấp » với TQ. Vùng biển tranh chấp thứ ba là vùng biển Trường Sa (vùng phía tây bãi Tư Chính). (Một số « học giả » của Quĩ Nghiên cứu Biển Đông trước đây chấp nhận thực tế này, vì vậy đã đề xướng chủ trương « khai thác chung » với Trung Quốc. Không ai lúc đó có thể giải thích câu hỏi tôi đặt ra là nguyên nhân vì đâu “có tranh chấp ở Trường Sa”, vì sao phải “khai thác chung” với TQ ? Tôi bị những học giả này kết án là “duy ý chí” - sic!)

Dĩ nhiên, như những tài liệu khác (chính thức hay không chính thức) xuất phát từ phía CSVN, ta chỉ có thể kiểm chứng sự thật ra sao qua một thời gian (so sánh dữ kiện và) chứng nghiệm trên thực tế. Quí độc giả thử đọc tài liệu này, sau đó rà soát lại với kinh nghiệm và thực tế để có một kết luận về quan hệ VN và TQ.  

*****

Từ thập kỷ 90 của thế kỷ 20, CNXH ở Đông Âu và Liên Xô xụp đổ đã tác động mạnh mẽ vào xã hội và nội bộ đảng ta, tư tưởng của chủ nghĩa cơ hội phát sinh, phát triển trong đa số cán bộ cao cấp và đảng viên. Đến đại hội đảng lần VI nổi lên từ Trần Xuân Bách, uỷ viên bộ chính trị- trưởng ban tổ chức trung ương đảng đã ngóc đầu dậy đòi đa nguyên đa đảng nhằm xoá bỏ vai trò lãnh đạo của đảng, thực hành kiểu dân chủ Phương Tây. Theo con đường TBCN. Lúc đó, TW và bộ chính trị đảng ta còn mạnh, quật ngã Trần Xuân Bách ngay. Tháng 3/1990, hội nghị Bộ chính trị- ban chấp hành đã cách chức một số trung ương uỷ viên và khai trừ đảng đối với Trần Xuân Bách.

Bước vào thời kỳ đổi mới, mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, tư tưởng cá nhân thực dụng,…. Làm cho cán bộ, đảng viên càng sa sút phẩm chất, đảng bị suy thoái. Một bộ phận đồng chí mơ hồ lập trường Phương Tây, muốn quay lưng với đảng, với chủ nghĩa xã hội,… Võ Văn Kiệt, thủ tướng chính phủ, uỷ viên bộ chính trị, xuất hiện chủ nghĩa cơ hội, đòi xoá bỏ CNXH, đi theo con đường TBCN trung lập.

Cuối đại hội đảng lần thứ VII , ngày 9/8/1995, Võ Văn Kiệt đưa ra cương lĩnh trình bộ chính trị (dài 30 trang) , lúc đó anh Linh (đương nhiệm Tổng bí thư) nghiên cứu đưa vào báo cáo bộ chính trị. Đến đại hội đảng lần thứ VIII đòi bỏ định hướng XHCN, bỏ kinh tế quốc doanh, bỏ hợp tác xã, bỏ “Điều 4 hiến pháp”, thực hiện dân chủ triệt để.

Lúc đó, Nguyễn mạnh Cầm đưa ra luận điểm "không còn đấu tranh giai cấp". Mỹ không phải là đối tượng chiến lược (kẻ thù) của Việt Nam. Thế giới đang cần hợp tác, đến lúc cạnh tranh kinh tế chứ không phải coi nhau như kẻ thù (đường lối ấy phù hợp với chiến lược Châu á thái bình dương của Mỹ).

Ngày 10/10/1995. Bộ chính trị đưa vấn đề của Kiệt, Cầm nêu trên, ra thảo luận 1 ngày không xong. Ngày hôm sau đưa ra thảo luận tiếp. Lê Khả Phiêu phát biểu trước (đương nhiệm là TCCT-Uỷ viên bộ chính trị). Đương nhiên là đấu tranh quyết liệt với quan điểm sai trái trên đây của Kiệt và Cầm . Sau khi phát biểu xong, anh Linh hỏi ai có ý kiến gì phát biểu thêm ? Thì Lê Đức Anh nói: “ đúng”. Anh Linh và bộ chính trị không ai phát biểu gì cả. Kiệt xin lỗi anh Phiêu và nói : " Anh phê phán tôi như vậy là quá đáng, và phân trần: độc lập dân tộc, xoá CNXH , tài liệu đó là anh em họ viết ra, tôi chỉ ký mà thôi ".Phiêu đấu tranh tiếp: " Anh nói vậy hoá ra anh là người hai mặt à"

Ngày hôm sau tiếp tục đưa vấn đề này ra thảo luận, giữa Kiệt và Phiêu đấu tranh qua lại rất căng thẳng. Bộ chính trị cũng không ai có ý kiến gì. Đỗ Mười nói: " Còn khó quá, hãy hoãn lại, sau sẽ thảo luận". Nhưng rồi cũng tạm gác… Tiếp tuần sau đưa ra thảo luận. ý kiến của Cầm và Mười cũng lừng chừng, bảo Phiêu phát biểu trước. Cầm thấy không ai có ý kiến gì cũng làm thinh. Đến đó, bộ chính trị dừng lại không có kết luận cuối cùng. Vũ Oanh thì muốn bỏ CNXH.

Đến đại hội 9 Ban chấp hành trung ương khoá VII (từ 16 đến 23 tháng 2/ 1996), hội nghị bộ chính trị trung ương thông qua dự thảo báo cáo chính trị đại hội đảng lần thứ VII , một số TW uỷ viên buộc Đỗ Mười đưa vấn đề của Kiệt , Cầm ra thảo luận lại. Lúc bấy giờ chỉ có một số uỷ viên trung ương khu vực miền trung đấu tranh phê phán quyết liệt quan điểm của Kiệt, Cầm. Các đồng chí ấy phân tích “ nếu một quần chúng có quan điểm như Kiệt thì có thể kết nạp vào đảng được không? Nếu một đồng chí có quan điểm như vậy có bầu đi dự đại hội đảng, vào Trung ương hay không? Đây là phần xem xét tư cách đưa ra khỏi đảng”

Đỗ Mười lại thoả hiệp đứng ra bào chữa, thanh minh cho Kiệt. Mười cho đó là nhận thức lệch chứ không có vấn đề gì đâu. Đỗ Mười lúc này muốn ổn định nội bộ. Lê Đức Anh vẫn làm thinh. Nguyễn Chản phê phán Cầm là mơ hồ giai cấp. Tại sao cho Mỹ là bạn chứ không phải là thù ? Chản phân tích đập mạnh quan điểm của Cầm. Cần tự ái phản ứng, cho Chản là lên mặt dạy đời.

Bước vào hội nghị TW lần 10 trù bị lần 1. Kiệt, Anh bị thiểu số phiếu (Kiệt 20 , Anh 60 phiếu), Không đủ phiếu ở lại trung ương, đủ điều kiện để loại Kiệt. Nhưng đến hội nghị trung ương lần thứ 11, trù bị chính thức nếu bầu, thì Đỗ Mười quay ngoặt 180 độ: “ yêu cầu Kiệt ở lại Bộ chính trị, chứ một mình tôi không làm nổi"

Đại hội đảng lần thứ VIII(từ 26/6 đến 1/7/1996), Đỗ Mười: Tổng Bí Thư. Anh, Kiệt, Cầm, Phiêu ở lại bộ chính trị . Trong hội nghị trù bị , đấu tranh về nhân sự đã diễn ra rất gay cấn. Ra Đại hội, anh Linh công khai vạch thẳng hiện tượng tiêu cực, suy thoái trong đảng ở ngay trong Bộ chính trị.

Anh Linh nói : "Dột từ trên nóc dột xuống". Đỗ Mười thanh minh “ mía sâu có đốt, nhà dột có chỗ".

Họp Ban chấp hành TW lần 4 khoá 8 từ ngày 23 đến 29 tháng 12/1997 xem xét vấn đề nhân sự cấp cao và thảo luận 11 vấn đề về quan điểm, chủ trương, chính sách quan trọng. Vấn đề thứ 11 là: " khắc phục tình trạng thoái hoá trong cán bộ, đảng viên", rồi đi đến quyết định một số vấn đề về nhân sự: Kiệt, Anh, Mười còn ở lại hay nghỉ? Anh năm Công (Võ Chí Công) cố vấn đề nghị: cả 3 nên nghỉ (nhưng cả 3 đều muốn ở lại Bộ chính trị). Vấn đề là chọn Tổng bí thư thay cho Đỗ Mười?

Lúc đầu thì anh Đồng, anh năm Công giới thiệu Cầm. Nhưng sau đó có nhiều ý kiến về Cầm nên thôi không chọn. Năm Công lại giới thiệu Nguyễn Văn An. Anh Linh thì muốn giới thiệu Nguyễn Xuân Tùng, nhưng Tùng có vụ lộn xộn ở Sài Gòn nên thôi. Sau đó anh Linh xem lý lịch của Phiêu, thấy Phiêu chưa làm bí thư tỉnh hoặc thành phố lớn nào, anh Linh ngập ngừng hỏi Lê Đức Anh xem giới thiệu ai? (bấy lâu nay ta đã hiểu lầm Anh đưa Phiêu làm TBThư để điều khiển, song không phải như vậy. Vì khi Anh làm chủ tịch nước, Đoàn Khuê làm bộ trưởng quốc phòng, Anh làm Phó bí thư quân uỷ trung ương nhưng Mười giao hẹn quyền hạn cho Anh. Vì quyền hạn chức Bí thư quận uỷ trung ương hơn nên Anh muốn làm Tổng Bí Thư để kiêm luôn chức ấy).

Sau đó . Anh bị tai biến mạch máu não. Đoàn Khuê và một số cán bộ tích cực ủng hộ đưa LKPhiêu làm tổng bí thư để giữ Chủ Nghĩa xã hội.

Kiệt, Mười, Anh, mặc dù có ý kiến của anh năm Công đề nghị nghỉ, 3 vị cứ bấu víu ở lại. Khi anh Đồng xin rút khỏi cố vấn (cả anh Linh và anh Công cũng vậy), anh nói với Kiệt, Mười, Anh là không ở lại bộ chính trị thì làm cố vấn. Mười tỏ vẻ phấn khởi. Anh lừng khừng. Nhưng rồi cả 3 đều phải rút khỏi bộ chính trị để làm cố vấn.

Đến đây, tháng 12/1997 Đỗ Mười chuyển giao chức TBT cho LKPhiêu (xem tài liệu riêng). Bộ chính trị lúc này gồm: Cũ có Phiêu,TD Lương, Trương tấn Sang, Lê Minh Hương, Phạm Thế Duyệt, Nguyễn Mạnh Cầm, Nguyễn Văn An, Nguyễn Tấn Dũng. Mới có Khải, Ngân, Lê Minh Triết, Phan Diễn, NPhú Trọng, Nguyễn Đức Bình, Phạm Văn Trà, Tùng, Thị Mỹ.
Thế là từ tháng 12-1997 đến đầu năm 2001 Lê Khả Phiêu đảm nhiệm cương vị TBT. Phiêu làm được nhiều việc , tiêu biểu cho ý chí đấu tranh , kiên định đường lối , dương cao 3 ngọn cờ.

1.- Kiên định con đường tiến lên CNXH , giữ vững định hướng XHCN .
2.- Đối ngoại giữ vững độc lập tự chủ trong quan hệ quốc tế ( hoà nhập chứ không hoà tan ).
3.- Đối nội đề ra cuộc vận động xây dựng chỉnh đốn đảng , tập trung và khắc phục sự suy thoái trong đảng , mục tiêu đấu tranh chủ yếu là chống tham nhũng . Trong vấn đề này LK Phiêu đã mạnh tay xử lý 1 số cán bộ ở cấp cao , cách chức Phó Thủ Tướng Ngô Xuân Lộc , cảnh cáo bãi chức Kiêm Tổng Giám Đốc ngân hàng và hàng mấy chục cán bộ cấp tỉnh tập trung ở phía nam .

Với tác phong giản dị, chan hoà trong quần chúng, sát dân, xông pha trong bão lũ, giải quyết kịp thời những vấn đề cứu dân trong lúc khó khăn… Nói thẳng, phân biệt đúng, sai, có uy tín đối với quần chúng. Khôi phục uy tín đng và mối quan hệ dân với đảng, dân tin đảng.

Cũng trong thời điểm cuối 2000 đầu 2001 địch + phần tử xấu trong , ngoài nước tung dư luận đòi ta thay đổi đường lối. Mỹ ép ta bỏ điều 4 trong hiến pháp, đòi gác lại CNXH, đổi tên đảng, tên nước, sửa đổi quốc kỳ, quốc ca… Song ta không ngờ và không hề nghĩ tới việc thay đổi đường lối chính trị, tổ chức lật đổ lại chính nằm trong âm mưu của 3 anh cố vấn (đến đại hội IX bột phát ta mới hiểu).

Thời kỳ đương nhiệm (trước đại hội IX) có mấy hoạt động nổi bật của TBT LK Phiêu, và cũng chính những hoạt động này bị 3 anh cố vấn lên án:

-Xử lý Ngô Xuân Lộc (bị Đỗ Mười phản đối).
-Thành lập tổ chức A10.
-Hoãn ký hiệp ước thương mại Việt - Mỹ
-Thăm TQ-Hội đàm với GiangTrạch Dân.
-Thăm châu Âu (Có Thị Dung cùng đi trong đoàn).
-Trực tiếp đối thoại với Bin Clin-Tơn.

+Chuẩn bị đại hội đảng IX

Một mặt đưa dự thảo báo cáo chính trị thu thập ý kiến tham gia c?a mọi tầng lớp nhân dân. TBT LK Phiêu đi sát cơ sở dự Đại hội đảng bộ cơ sở tận chi bộ. Không khí dân chủ tin tưởng, phấn khởi trong đảng và ngoài xã hội tăng cao.

Đồng thời trong lúc này 3 anh cố vấn cũng bàn mưu , tính kế chuẩn bị đảo chính trong đảng trước khi khai mạc đại hội .Họ lập kế hoạch , tạo chứng cớ giả , tập trung mũi nhọn nhằm lật đổ TBT LK Phiêu ( Phiêu không biết ). Ba anh cố vấn mớm cho Hữu Thọ ( trưởng ban Tư TưởngVăn Hoá TW ) tung dư luận trong cuộc họp báo tại thành phố HCM: " nhiệm kỳ đại hội đảng tới Lê Khả Phiêu nên nghỉ " . Thọ phát biểu rất vô nguyên tắc vì chưa đại hội và Bộ chính trị, TW chưa có ý kiến gì về nhân sự đại hội.

Trong lúc TBT- Lê Khả Phiêu lo chuẩn bị cho đại hội thì 3 anh cố vấn ráo riết chuẩn bị vùi dập, vu khống, lật đổ Phiêu. Trực diện vu khống, đả kích, thực hiện mưu đồ đo chính trong đảng trước đại hội IX khai mạc lần lượt diễn ra như sau:

-Sáng 10-10-2000 Phiêu mời 3 cố vấn họp để thăm dò chuẩn bị nhân sự cho đại hội IX . Phiêu nêu ý kiến 1 số đ/c nên rút ra khỏi Bộ chính trị là :Nguyễn Đức Bình , Phạm VănTrà , Nguyễn Mạnh Cầm, Tùng, Phạm Thế Duyệt, Nguyễn Tấn Dũng và Trần Xuân Giá ra khỏi TW, rồi nêu thôi chế độ cố vấn…

Cùng lúc này Lê Đức Anh bắt tay Trần Đức Lương, mớm: “ Lần này anh sẽ phải làm Tổng Bí Thư ". (Lương hí hửng mừng thầm).

Chiều 10-10 cố vấn ra đòn tấn công đợt 1.

-Cố vấn đưa ra đề nghị trẻ hoá TW Bộ chính trị dưới 50 tuổi ( như vậy thì Bộ chính trị chỉ còn 1, Tw còn 60 người). Nhưng 3 cố vấn cảm thấy khó thực hiện, khó có sự đồng tình.
Ngày 3-1 đến 11-1-2001 Đại Hội đảng toàn quân, cố vấn tấn công đợt 2.

Trong đại hội này LĐ Anh đột ngột buộc LK Phiêu 10 tội:

1.- Bán đất, bán biển cho Trung Quốc.
2.- Lộ bí mật ý đồ chiến lược với Giang Trạch Dân.
3.- Độc đóan thiếu dân chủ.
4.- Thành lập A10 âm mưu lật đổ nội bộ.
5.- Quan hệ bất chính với gái và quan hệ với gái gián điệp.
6.- Hoãn ký hiệp định thương mại Việt - Mỹ.
7.- Trực tiếp đối thoại với Clin-Tơn quá cứng rắn.
8.- Đề bạt Lê Hải Anh là 1 tên đào ngũ lên thứ trưởng Bộ Quốc Phòng.
9.- Địa phương chủ nghĩa (Thanh Hoá hoá, Hà Nội hoá, lôi kéo người Thanh Hoá lên trung ương).
10.- Lôi lại vụ Xiêm Riệp.

Trong lúc này LĐ Anh mắng thẳng vào mặt Phạm Thanh Ngân là đồ ngu và tập trung vu khống Phiêu về tội vô nguyên tắc trong việc thành lập A10 (tổ chức chuyên theo dõi nội bộ) và bán đất, bán biển cho Trung Quốc… làm cho toàn bộ những người có mặt trong đại hội ngơ ngác.

Phiêu và Ngân có thanh minh.

Cố vấn không kết tội Phiêu được lại buộc Phiêu nhận kỷ luật và bảo: Phiêu phải từ chức ngay. Phiêu bị đột ngột, bất ngờ nên thanh minh vài điểm xung quanh vụ A10 và nói: "Nếu tín nhiệm thì tôi tiếp tục làm, không thì thôi."

Sau đó các cán bộ lão thành cách mạng gây áp lực, động viên Phiêu làm lại không nên rút lui…

+Từ đầu tháng 1 đến đầu tháng 2-2001

Không kết tội được, chưa đánh bại được ý chí của LK Phiêu, ban cố vấn phân công nhau đi vận động để tìm kiếm sự ủng hộ của các đ/c uỷ viên TW, uỷ viên Bộ chính trị, tướng lĩnh về hưu để lật đổ các đ/c cầm đầu bộ máy lãnh đạo đảng và nhà nước, nhưng vẫn tập trung mũi nhọn vào TBT LK Phiêu.

Ngày 13-1-2001 Đỗ Mười gọi điện thoại cho Nguyễn Đức Tâm (nguyên UV Bộ chính trị - trưởng ban Tổ chứcTW cũ ) đang ở Hải Phòng báo sẽ gặp Tâm để thông báo một số tình hình , nhưng Tâm bận. Đến 6-2-2001 Mười mới gặp Tâm (LĐ Anh đã cho người thông báo tình hình với Tâm trước) Hỏi Tâm có ý kiến như thế nào về những điều đã được Anh thông báo? Rồi Mười phân tích phê phán việc Phiêu quyết định thành lập A10 là sai nguyên tắc. Rồi Mười trao cho Tâm một bản án LK Phiêu dài 7, 8 trang trong đó đặt vấn đề : Phiêu quan hệ trai gái với Thị Hà, thị Dung là gián điệp Mỹ… Mười còn trao cho Tâm 1 tấm ảnh nói là : "ảnh chụp được từ nước ngoài ". Mười còn vận động Tâm đòi thay đổi 50 % uỷ viên Bộ chính trị, nhất là 3 người chủ chốt: Phiêu, Lương, Khải và điều NĐ Mạnh sang công tác khác. (Xem bản báo cáo của Tâm với Bộ chính trị).

+Đòn tấn công thứ 3.

Sau 1 tháng ráo riết vận động đến 5-2-2001 hội nghị TW 11a họp trù bị. LĐ Anh chính thức đưa 10 tội của LK Phiêu ra trước hội nghị. Buộc hội nghị tập trung thảo luận đấu tranh phê phán Phiêu về quyết định thành lập A10. Cho Phiêu là lộng quyền, vi phạm nguyên tắc nghiêm trọng , định lật đổ TW& Bộ chính trị gây nghi ngờ nội bộ... Anh tiếp tục buộc Phiêu từ chức trước khi khai mạc đại hội IX.

Vấn đề thành lập A10 như sau:

Nguyên từ trước năm 1995 LĐ Anh nắm hội đồng an ninh, quyết định nâng cục II lên thành tổng cục II (TCII) , giao cho nó quyền hạn, nhiệm vụ vượt quá chức năng ( thành cơ quan tình báo chiến lược quốc gia ) lại làm cả nhiệm vụ của an ninh phản gián. Võ Văn Kiệt ra QĐ 96 sau đó NĐ Mạnh ra pháp lệnh thành lập cơ quan phối kiểm tin (gồm CA, TCII, cục bảo vệ QĐ). Để nắm vững TCII, LĐ Anh nhận Nguyễn Chí Vịnh (một thanh niên hư hỏng, con trai Nguyễn Chí Thanh) làm con nuôi nâng đỡ, ô dù đưa vào quân báo đề bạt nhanh lên đại tá phụ trách tổng cục phó TC II.

Dựa vào thế LĐ Anh, TC II ngày càng lộng hành cho nên công tác phối kiểm tin không còn chuẩn xác , nội bộ TCII phức tạp , đưa tin không chính xác và nhiều việc làm sai trái. Ví dụ tên Nguyên thư ký cho Phan Văn Khải cùng tên Tô Luyến cục 11, TCII định bắt cóc Võ Thị Thắng bức cung buộc Thắng phải nhận làm việc cho địch khi Thắng bị địch bắt trong kháng chiến để lập hồ sơ giả trị tội chị Thắng. May là ta đã phát hiện kịp thời chặn đứng lại . Ví dụ khác là, chúng đã đưa 1 số tài liệu, cán bộ của ta bị địch bắt trước đây đã đầu hàng và nhận nhiệm vụ địch giao . Họ nói tài liệu này do cơ sở điệp báo của ta từ nước ngoài cung cấp . Song thực tế tài liệu đó là ta thu được của địch từ khi giải phóng miền Nam. Trước đó Vũ Chính thiếu tướng là cục trưởng cục II (xem thêm tài liệu vương triều Vũ Chính - cha vợ của Vịnh) có đề nghị LK Phiêu đề bạt Nguyễn Chí Vịnh lên hàm thiếu tướng và đưa vào TW nhưng bị Phiêu bác bỏ. Trong lúc này có tên Kế đại tá TCII bí mật lập đường dây viễn thông liên lạc với nước ngoài bị cục bảo vệ an ninh phát hiện . Đứng trước tình hình lộn xộn đó LK Phiêu họp với Trà , Ngân định thành lập nhóm A10, thành phần gồm TC II , Cục bảo vệ an ninh, Tổng cục chính trị, thành lập một bộ phận phối kiểm tin địch, ta tránh tình trạng mạnh ai nấy báo (một việc mà 2 nguồn tin đưa ra khác nhau). Cử Trà làm tổ trưởng A10, Trà lại đề cử Ngân làm. Phiêu giao Vũ Chính làm kế hoạch. Vũ Chính đưa bản thảo cho Phiêu xem . Phiêu thấy Vũ Chính đề ra nhiệm vụ, quyền hạn A10 quá to. Phiêu xoá đoạn " theo dõi lực lượng cấp tiến trong và ngoài quân đội". Chính về viết lại thành 1 bản chính theo nội dung Phiêu đã sửa kèm theo phụ lục hướng dẫn lại để nguyên không sửa. Chính đưa cho Ngân thông qua . Ngân đem bản chính không xem phụ lục, Ngân ký chuyển cho Phiêu. Phiêu thấy Ngân ký rồi tưởng đã chữa theo ý Phiêu, Phiêu cũng không xem phụ lục, Phiêu ký. Trong văn bản đề chức danh là “Bí thư quân uỷ TW” chứ không đề thay mặt quân uỷ TW. Sau khi Phiêu ký, Chính thấy Phiêu sơ hở, sai sót rồi, Chính đem văn bản đó giao cho LĐ Anh. Anh chớp lấy lên án là Phiêu lộng quyền , độc đoán , phạm nguyên tắc không qua tập thể Quân Uỷ TW. Từ đó quy ra tội như thế là Phiêu chủ trương theo dõi cán bộ cao cấp TW, cán bộ trong và ngoài quân đội. Như thế là theo dõi cả Bộ chính trị, mang ý định âm mưu lật đổ. Và đòi Ban chấp hành TW phải kỷ luật Phiêu, buộc Phiêu phải từ chức ngay.

Qua đấu tranh thẳng thắn, có 1 số ý kiến bảo vệ Phiêu, Phiêu chỉ sơ hở về hành chính, không phạm sai nguyên tắc. Phiêu chứng minh bằng lấy bản thảo mà Phiêu đã gạch bỏ đoạn theo dõi thượng cấp đến... mà do Chính không sửa khi ký vào bản chính thức. Chỉ có thiếu sót là không xem lại kỹ phụ lục kèm theo, không phải độc đoán mà có họp thường vụ đảng uỷ quân sự TW (Phiêu, Trà, Ngân) quyết định thành lập A10 (Lúc này Trà cứ ngồi im ậm ừ để 1 mình Phiêu thanh minh). Phiêu bình tĩnh: "Thưa anh sáu Nam -LĐ Anh - Nếu anh nói tôi lộng quyền thì việc lộng quyền ấy đã xảy ra từ năm 1995 khi anh đưa cục II lên thành TCII cho nó hoạt động quá phạm vi hoạt động cuả nó đấy! Nếu anh nói tôi nghi kỵ thì anh hãy nhớ lại khi anh lâm bệnh tai biến mạch máu não, anh không chịu uống thuốc, không dám ăn. Chị khóc lóc sợ anh chết, chị chạy sang nhà tôi, nhờ tôi động viên bảo anh ăn, uống thuốc. Vậy chính anh mới là người nghi kỵ nội bộ.. từ đó...

Ngày đó không quật ngã được Phiêu về A10 thì đến ngày 6-2-2001 LĐ Anh dở thủ đoạn đểu cáng đổ cho Ngân cử người theo dõi cán bộ cao cấp trong đảng. Ngân thanh minh không có chỉ thị, văn bản nào giao nhiệm vụ đó.

Chị Mỹ, Chủ nhiệm uỷ ban kiểm tra TW, kiểm tra toàn bộ hồ sơ, giấy tờ thành lập cũng như hoạt động của nhóm A10 đều không có dấu hiệu gì là theo dõi cán bộ cao cấp trong đảng như Anh vu khống. LĐ Anh đuối lý quay sang dùng thủ đoạn đê hèn hơn gán cho Phiêu là "Anh rỉ tai cán bộ phụ trách A10 theo dõi". Phiêu phản bác lại... Trần Đức Lương ôm mộng sẽ được làm TBT (Như LĐAnh mớm) Lương trực tiếp chất vấn thiếu tướng cục trưởng bảo vệ an ninh “ Phiêu, Ngân có rủ đến anh không?” và đe doạ “nếu anh không nói tôi kỷ luật anh”. Trước hành động bỉ ổi của Lương thiếu tướng An phản bác vì sự thực không có. LĐ Anh đã dùng ngón cuối cùng là gọi Nguyễn Chí Vịnh làm chứng là Phiêu và Ngân có rỉ tai y. Chứng cứ như vậy Phiêu, Ngân thanh minh sao được. Thấy sự thực là chúng vu khống nên hội nghị bỏ ngỏ, cho qua không kết luận gì. Hội nghị TW 11a giải tán.

Sau Hội nghị TW 11a LĐ Anh phái Sơn thư ký riêng đến từng nhà cán bộ cao cấp lão thành từng là UV Bộ chính trị, UVTW, một số tướng lĩnh quân đội về hưu như Chu Huy Mân, Trần văn Quang, Nguyễn Thanh Bình, Hoàng Minh Thảo, Nguyễn Quyết, Tố Hữu, Đồng Sỹ Nguyên... Đến Nguyễn Đức Tâm, Sơn nêu tội Phiêu về vụ A10 và trao bản vạch tội Phiêu dài 6,7 trang để thuyết phục và nói các đ/c lão thành ủng hộ lật đổ Phiêu. Song tất cả đều khước từ và có đơn tố giác phản bác gửi đến Bộ chính trị và TBT.

Đồng thời sau hội nghị 11 a việc vu khống, đả kích của 3 vị cố vấn dùng lật đổ, đảo chính trong đảng trước hết là hạ bệ LK Phiêu lan ra khắp nước. Trong cán bộ lão thành cao cấp, nhiều nơi nhiều cá nhân, tập thể của chi bộ biên thư , kiến nghị dồn dập gửi về TW, BTL , Bộ chính trị, bảo vệ đoàn kết, bảo vệ TBT LK Phiêu, lên án cố vấn chủ yếu là LĐ Anh, đòi kỷ luật cố vấn thông báo cho toàn đảng biết không thể bỏ qua. Như vậy trải gần 1 tháng đến hội nghị Tw 11 b khai mạc vẫn tiếp tục đấu tranh.

+LĐ Anh tấn công Phiêu lần thứ 4.

LĐ Anh nêu vụ Phiêu đi thăm TQ đối thoại với Giang Trạch Dân là phạm tội bán đất , bán biển, là lộ bí mật chiến lược của đảng, là độc đoán. Đi về không báo cáo với Bộ chính trị, không cho Nguyễn Mạnh Cầm cùng dự họp là biểu hiện sự thậm thụt sao đó...

Sự thật vụ việc này là: Xuất phát từ phía TQ, GT Dân mời Phiêu sang thăm. Ta thăm dò ý của họ chỉ TBT gặp TBT? Họ trả lời mỗi bên 4 người: TBT, thư ký TBT, trưởng ban đối ngoại TW, chánh văn phòng TW. Ta cũng muốn nhân dịp này thăm dò thái độ của TQ đối với Mỹ, đối với CNXH. Kế hoạch đi thăm do ban đối ngoại TW làm, Mạnh Cầm thông qua… Khi vào phòng họp do sơ xuất Cầm bước vào phòng bị ngăn lại ngay vì không dúng thành phần quy định .

Nội dung bàn ta thoả hiệp chữa lại cột mốc biên giới ở vĩ tuyến… do TQ yêu cầu. Họ lập luận trước kia do công nhân đưa cột mốc không tới đỉnh núi đành bỏ lai sườn núi, bây giờ đưa cột mốc lên đỉnh núi.

Về biển : Hai bên đấu tranh cuối cùng đã đi đến thoả thuận xác định 3 vùng biển, ở ngoài khi Vịnh Bắc Bộ là vùng đánh cá chung của cả 2 bên.

Quan hệ với TQ ngày nay rất tế nhị. Ta ở cạnh một nước to, không thể căng với họ vì họ sát nách ta. Khi LĐ Anh phê là Cầm không được vào dự là thậm thụt ,Phiêu chứng minh kế hoạch đi hội đàm do Cầm thông qua, không dự vì không đúng thành phần do TQ quyết định. Khi họ nói độc đoán về không báo cáo Bộ chính trị, Phiêu chứng minh, có Khải làm chứng. Khải nói: "Lúc đó Phiêu có báo cáo Bộ chính trị", Phiêu đem văn bản ngày 4 có báo cáo với Bộ chính trị, có LĐ Anh dự, ngày 28 mới đi (Cầm ngồi đó ậm ừ). Phiêu chứng minh khi về có báo ,giở văn bản ngày 1-5 Phiêu báo cáo trong phiên họp Bộ chính trị, tập văn bản có ghi; Phiêu chỉ thị cho Trần Đình Hoan triển khai (Hoan ngồi đó ậm ừ).

Đuối lý LĐ Anh lại quay sang phê bình Phiêu tại sao tranh chấp với TQ vùng biển đông lại không đưa ASEAN vào? Phiêu giải thích: "Khu Tư Chính tây Trường Sa là thuộc chủ quyền của ta, chỉ tranh chấp với TQ không dính gì đến ASEAN . Nếu thực hiện đa phương đưa ASEAN vào thì ta không còn chủ quyền 2 khu vực ấy. Nên vấn đề này chỉ có song phương, không đa phương, mà trong nguyên tắc đa phương có song phương…” Anh đuối lý. Anh tiếp tục quay sang chỉ trích và kết tội Phiêu làm lộ bí mật quốc gia. Tại sao lại cho GT Dân biết ta xác định Mỹ vẫn là đối tượng chiến lược (kẻ thù).

Vấn đề này thực chất như sau:

Khi Phiêu gặp Phi đen tại Cuba 2 bên thống nhất thế nào cũng phải giữ TQ lại, đừng để TQ vượt đà… Phi Đen nói: “GT Dân thì được, còn Chu Dung Cơ chưa rõ… cần theo dõi xem sao …" Chu Dung Cơ khi sang thăm ta, ngồi trên chuyến chuyên cơ có bộc lộ với ta "năm 1997 đã cho ta là sai" ta cũng không muốn TQ thoả hiệp với Mỹ nên nhân chuyến đi này xem TQ xác định đối tượng chiến lược như thế nào.

Qua đàm đạo GT Dân nói: “Mỹ chiả 2 tay tôi phải chiả 2 tay, phải cảnh giác, phải nắm chắc LLVT”. Rồi Dân rỉ tai Phiêu. "Mỹ là đối tượng chiến lược của TQ, không phải là đối tác”. Do đó Phiêu mới nói: "Chúng tôi vẫn coi Mỹ là kẻ thù". Chứ không phải cố ý làm lộ bí mật quốc gia gì cả. Các cố vấn im.

Họ quay sang tấn công đòn thứ 5 mạnh hơn.

LĐ Anh, Đỗ Mười xúm nhau tố Phiêu quan hệ với gái gián điệp, tình báo Mỹ khi đi công tác sang Châu Âu, thị Hà, thị Dung và 1 phụ nữ khác nữa đồn là tình báo của Mỹ và nước ngoài. Đỗ mười đưa bức ảnh ghép Phiêu và Hà, 1 bức Phiêu ngồi cạnh thị Dung ở Pháp để làm chứng.

+Sự thực về Phiêu quan hệ với thị Hà như thế nào? Ra sao?

Thị Hà là con gái của Đặng Kinh ở Hải Phòng, trong chiến tranh Kinh là thủ trưởng của Phiêu. Trong chiến dịch tiến công vào thành cổ Quảng Trị khi địch oanh tạc vào vị trí của Kinh thì Phiêu lấy thân mình che chắn cho Kinh. Từ đó gia đình Kinh gắn bó với Phiêu. Thị Hà và Phiêu có cảm tình, dan díu… Nhưng khi Phiêu về Tổng cục chính trị, vào Ban Chấp Hành TW có đưa vấn đề này ra kiểm điểm. Phiêu đã cắt quan hệ, các cố vấn, cơ quan quân sự (có lẽ là cục II ) ghép ảnh Phiêu với Hà rồi đưa cho Vợ Phiêu xem để kích động ( thật bỉ ổi !) rồi đưa ra hội nghị TW vu khống Phiêu. Nhưng thị Hà thời kỳ Phiêu làm TBT, Hà vẫn rêu rao khoe khoang TBT Phiêu vẫn còn quan hệ yêu đương với cô ta. Phiêu đành chịu. Sự việc gác lại đó. Nhưng Hà đâu có phải là gián điệp.

Thị Dung là nhân viên 1 tổ chức kinh tế, đơn vị cử đi trong phái đoàn Phiêu sang Châu Âu. Trong lúc đang hội đàm tại Pháp, có cả đoàn ta, đoàn quốc tế, có Dung đi cùng. Cố vấn sử dụng (TC II) in ảnh bôi lem mặt những người xung quanh chỉ còn lộ ra hình Phiêu và Dung. Họ đưa ra trước hội nghị TW (quá bỉ ổi!) để chứng minh Phiêu ra nước ngoài lén lút quan hệ với gái gián điệp. Lúc đó Nguyễn Mạnh Cầm không còn nén được nữa bật đứng lên phản bác: “Hôm đó có tôi ở sau lưng anh Phiêu, tại sao xoá mặt tôi đi”. Thế là thủ đoạn vu khống bị lật tẩy hoàn toàn.

Chưa dừng ! Nguy hiểm hơn. Họ lại quay sang tấn công đòn thứ 6.

LĐ Anh, Đỗ Mười, Võ Văn Kiệt (Xuất chiêu đủ 3) LĐ Anh, Đỗ Mười cho rằng Phiêu trực tiếp đàm thoại với Clin-Tơn như vậy là quá cứng rắn, quan hệ với Mỹ sẽ khó khăn… VV Kiệt phát biểu với giọng thống thiết “Đ/ c Phiêu làm như vậy thì công lao chúng tôi đặt quan hệ với Mỹ lâu nay (mở cấm vận, quan hệ bình thường, các nước của Mỹ đầu tư, cho vay) coi như công dã tràng xe cát? Rồi đây sẽ hạn chế đầu tư, cho vay, công cuộc xây dựng kinh tế, Công nghiệp hoá, hiện đại hoá sẽ khó khăn (luận điệu này đương nhiên đã tác động tâm lý nhiều người đâm lo, có sức thuyết phục rộng rãi các nghành, các cấp làm kinh tế… thật là nguy hiểm và nguy hại nếu đảng ta không kịp thời đấu tranh)”.

Còn Đỗ Mười, Trần Xuân Giá hùa vào phê phán quyết liệt LK Phiêu, lên án tiếp tội lỗi của LK Phiêu làm trì hoãn ký kết hiệp định thương mại. Cố tình gây cản trở Mỹ và các nước mở rộng đầu tư.

+Hai sự kiện hư thực, đúng sai như thế nào?

1.- Việc tiếp xúc với Clin-Tơn TT Mỹ.

Khi Clin-Tơn tiếp xúc và nói chuyện với giáo viên, sinh viên tại trường Đại Học Quốc Gia Hà Nội với giọng trịch thượng, tiếp xúc với 1 số nơi nhằm xoá nhoà tội ác, đánh đồng ta như Mỹ. Chính Phiêu muốn tỏ cho Clin Tơn biết rằng: "Lịch sử là không thể phủ định, không thể xoá nhoà, không thể đánh đồng người bị xâm lược với kẻ đi xâm lược, lên án Mỹ chia cắt nước ta, gây chiến tranh xâm lược ta chứ không phải nhân dân ta gây chiến", Làm cho Clin Tơn không được chơi trội, gây mơ hồ ảo tưởng… nội dung ứng xử của Phiêu đã được cán bộ, đảng viên nhất trí, các cụ hưu trí và nhân dân rất hoan nghênh, đồng tình, hả dạ. Tại sao 3 cố vấn và Giá lại buồn, lại lo và phê phán?

2.- Vấn đề ký hiệp định thương mại Việt Mỹ.

Ban đầu Mỹ tự thảo bằng tiếng Anh hoàn toàn. Nguyễn Tấn Dũng và Mạnh Cầm ở lại Mỹ vội ký tắt rồi mang về báo cáo với Phiêu và ngày 27-7-1999 (Sau này ta mới biết lúc ấy Cầm và Dũng xin cho con học ở Mỹ, được Mỹ nhận cấp học bổng). Phiêu ngầm đưa cho các trí thức chuyên gia kinh tế tham khảo và hỏi ý kiến anh Giáp vì trong văn bản có 40 điều hoàn toàn có lợi cho Mỹ, bất lợi cho ta. Phiêu đưa Bộ chính trị, đa số đồng ý hoãn - chưa ký.

Ngày 1-4-1999 LĐ Anh thúc ép Phiêu, bảo Phiêu phải cho ký. Phiêu bảo phải chờ ý kiến tập thể Bộ Chính Trị. LĐ Anh hùng hổ nói " ù có tập thể cũng phải ký”. Phiêu bực mình đáp "Anh nói như vậy là vô nguyên tắc". Trong khi họp BCT để bàn thì chỉ có Tấn Dũng (Phó Thủ Tướng) và Cầm có ý kiến phải ký. Phan Diễn ngập ngừng. Phiêu gạn hỏi Diễn “Anh đồng ý ký hay không.” Diễn ấp úng: “ờ, ờ thì ký." (Sau này ta mới biết con trai Lê Đức Anh được Mỹ cấp học bổng du học tại Mỹ)’

Sau đó ta buộc Mỹ phải xuống thang, chịu sửa lại 1 số điều khoản bất lợi cho ta, ta mới ký bằng cách ta gợi ý cho tổng thống Pháp Chiracs mời cho ta gặp Mỹ tại Pháp trong chuyến công cán Châu Âu. Phiêu gặp Clin Tơn qua hội đàm ta hé mở ý tứ mập mờ cho Clin Tơn ngầm hiểu " Nếu Mỹ không chơi với ta thì ta chơi với EU, Nhật, TQ. Từ đó Mỹ sửa và ta chịu ký.

Trong Bộ Chính Trị thừa nhận việc ta hoãn ký hiệp định TM Việt-Mỹ , ứng xử với Clin Tơn là đúng. Nhưng khi cố vấn đưa ra hội nghị 11b phê phán, quy tội cho Phiêu thì tất cả BCT ngồi đó làm thinh để một mình Phiêu đối đáp tại sao?). Chứng tỏ ban cố vấn có liên quan thao túng Bộ Chính Trị.

Chưa thôi! Họ tập trung vơ vét ra đòn thứ 7.

Họ quay sang phê phán Phiêu tại sao sử dụng Nguyễn Chí Trung làm thư ký riêng. Họ vu khống là lý lịch Trung không rõ, nào là thành phần trên, gia đình thuộc lớp trên, quan hệ chính trị xấu (trước kia) nhưng không phải vậy.

Đến khi chị Mỹ phát biểu tổng hợp và kết luận 3 vụ đều là vu khống hiểm độc của ban cố vấn. Chị Mỹ chất vấn: “Những vấn đề các cố vấn đưa ra là gốc ở đâu? Vấn đề A10, vấn đề TQ, vấn đề quan hệ với gái gián điệp chả phải là vấn đề gì cả. Chị Mỹ cho là vu khống.
Họ lại quay sang vu khống chị Mỹ (Chủ Nhiệm Uỷ Ban Kiểm Tra TW). LĐ Anh trực tiếp tố cáo chị Mỹ là ăn hối lộ với Lê Minh Hương. Đ/c M Hương vặn lại: “Anh nói chắc không?” LĐ Anh nói chắc, giả đò về lấy sổ tay ra có ghi mấy dòng để chứng minh. Hương báo với Phiêu. Phiêu cử người đi xác minh là không có. Hỏi lại Anh. Anh từ chối là không có tố cho chị Mỹ . Hương nói: "Chính anh báo với tôi mà! Anh Anh?"

Những vấn đề khác như đề bạt Lê Hải Anh, vấn đề Xiêm Riệp, địa phương chủ nghĩa đều là chuyện vụn vặt, hội nghị không ai bàn đến làm gì.

Cuối cùng hội nghị 11a, 11b đều không có cơ sở, lý do gì để kết tội, thi hành kỷ luật đối với LK Phiêu.

Phiêu còn 2 việc tồn đọng khó thanh minh.

1 là vụ rỉ tai Vịnh, 2 là việc quan hệ với Hà.

Nhưng còn nhiều vấn đề đối với mấy ông cố vấn mà chưa nói được hết. Ví như: 

1.- Vấn đề lịch sử chính trị của Lê Đức Anh: Cho con đi học ở Mỹ. Trước đây Anh đồng ý 1 bộ phận chuyên môn của Mỹ ở lại bệnh viện 108 để nghiên cứu (Đoàn Khuê và LK Phiêu bác bỏ).

Tình hình bạo loạn ở Tây Nguyên thì Anh nói là chuyện trẻ con, chúng nó làm gì lấy được Tây Nguyên. Phiêu lại nói: "Đó là vụ bạo loạn chính trị đằng sau là Mỹ - dẹp ngay".

LĐ Anh nhận tiền Đặng Đình Loan (Phần tử xấu) tên Bích (Phần tử yếu kém bên bộ công an), tên Tư Không ở tp HCM (cũng loại xấu) đưa vào làm việc ở bộ phận thư ký của Phiêu bị Phiêu bác. Trước đây LĐAnh sử dụng và hậu đãi Trần Đình Hoan để y làm loa nói xấu anh Giáp. LĐAnh còn thuyết Ngô Hoàng thứ trưởng Giao Thông nhận thằng Hà là con trai của mình làm Vụ trưởng quốc tế dần dần vào TW. Hoàng xin ý kiến Phiêu, Phiêu bác (LĐAnh giận lắm). Sau đó LĐAnh đề nghị đưa Hà lên phó Giám Đốc Đại Học Bách Khoa, Phiêu nói không được.

LĐ Anh đưa toàn bộ phần tử xấu vào cương vị trọng yếu trong tổ chức đảng và nhà nước, còn ép đưa 1 số kém vào TW. Khi Anh đòi đưa Kiên (Tư Lệnh Quân Khu 7 ra thay Trà, Phiêu không đồng ý. Anh lại giữ Trà ở lại Bộ trưởng Quốc Phòng. Anh phê bình Phiêu là không tình nghĩa với Trà (Phiêu định đổi người khác thay Trà). LĐ Anh không từ ngõ ngách nào đều vu khống, moi móc nói xấu vấy lỗi cho đ/c LK Phiêu.

Còn việc con trai LĐ Anh do Mỹ nuôi học bên đó bây giờ ta mới biết! và LĐ Anh kết nạp đảng năm nào, ngày nào, ai giới thiệu, ở đâu? Lại có tuổi đảng 60 (nghe nói có cụ đã ra tận Bộ chính trị TW tố cáo Anh).

2.- Còn Đỗ Mười tại Hà Nội có ông bạn thân thiết hỏi tại sao vừa rồi anh làm như vậy (Vu khống lật đổ Phiêu) Mười trả lời: "Nó lật tôi, tôi lật lại" (Một câu trả lời "tuyệt hay" của vị nguyên TBT, nguyên cố vấn BCHTW. khó có câu nói nào ngắn chỉ 6 từ mà lột tả được đúng, chính xác cả khẩu khí và bản chất thực cuả Đỗ Mười, đồng thời cũng là khái quát bản chất, khẩu khí thực của đại đa số những vị có chức có quyền trong ĐCSVN hiện nay như vậy) Rồi Mười lại trách: “Bấy lâu nay vợ chồng Phan Văn Khải đến thăm tôi chứ Phiêu nó có đến thăm tôi bao giờ đâu”. (Khi Phiêu xử lý Ngô Xuân Lộc Mười phản đối vì Lộc ân tình với Mười, do Mười cất nhắc lên. Chính Mười cắm Phạm Thế Duyệt vào Bộ chính trị, sau khi thôi Bí thư thành uỷ Hà Nội lại làm thường trực Bộ chính trị...

+Hội Nghị Ban Chấp Hành TƯ lần thứ 12.

Khai mạc gồm 165 đoàn đại biểu (ta hy vọng các đoàn đại biểu địa phương lên sẽ thay đổi cục diện. LK Phiêu sẽ được đa số ủng hộ tái cử. LK Phiêu chưa tuyên bố rút thì Trần Xuân Giá đã phê phán Phiêu quyết liệt về hoãn ký hiệp định thương mại và cứng rắn với Clin Tơn... Khi được các nước đầu tư để phát triển kinh tế (đã làm lung lạc các đại biểu về dự dại hội). Tiếp đến Mai Thúc Lân lên gân sỉ vả LK Phiêu: "Anh là đồ lật lọng. Tại sao trước đây anh nói rút lui... bây giờ lại không rút tên trong danh sách...". (Trước hội nghị TW 12 Anh mời Lân đến dùng cơm thân mật và Anh nói với Lân: "Lần này anh sẽ vào Bộ chính trị và làm chủ tịch Quốc Hội". Lân hí hửng quay sang chống Phiêu).

Khi vào chương trình ứng cử vào Bộ chính trị TW trong 165 đoàn đại biểu thì có 155 đoàn giới thiệu LK Phiêu. Song lấy phiếu thăm dò cá nhân (sự thật họ làm sao không rõ do Phạm Thế Duyệt chủ trì) họ công bố chỉ có 155 đại biểu (trên tổng số hơn 1000) giới thiệu LK Phiêu? Đến lúc này Phiêu tự thấy nếu bầu cử trúng vào TW cũng thấp, vào Ban Bí thư, Bộ chính trị càng khó. Nếu trúng khó làm nên Phiêu rút ra cho an. Bằng uỷ nhiệm cho Đ/c Phan Văn Khải thông báo Phiêu rút khỏi danh sách đề cử.

Đến giai đoạn bầu TBT. Danh sách dự kiến đưa ra: Trần Đức Lương, Nông Đức Mạnh.
Nguyễn Minh Triết phản đối Trần Đức Lương. Triết nói: “ở miền Nam, miền Trung không ai tín nhiệm anh Lương đâu”. (Gần đây vợ chồng Lương sửa lại nhà ở trên 1 tỷ, còn chuyện gì nữa mà Triết chỉ trích Lương ta không rõ).

Thế là chỉ còn lại 1 mình Nông Đức Mạnh. Mạnh từ đầu chí cuối luôn từ chối vì trình độ năng lực. Nhưng khi Mạnh tham khảo ý kiến 1 số đ/c lão thành trung kiên thì các đ/c ấy khuyên Mạnh: " Nếu tình huống xấu thì anh phải đứng ra nhận”. Mạnh mới nhận đề cử vào cương vị TBT.

Thế là mưu đồ đảo chính Phiêu thành công, ban cố vấn, đồng thời ghế cố vấn của các vị cũng bị xoá bỏ. Đỗ Mười, Võ Văn Kiệt bị lực lượng quần chúng chỉ trích, cố xin lỗi theo kiểu đỡ đòn xuê xoa. Còn LĐ Anh nói tôi làm vậy là để tự kiêu binh, LĐAnh còn rất ngoan cố. Kiệt tuy buông lời xoa dịu nhưng còn biểu lộ ý đồ xấu xa, Kiệt nói: " Tôi còn đi xa hơn nữa...?"

Đến đây ta có thể tạm kết luận:

Rõ ràng Bộ chính trị, BCHTW đều bị ban cố vấn vừa khống chế vừa thao túng, là do các cố vấn vừa lộng quyền vừa vô nguyên tắc và quá cá nhân. Bởi vì nhiều vấn đề Phiêu bị vu khống vô nguyên tắc. Nhiều người trong Bộ chính trị biết và thấy bị oan nhưng không dám đứng ra bênh vực, minh chứng cho Phiêu mà ngồi làm thinh như Phạm Văn Trà (vì có đến 5 toà nhà 3 bà Vợ) Quân đội không thích, bị kỷ luật khiển trách (đưa lên đài) thế mà vẫn cứ thừa nhận là đủ tư cách đại biểu bầu vào Tw!.

+Nguyên nhân sâu xa từ đâu?

-Đó là vấn đề đấu tranh giữa 2 quan điểm và 2 đường lối. Đỗ Mười thoả hiệp với Võ Văn Kiệt từ đầu.

-LĐ Anh lộng quyền muốn thống lĩnh quân đội , biến quân đội theo ý đồ riêng của mình, xích gần với Mỹ (bởi vì lịch sử chính trị của Anh còn mờ ám, không phải là đảng viên.

-Sau Võ Văn Kiệt là Trần Bạch Đằng có quan hệ rất phức tạp.

-Mỹ đang hô hào hỗ trợ muốn ta trượt nhanh vào cải cách tư nhân hoá. Ta hiện đang xoay nền kinh tế theo hướng đó. Thực tế là đang đẩy mạnh cổ phần hoá...Vấn đề đầu tư cho kinh tế quốc doanh trước đây gần 1 ngàn mấy trăm tỷ nay chỉ còn 96 tỷ thì còn làm ăn gì được nữa? Nền kinh tế của ta đang có nhiều cơ hội hội nhập và cũng đầy thử thách cam go.

+Kết Luận.

Phải chăng đánh đổi Lê Khả Phiêu là đánh đổi đường lối chính trị, tổ chức, đánh đổi ngọn cờ: Độc lập dân tộc và CNXH.

Đây là cuộc đấu tranh một còn một mất giữa 2 con đường XHCN & TBCN của đảng ta.

Bởi vì lực lượng hữu khuynh đang chiếm đa số trong đảng. Số tích cực, kiên định đường lối XHCN chỉ chiếm 1/3 trong Bộ chính trị, 1/3 trong TW, 1/3 dưới chi bộ và các cấp.

Nền nhà ta chưa vững chắc, tư tưởng chính trị chính thống của ta chưa kiên định, nền kinh tế thị trường luôn có 2 mặt.

Những sự kiện tóm lược trên đây là tình hình đã qua quá đau lòng và khó hiểu.

Ta mong rằng từ nay về sau và mãi , không xảy ra và thực hiện đúng di chúc Bác Hồ.

Tóm lược Xong đêm 21-7-2002

Nguyễn Chí Trung


mardi 23 septembre 2014

Xây dựng hồ sơ lịch sử và pháp lý về chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa

 Sự lựa chọn chiến lược : Có một, hai (hay ba) quốc gia Việt Nam trong khoảng thời gian 1954-1975 ?

  1.  Câu hỏi đặt ra là có bao nhiêu quốc gia Việt Nam trong khoảng thời gian 1954-1975?
Câu trả lời thuộc về các chuyên gia lịch sử và pháp lý có thẩm quyền.

Đối với một công dân Việt Nam bình thường, có một, hai (hay ba) quốc gia mang tên Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa, Việt Nam Cộng Hòa (và Cộng hòa Miền Nam Việt Nam) thì không có gì là quan trọng. Có một, hai hay ba quốc gia Việt Nam thì cũng chỉ là những “chi tiết lịch sử”, trong một giai đoạn lịch sử phân chia nước Việt Nam. Điều quan trọng ngày nay : Việt Nam là một quốc gia độc lập và thống nhất. Những con số một, hai, ba… trong quá khứ không làm thay đổi được thực tế này.

Nhưng vấn đề tranh chấp chủ quyền lãnh thổ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa với Trung Quốc đã khiến vấn đề không đơn giản. Trên phương diện pháp lý, có một, hai hay ba quốc gia Việt Nam (trong khoảng thời gian 1954-1975) là sẽ có một, hai hay ba hồ sơ pháp lý khác nhau. Trên phương diện lịch sử, có một, hai hay ba quốc gia Việt Nam là sẽ có một, hai hay ba quan điểm lịch sử về chủ quyền (Hoàng Sa và Trường Sa) khác nhau.

Dĩ nhiên người Việt nào cũng muốn hồ sơ chủ quyền về pháp lý và lịch sử của Việt Nam vững chắc, một mặt để tranh cãi với Trung Quốc trên bàn thuơng nghị, mặt khác có thể thắng được Trung Quốc nếu tranh chấp đưa ra một trọng tài quốc tế để phân xử.

Vấn đề đặt ra, Việt Nam cần đứng trên quan điểm nào để xây dựng một hồ sơ pháp lý “có lợi” nhất ?

  1.  Để ý, trong những tranh chấp chủ quyền lãnh thổ (tại các vùng lãnh thổ không có người ở như hải đảo), phe thắng kiện luôn là phía chứng minh được sự liên tục về thẩm quyền quốc gia (trong một thời gian dài) trên các vùng lãnh thổ đó. Vấn đề “chủ quyền lịch sử” tuy quan trọng nhưng vẫn không quan trọng bằng việc liên tục thể hiện thẩm quyền quốc gia (effectivité).
Nhiều luật gia quốc tế nhìn nhận, chủ quyền (lịch sử) của VN tại Hoàng Sa và Trường Sa, từ khi khám phá cho đến năm 1975 là “vững” hơn lý lẽ về chủ quyền của Trung Quốc.

Bất kể những sự thay đổi về thể chế, về chính trị, từ chế độ phong kiến vương quyền nhà Nguyễn sang chế độ bảo hộ của Pháp; từ chế độ bảo hộ Pháp sang chính quyền Quốc Gia Việt Nam của ông Bảo Đại, sau đó chuyển sang các chế độ cộng hòa ở miền Nam cho đến 30 tháng 4 năm 1975… chủ quyền của quốc gia Việt Nam tại các vùng lãnh thổ Hoàng Sa và Trường Sa đã thể hiện một cách liên tục.

Trải qua nhiều triều đại, nhiều thể chế chính trị khác nhau, vấn đề “kế thừa” (chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa) đã được (các thể chế chính trị nối tiếp nhau) thể hiện một cách minh bạch, phù hợp với luật lệ quốc tế.

Chủ quyền của Trung Quốc tại Hoàng Sa thì không được luật pháp quốc tế nhìn nhận, mặc dầu nước này trên thực tế đã chiếm hữu toàn bộ quần đảo.

Tháng 4 năm 1956, lợi dụng lúc quân Pháp rút khỏi Đông Dương trong lúc quân đội của quốc gia Việt Nam chưa kịp củng cố, Trung Quốc đã đưa quân xâm chiếm nhóm phía đông quần đảo Hoàng Sa (nhóm An Vĩnh - Amphitrite). Tháng giêng năm 1974, Trung Quốc đã sử dụng vũ lực xâm chiếm nốt nhóm còn lại (nhóm Nguyệt Thiềm - Croissant). Các hành vi xâm lược này không đem lại chủ quyền cho Trung Quốc tại vùng lãnh thổ Hoàng Sa vì hai lẽ: 1/ luật lệ quốc tế không nhìn nhận chủ quyền quốc gia tại vùng lãnh thổ nếu việc chiếm hữu thể hiện bằng vũ lực. 2/ Chính quyền VNCH liên tục khẳng định chủ quyền của VN tại Hoàng Sa đồng thời không ngừng lên án hành vi xâm lăng của TQ trước trường quốc tế.

Chỉ sau ngày 30-4-1975, chính quyền VNCH sụp đổ, chủ quyền của quốc gia VN tại các vùng lãnh thổ Hoàng Sa và Trường Sa bị thách thức nặng nề bởi Trung Quốc.

Việc “kế thừa”, tức là cái gạch nối, tạo sự “liên tục quốc gia” mỗi khi quốc gia có thay đổi thể chế chính trị, hoặc có sáp nhập (hay ly khai) một vùng lãnh thổ.

Ngày 30-4-1975 là một biến cố trọng đại của dân tộc và quốc gia Việt Nam. Một vùng lãnh thổ (VNCH và sau đó là CHMNVN) được sáp nhập vào một vùng lãnh thổ khác (VNDCCH), tạo thành một nước Việt Nam độc lập, thống nhất ba miền (CHXHCNVN). Vấn đề “kế thừa” dĩ nhiên đặt ra.

Quốc gia Việt Nam có giữ được sự liên tục chủ quyền tại Hoàng Sa và Trường Sa hay không là tùy thuộc vào thể thức “kế thừa” VNCH của các chính quyền tiếp nối sau ngày 30-4-1975.  

Nếu chỉ có một quốc gia Việt Nam, việc kế thừa giữa các vùng lãnh thổ (VNCH, CHMNVN và VNDCCH) là “kế thừa” giữa các “chính phủ”, là vấn đề “nội bộ” của Việt Nam. Việc kế thừa không phải là đối tượng của công pháp quốc tế.

Nếu có trên hai “quốc gia” Việt Nam: quốc gia VNCH, quốc gia CHMNVN và quốc gia VNDCCH. Việc kế thừa ở đây là kế thừa giữa “quốc gia” với “quốc gia”. Vì chủ thể “quốc gia” là đối tượng của quốc tế công pháp, việc kế thừa trở thành đối tượng của quốc tế công pháp.

Việc “lựa chọn” có một, hai hay ba quốc gia VN vì vậy trở thành một lựa chọn mang tính chiến lược.

  1.  Thực ra trong lịch sử không có chỗ cho việc “lựa chọn”. Lịch sử là sự ghi chép lại những sự việc liên quan đến chính trị, kinh tế, văn hóa... đã xảy ra trong quá khứ. Người viết sử trung thực thì dữ kiện (hay sự kiện) lịch sử chỉ có một. Nhưng lịch sử (Việt Nam) thường xuyên được được viết bởi phe chiến thắng. Trong trường hợp này người ta cũng không thể “lựa chọn”, mà chỉ có thể “thiết lập” lại sự thật cho lịch sử.
“Sự thật” lịch sử nào cần phải thiết lập lại trong giai đoạn 1954-1975 ?

Có ít nhất 4 phe tham dự vào cuộc chiến: VNDCCH, VNCH, MTGPMN và Mỹ (và một số nước đồng minh). Vì vậy có 4 lập trường (quan điểm) khác nhau về cuộc chiến. Mỗi bên có một lý lẽ riêng biệt để biện hộ cho việc can dự (vào chiến tranh) của phe mình. Phe nào cũng cho rằng cuộc chiến mà mình tham dự là cuộc chiến “có chính nghĩa” (jus ad bellum). Ngoài ra còn có quan điểm khách quan của các luật gia, sử gia thuộc các nước trên thế giới.

Một số quan điểm (học thuyết) mà các học giả quốc tế thường nhắc khi nói đến chiến tranh VN. Những người này cho rằng đây là cuộc chiến : chiến tranh giải phóng dân tộc, chiến tranh cách mạng, nội chiến (guerre civile), chiến tranh ý thức hệ, xâm lược vũ trang (agression armée), tự vệ chính đáng đơn phương và đa phương …

Thật vậy, cuộc chiến Việt Nam có đầy đủ những yếu tố cấu thành các lý thuyết về chiến tranh đã liệt kê. Nhưng các qui ước quốc tế (về chiến tranh) của các học thuyết này đối chọi nhau.

Dưới ánh sáng của từng học thuyết chiến tranh khác nhau, tình trạng pháp lý của quốc gia Việt Nam trong thời gian này cũng được nhìn qua nhiều lăng kính khác nhau.

3.1 Quan điểm của VNDCCH miền bắc, cuộc chiến 54-75 là cuộc chiến “thần thánh” chống Mỹ cứu nước, được thể hiện dưới hai lý thuyết (về chiến tranh) : “chiến tranh cách mạng” của chủ nghĩa Mao và “ chiến tranh giải phóng dân tộc”. Hành vi can thiệp của người Mỹ vào miền Nam bị lên án là hành vi “xâm lược”. Chính quyền VNCH ở miền Nam bị xem là chính quyền “ngụy”, tay sai của “đế quốc Mỹ”. Tức là miền Bắc quan niệm chỉ có một quốc gia Việt Nam duy nhất (qua hiến pháp), đó là quốc gia Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.

(Dầu vậy lý tưởng dân tộc “đánh Mỹ cứu nước” lại nhập nhằng với lý tưởng quốc tế cộng sản “đánh Mỹ cũng là đánh cho Liên Xô, Trung Quốc”. Sau 1975, Việt Nam trở thành “tên xung kích vô sản” sừng sỏ ở phương đông).

3.2 Quan điểm của miền Nam VNCH, cuộc chiến 54-75 là cuộc chiến “bảo vệ tự do”. Chính quyền VNCH có lúc tự hào là “tiền đồn của thế giới tự do”. Cộng sản miền Bắc bị xem là “phỉ”: “cộng phỉ”. Mục đích của những nhà cầm quyền miền Nam là “bắc tiến”, giải phóng miền Bắc ra khỏi ách “cộng sản”. Quan điểm của miền Nam cũng chỉ có một quốc gia Việt Nam duy nhất (qua hiến pháp), đó là Việt Nam Cộng hòa.

Quan điểm của hai miền Bắc và Nam trùng hợp “chỉ có một nước Việt Nam duy nhất, thống nhất ba miền trung, nam, bắc” là do sự ràng buộc của Hiệp định Genève 1954: “Việt Nam là nước độc lập, toàn vẹn lãnh thổ, có chủ quyền và thống nhất”. Điều này nên nhắc vì đây là thành quả tranh đấu của nhiều tầng lớp, phe phái, của nhiều thế hệ dân tộc Việt Nam nhằm chống chủ trương sáp nhập “Nam Kỳ” vào lãnh thổ của đế quốc Pháp.  

3.3 Quan điểm của Hoa Kỳ. Phía này không nhìn nhận Hiệp định Genève 1954. Họ cho rằng có hai quốc gia Việt Nam (độc lập, có chủ quyền): VNDCCH và VNCH. Hoa Kỳ “lên án” miền bắc (VNDCCH) đã “xâm lược vũ trang” quốc gia VNCH. Trên quan điểm công pháp quốc tế, VNCH có quyền “tự vệ chính đáng”. Hoa Kỳ (và các nước đồng minh) có nghĩa vụ phải giúp đỡ Việt Nam để bảo vệ độc lập và chủ quyền của nước này (theo đúng các qui định của Hiến chương LHQ).

Trong khoảng thời gian 1954-1972, Hoa Kỳ luôn thuyết phục các lãnh đạo Việt Nam Cộng Hòa rằng Hoa Kỳ sẽ giúp cho VNCH trở thành một quốc gia độc lập, có chủ quyền. Vì chỉ khi VNCH là một quốc gia độc lập, có chủ quyền thì sự can thiệp của Hoa Kỳ mới chính đáng, jus in bello, theo nguyên tắc “quyền tự vệ chính đáng đa phương”. Hoa Kỳ muốn biến một cuộc “nội chiến” trở thành một cuộc “chiến tranh đa quốc gia”, biến chiến trường Việt Nam thành thí điểm nóng cho cuộc chiến tranh lạnh.

(Sự can dự của Mỹ vào chiến tranh VN đã làm chia rẽ giới học giả, luật gia của nước này. Một số ủng hộ lập trường của chính phủ, cho rằng sự can thiệp vào Việt Nam là chính đáng, phù hợp với luật lệ quốc tế. Số còn lại phản đối, cho rằng sự can thiệp của Hoa Kỳ vào Việt Nam là “không chính đáng”, vi phạm luật lệ quốc tế do can thiệp vào chuyện nội bộ của một quốc gia độc lập, có chủ quyền”.)
  
3.4 Quan điểm của các sử gia, học giả trên thế giới, chiến tranh Việt Nam 1954-1975 vừa là một cuộc “nội chiến” vừa là cuộc chiến “ý thức hệ”. Việt Nam là “thí điểm nóng của cuộc chiến tranh lạnh”. Các bên lâm chiến chỉ là những thành phần của dân tộc Việt Nam. Các bên được sự trợ giúp vũ khí đạn dược cũng như nhân sự của các thế lực từ bên ngoài.

Nội dung Hiệp định Genève 1954 “Việt Nam là nước độc lập, toàn vẹn lãnh thổ, có chủ quyền và thống nhất” được các nước trên thế giới tôn trọng.

  1.  Chiến tranh đã ngưng. Việt Nam được độc lập và thống nhất đã bốn thập niên. Vấn đề “chính nghĩa” của các phe (trong cuộc chiến) lần hồi trở thành những chi tiết rất phụ của lịch sử. Có một, hai hay ba quốc gia VN (trong giai đoạn 54-75) thì có gì là quan trọng khi mà đất nước VN đã thống nhất, nước VN đã dành được độc lập và có chủ quyền ?
Điều quan trọng là đứng dưới ánh sáng của lý thuyết luật học nào, bằng những dữ kiện lịch sử nào, hồ sơ lịch sử và pháp lý về chủ quyền của VN tại Hoàng Sa và Trường Sa chắc chắn nhất, có lợi nhất ?

Điều này tùy thuộc vào nội dung của hồ sơ chủ quyền phía Trung Quốc. Hồ sơ của phía Trung Quốc đã nói cái gì ?. Nhà cầm quyền Bắc Kinh đã dựa vào đâu để cho rằng Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền “bất khả tranh nghị” của Trung Quốc ?

Gác lại một bên các đòi hỏi phi lý về “quyền lịch sử” ở Biển Đông, về “đường chữ U chín đoạn”, ở đây ta chỉ xét các lý lẽ mà Trung Quốc đã đưa ra trước các diễn đàn quốc tế sau khi đặt giàn khoan 981 (trên thềm lục địa của Việt Nam). Chắc chắn đây là những lý lẽ mà phía Trung Quốc cho là quan trọng nhất, có thể thuyết phục được dư luận quốc tế về sự chính đáng của mình: khu vực mà họ đặt giàn khoan 981 thuộc (quyền) chủ quyền của Trung Quốc.

Các lý lẽ, thực ra là các “bằng chứng”, gồm một số tài liệu giáo khoa, bản đồ do phía VN xuất bản, trong đó ghi nhận Tây Sa (tức Hoàng Sa) và Nam Sa (tức Trường Sa) thuộc về Trung Quốc. Ngoài ra là lá thư của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, còn gọi là “công hàm Phạm Văn Đồng” viết ngày 14 tháng 9 năm 1958, công nhận tuyên bố về lãnh thổ và hải phận của Trung Quốc.

Các “bằng chứng” này có thể số đông người Việt Nam chưa biết đến, nhưng từ thập niên 70 các học giả trên thế giới đã đề cập tới.

Đầu thập niên 90, một số tài liệu nghiên cứu về tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông được các học giả quốc tế công bố, trong đó có đề cập đến công hàm 1958 như là một bằng chứng quan trọng. Một số học giả cho rằng, qua công hàm 1958, Việt Nam đã nhìn nhận chủ quyền của Trung Quốc tại Hoàng Sa. Việc này khiến VN bị phạm nguyên tắc “Estoppel”, tức nguyên tắc không được phép nói ngược lại. Tức là, trong quá khứ, quốc gia tiền nhiệm của CHXHCNVN, gọi là VNDCCH, đã “nhìn nhận” chủ quyền của TQ tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Hôm nay quốc gia tiếp nối VNDCCH, tức là quốc gia CHXHCNVN, không thể nói ngược lại (hai quần đảo đó là của VN).

  1.  Trước thách thức như vậy, phía VN đã có biện pháp nào để hóa giải?
Nếu không có điều lầm lẫn, ít nhất cho đến tháng 5 năm 2014, lập trường của hầu hết (nếu không nói là tất cả) các học giả Việt Nam trong ngoài nước, và cũng là lập trường “chính thức” của Việt Nam hiện nay, là có hai quốc gia Việt Nam trong khoảng thời gian 1954-1975. Lập luận cho rằng Hoàng Sa và Trường Sa thuộc quản lý của quốc gia VNCH, quốc gia VNDCCH không có thẩm quyền về hai quần đảo này. Nguyên tắc “Người ta không thể từ bỏ về cái mà người ta không có chủ quyền”, vì vậy công hàm 1958 là không có giá trị pháp lý.

Lập luận này dẫn từ hồ sơ của bà học giả Monique Chemillier-Gendreau, trong tập “La Souveraineté sur les archipels Paracels et Spratleys », nxb Harmattan, ISBN 2-7384-4061-4. Đây là một tập hồ sơ về pháp lý và lịch sử quan trọng, mang tính học thuật, thuyết phục. Tác giả là người có tấm lòng đối với dân tộc Việt Nam.

Nguyên văn lẽ ra phải viết đầy đủ như sau :

« Dans ce contexte, les déclarations ou pris de position éventuelles des autorités du Nord-Vietnam sont sans conséquences sur le titre de souveraineté. Il ne s’agit pas du gouvernement territorialement compétent à l’égard des archipels. On ne peut renoncer à ce sur quoi on n’a pas d’autorité[i] ».

Tạm dịch : trong bối cảnh đó, những tuyên bố hay lập trường nào đó của nhà cầm quyền miền Bắc thì không ảnh hưởng lên danh nghĩa chủ quyền. Nhà nước này không phải là nhà nước có thẩm quyền về lãnh thổ đối với các quần đảo. Người ta không thể từ bỏ về cái mà người ta không có thẩm quyền.

Đó là câu « On ne peut renoncer à ce sur quoi on n’a pas d’autorité - Người ta không thể từ bỏ về cái mà người ta không có thẩm quyền ».

Vấn đề là người ta không thể « trích ngang » một « ý » trong một « nguồn ý », rồi diễn giải sao cho phù hợp sở nguyện của mình. Ý nghĩa của câu này không thể tách rời « nguồn ý », đến từ « bối cảnh » mà tác giả cố gắng diễn đạt.

Bối cảnh đó là học giả Monique Chemillier-Gendreau phản biện ông L. Thomas Bradford, trong tập « The Spratly Island Imbroglio : a tangled web of conflict »; Ông này cho rằng, qua công hàm Phạm Văn Đồng, “Vietnam réaffirmé sa reconnaissance de la prétention chinois sur les archipels » - « Việc Nam tái xác nhận sự công nhận của họ về chủ quyền của Trung Quốc ở các quần đảo ».

Lập luận của bà Monique Chemillier-Gendreau nhằm phủ nhận ý kiến của Thomas Bradford, khi ông này cho rằng VN bị Estoppel. Ý kiến của bà là không thể diễn giải Công hàm 1958 như là hành vi « tái xác nhận việc công nhận chủ quyền của TQ tại HS và TS ».

« Estoppel » là « bối cảnh » của câu văn.

Ý kiến của bà Monique Chemillier-Gendreau không chấm dứt ở đó. Bà viết tiếp (nhưng các học giả VN lại không để ý) :

« Néanmoins, son silence devant l’affirmation de souveraineté chinoise sur les iles peut être interprété comme un acquiescement, et cela autant plus qu’il est renforcé par la déclaration relative aux zones de combat et les articles du Nhan Dan.[ii] »
Tạm dịch : « dầu vậy, sự im lặng (của nhà nước VNDCCH) trước sự khẳng định chủ quyền của Trung Hoa tại các đảo có thể được hiểu như là một sự đồng thuận. Việc này càng được củng cố qua các tuyên bố liên quan đến vùng chiến sự và những bài viết trên báo Nhân Dân. »

Thế nào là « sự đồng thuận – acquiescement » ? hiệu lực pháp lý của « sự đồng thuận – acquiescement » là như thế nào ?

« l’Acquiescement » được định nghĩa là « thuật ngữ thuộc quá trình tố tụng chỉ định hành vi qua đó một bên tranh chấp, một cách minh thị hay mặc thị, vô điều kiện hay có điều kiện, chấp nhận một nghĩa vụ hay một yêu cầu của bên kia. »

Theo tập quán quốc tế, (thể hiện qua các án lệ của các tòa án quốc tế), ít khi nào một bên bị mắc « acquiescement » chỉ vì một dấu hiệu (ưng thuận) đơn lẻ nào đó. Một « sự đồng thuận – acquiescement » luôn là sự kết tinh của một quá trình logic, một tập hợp những « dấu hiệu » thể hiện trong một thời gian lâu dài, từ đó cấu thành một « lập trường » (một thái độ) của một bên.

Sau khi Trung Quốc ra tuyên bố đơn phương về lãnh thổ và hải phận ngày 4 tháng 9 năm 1958. Theo tập quán quốc tế, các nước nếu công nhận lập trường này, sẽ gởi công hàm trả lời mang hình thức « reconnaissance – công nhận ». Trường hợp không đồng ý thì gởi công hàm « phản đối – protestation ».

Công hàm 1958 là một tuyên bố đơn phương, công nhận những đòi hỏi của TQ trong tuyên bố 4-9-1958. Nếu quan niệm VNDCCH (và VNCH) là quốc gia độc lập, có chủ quyền, công hàm 1958 là một vấn đề thuộc công pháp quốc tế, có hiệu lực pháp lý ràng buộc.

Để nhấn mạnh tầm quan trọng của một « tuyên bố đơn phương », ta thử giả sử rằng phía VN « im lặng », không bày tỏ bất kỳ một hành vi nào liên quan đến tuyên bố của Trung Quốc. (Tức giả sử rằng công hàm Phạm Văn Đồng không hiện hữu, hay đã mất hiệu lực do sự « hóa giải » của học giả VN).

Theo tập quán quốc tế, thái độ « im lặng » này sẽ được hiểu là sự « đồng ý ám thị - consentement tacite ».

Thí dụ trường hợp Trung quốc ra tuyên bố về vùng « Nhận diện phòng không » ngày 23-11-2013. Tuyên bố này phù hợp với công pháp quốc tế.

Một quốc gia nếu không lên tiếng phản đối, hay bảo lưu một điều nào đó trong tuyên bố (như chồng lấn vùng không gian, không chấp nhận việc đe dọa sử dụng vũ lực – theo điều 3 của Tuyên bố...) thì tuyên bố này tự động có hiệu lực.

Thái độ « im lặng » của VN sau khi TQ tuyên bố về lãnh thổ và hải phận của họ năm 1958, có nghĩa là sự « đồng ý ám thị », một hình thức thụ động của nguyên tắc « acquiescement ».

Một số hành vi khác củng cố thái độ « đồng thuận » của VN (về chủ quyền của TQ tại HS), điều này học giả Monique Chemillier-Gendreau đã nhắc tới. Đó là các bài viết trên báo Nhân Dân vào thập niên 60 nhìn nhận vùng biển Hoàng Sa (mà Đệ thất hạm đội của Mỹ đang hoạt động) thuộc về TQ. Hoặc các bản đồ do Bộ Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam xuất bản năm 1960 (trên đó quần đảo Nam Sa – tức Trường Sa - được đánh dấu là lãnh thổ Trung Quốc). Hay bản đồ do Cục Bản đồ Việt Nam xuất bản năm 1972, trong đó quần đảo Nam Sa được chú thích bằng tiếng Hoa, chứ không phải bằng tiếng Việt, tiếng Anh hay tiếng Pháp.

Thêm vào đó là các tài liệu (sách giáo khoa), bản đồ do VN xuất bản mà phía TQ vừa công bố mới đây, theo đó Tây Sa và Nam Sa thuộc Trung Quốc.

Thái độ khác, quan trọng hơn cả là sự « im lặng » của VNDCCH vào tháng giêng năm 1974 khi Trung quốc dùng vũ lực xâm lăng Hoàng Sa của VN.

Sự im lặng của VNDCCH được hiểu là « đồng ý ám thị » hành vi của Trung quốc là chính đáng. Mặt khác, các bên VNDCCH và MTGPMN từ chối ký tên vào bản tuyên bố phản đối TQ do phía VNCH đề nghị.

Các điều này kết tinh, đồng thời củng cố, yếu tố « acquiescement - đồng thuận » của VN về các đòi hỏi về danh nghĩa chủ quyền của TQ tại HS và TS.

Như vậy lập luận có hai quốc gia Việt Nam là một điều phiêu lưu và nguy hiểm. Ta không ngạc nhiên khi phía TQ dẫn công hàm 1958 của ông Phạm Văn Đồng ra trước diễn đàn quốc tế LHQ.

Mặt khác, khi lập luận « Người ta không thể từ bỏ về cái mà người ta không có thẩm quyền », là nhìn nhận quốc gia VNDCCH chưa bao giờ có chủ quyền ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Câu hỏi đặt ra, bằng cách nào quốc gia CHXHCNVN hôm nay có chủ quyền ở hai quần đảo này ? Bằng cách « kế thừa » từ quốc gia VNCH ? Hoàng Sa bị TQ chiếm trên tay VNCH tháng giêng năm 1974, làm sao có thể kế thừa một vật đã bị mất ?

Một câu hỏi (chính đáng) đã đặt ra, từ những lần bàn luận trên Facebook : anh đã giết chết người ta thì anh có tư cách gì để kế thừa người ta ?

Từ « giết chết » sử dụng ở đây có thể không phù hợp, nhưng thực tế lịch sử giữa hai thực thể VNCH và VNDCCH, từ năm 1959 đến 1975, đã thể hiện trong chiều hướng như vậy.

học giả lập luận rằng sau 1975 chính phủ CHMNVN kế thừa VNCH. Kế thừa ở đây là kế thừa « chính phủ » với « chính phủ ». Trước đây 40 năm thì người ta có thể lập luận như vậy. Hôm nay, chỉ cần bấm các chữ MTGPMN (viết tắt) trên google thì cũng sẽ hiện ra các nguồn dẫn nói về Mặt Trận Dân tộc giải phóng Miền nam. Theo đó người ta biết rằng Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam được khai sinh ngày 20-12-1960, theo nghị quyết của của Đại hội đảng toàn quốc lần thứ ba của đảng CSVN (lúc đó là đảng Lao Động), do bộ Chính trị đảng CSVN và Trung ương cục miền Nam lãnh đạo.

Tức là CHMNVN chỉ là một « con đẻ » không thể tách rời của VNDCCH mà phía Trung Quốc là « bà mụ » đỡ đẻ. Nó không thể gọi là một « chính phủ » trên danh nghĩa pháp lý, vì nó bị « giật dây », nếu không nói là cánh tay nối dài của VNDCCH.

Giả sử vấn đề tranh chấp được giải quyết bằng một trọng tài quốc tế, trước Tòa, làm thế nào phía VN thuyết phục Tòa rằng CHMNVN (một bộ phận không tách rời của VNDCCH) « kế thừa » VNCH ?

Nhưng cũng thử giả sử rằng VN « qua mặt » được Tòa, chính phủ CHMNVN kế thừa danh nghĩa chủ quyền Hoàng Sa từ VNCH một cách tốt đẹp.

Xét lại các văn bản ngoại giao sau 1975, quốc gia CHXHCNVN « tiếp nối » quốc gia VNDCCH. Vấn đề là quốc gia CHXHCNVN làm thế nào cùng lúc kế thừa hai lập trường đối nghịch : lập trường nhìn nhận chủ quyền HS và TS thuộc TQ của VNDCCH và lập trường đối kháng của VNCH ?.

  1. Có người lại kêu gọi nhà nước VN hôm nay « công nhận » VNCH như là một « quốc gia ».
Việc « công nhận quốc gia » là quan trọng trong quan hệ quốc tế, vì nó xác định sự hiện hữu (tư cách pháp nhân) một quốc gia trên sân khấu quốc tế. Thủ tục công nhận thể hiện bằng việc « thiết lập bang giao », qua các việc trao đổi lãnh sự, ký kết các hiệp ước, hay bằng một tuyên bố đơn phương giữa các quốc gia. Việc công nhận quốc gia là các bên chấp nhận các yếu tố đặc thù về công dân, về lãnh thổ và về chính phủ của các bên.

Trên tinh thần này thì nhà nước VNDCCH, tức nhà nước tiền nhiệm của CHXHCNVN, chưa bao giờ « công nhận » sự hiện hữu của VNCH (chưa nói đến việc VNCH có là « quốc gia » hay không). Hai miền Nam, Bắc là hai đối thủ thù nghịch nhau trong cuộc nội chiến 54-75, chưa bao giờ có thiết lập quan hệ ngoại giao mà chỉ có đối đầu bằng súng đạn.

Mặt khác, nước CHXHCNVN cũng không thể bây giờ mới « công nhận » VNCH là một quốc gia. Đơn giản vì người ta không thể công nhận cái đã không còn hiện hữu.

Kêu gọi nhà nước VN hôm nay « công nhận » VNCH là quốc gia thì cũng như việc kêu gọi Bắc Kinh công nhận Đài Loan là « quốc gia ».

Nhiều người so sánh tình trạng pháp lý của quốc gia VN (từ 1954-1975) tương tự như trường hợp Nam, Bắc Hàn, Đông Tây Đức.

Trường hợp hai miền Nam và Bắc Triều Tiên cùng gia nhập LHQ cuối năm 1991, theo đề nghị của Gorbachev, vì chiến tranh lạnh chấm dứt. Cộng đồng quốc tế có thói quen xem hai miền là hai « quốc gia », nhưng thực tế không phải vậy. Hai xứ này cùng gia nhập LHQ trên tinh thần của Kết ước « Hòa giải và hợp tác » ký giữa hai miền ngày 13-12-1991. Lời mở đầu của kết ước khẳng định các quan hệ hai bên không phải là quan hệ giữa « quốc gia », mà chỉ là một quan hệ tạm thời trong tiến trình thống nhứt đất nước.

Tình trạng pháp lý của quốc gia Việt Nam bị phân chia thực ra gần gũi với trường hợp giữa Trung Quốc lục địa với Đài Loan. Hội nghị San Francisco lấy lại Đài Loan từ Nhật và giao trả lại cho Trung Hoa. Đài Loan vì vậy là một « vùng lãnh thổ » của quốc gia Trung Hoa. Hiệp định Genève 1954 phân chia VN thành hai miền : VNDCCH ở miền bắc và VNCH ở miền Nam. Cả hai cùng thuộc về một quốc gia Việt Nam duy nhất.

Nếu Bắc Kinh không thể « công nhận » Đài Loan là « quốc gia » thì VNDCCH (lúc đó) cũng không thể « công nhận » VNCH là « quốc gia » được.

  1. Việc lựa chọn quan điểm có « hai quốc gia Việt Nam » đã đặt hồ sơ pháp lý của VN vào thế kém. Trong khi, trên phương diện lịch sử, ta có thể có một sự lựa chọn tốt hơn.
Trở lại lập trường của Hoa Kỳ. Lập trường này chủ trương có hai quốc gia VNCH và VNDCCH là hai quốc gia độc lập có chủ quyền.

Chiến tranh của người Mỹ tại Việt Nam được kết thúc qua Hiệp định Paris 1973. Người Mỹ đã thất bại, vì đã không thể giúp VNCH trở thành một quốc gia độc lập có chủ quyền, cũng không thể biến cuộc “nội chiến” thành cuộc “chiến tranh đa quốc gia”. Cuối cuộc chiến, chỉ có một mình Hoa Kỳ ở lại. Thế giới lúc đó hầu như đồng loạt lên án Hoa Kỳ về việc tham dự cuộc chiến.

Nội dung Hiệp định Paris 1973 khẳng định lại hiệu lực Hiệp định Genève 1954: “Việt Nam là nước độc lập, toàn vẹn lãnh thổ, có chủ quyền và thống nhất”.

Tức là, người Mỹ đã hoài công xây dựng một nước VNCH độc lập, có chủ quyền, liên tục (tính gọn) từ 1954 đến 1973.

Sau khi hiệp định được ký kết, phía VNDCCH tiếp tục chiến tranh như Mỹ không thể trở lại. Lý do : đã nhìn nhận VN là một nước độc lập, có chủ quyền. Chiến tranh VN vì vậy trở thành cuộc nội chiến. Việt Nam được thống nhất theo « phương cách » của nó. Hoa Kỳ không còn lý do để can thiệp.

Dầu vậy, phía Hoa Kỳ “vớt vát” được một điều trong Hiệp định Paris: Dân miền Nam giữ được quyền “dân tộc tự quyết”. Điều này được đưa vào thực sự không có ý nghĩa lớn lao, như nhằm bảo vệ sự “chính đáng” của Hoa Kỳ khi tham dự vào cuộc chiến. Hiệp định Paris 1973 là cái cớ để “đồng minh tháo chạy” trong danh dự. Thì cái gọi là quyền “dân tộc tự quyết” của “dân tộc miền Nam” có thể chỉ là một “thủ thuật pháp lý”, phòng ngừa sau này lấy cớ chính đáng để “khi đồng minh trở lại”.

Thật vậy, giả sử dân tộc miền Nam đồng lòng đứng lên “đòi quyền tự quyết” (như trường hợp Kossovo hay Crimée), thì Hoa Kỳ có thể bị “ràng buộc” bởi Hiệp định Paris 1973 để vào can thiệp.

Việc hô hào « công nhận » VNCH đã là một « quốc gia » vì vậy sẽ mở đường cho nhiều giả thuyết bất lợi về sau, như miền Nam (VNCH cũ) có thể ly khai, tuyên bố độc lập. Đây là điều không người VN nào mong muốn.

  1. Lập trường một quốc gia Việt Nam duy nhất.
Trên phương diện thực tế và lịch sử, 20 tháng 7 năm 1954, hiệp định Genève quyết định phân chia quốc gia VN thành hai miền tại vĩ tuyến 17. Hiệp định nhấn mạnh việc phân chia chỉ tạm thời, đường vĩ tuyến 17 trong bất kỳ trường hợp nào, không thể xem đó là đường biên giới phân định lãnh thổ hay chính trị. Hai miền Nam và Bắc lần lượt mang tên Việt Nam Cộng Hòa và Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Nội dung Hiệp định Genève xác nhận VN là một nước « độc lập, toàn vẹn lãnh thổ, có chủ quyền và thống nhất ».

Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, do ở phía nam vĩ tuyến 17, do đó thuộc quyền quản lý của VNCH.

Hiệp định Paris năm 1973 xác định lại nội dung hiệp định Genève 1954 : « Hoa Kỳ và các nước khác tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam như Hiệp định Genève 1954 về Việt Nam đã công nhận. »

Cả hai hiệp định này đều được bảo trợ của Trung Quốc, cũng như các cường quốc Mỹ, Anh, Pháp…

Năm 1956 VNCH công bố Hiến pháp, điều 1 khẳng định : VN là một nước cộng hòa, độc lập, thống nhất và bất khả phân. Về phía VNDCCH, Hiến pháp 1946, điều 2 xác định VN là một khối thống nhất bắc, trung, nam không thể phân chia. Hiến pháp 1959, những dòng đầu đã khẳng định VN là một nước thống nhất từ Lạng sơn đến Cà Mau.

Cả hai miền như vậy đều tôn trọng nội dung hiệp định Genève 1954 : Việt Nam là một quốc gia thống nhất (ba miền) độc lập và có chủ quyền.

Điều này thể hiện lên thực tế. Trong khoảng thời gian từ 1954 đến 1973, không có bất kỳ quốc gia nào trên thế giới nhìn nhận sự hiện hữu của hai quốc gia Việt Nam. Khối Tư bản nhìn nhận VNCH là đại diện của nước Việt Nam duy nhất. Khối XHCN công nhận VNDCCH là đại diện nước VN duy nhất. Nước này nhìn nhận phía này thì không nhìn nhận phía kia, hay ngược lại.

Tức là, trên thế giới chỉ hiện hữu một quốc gia VN duy nhất. Hai thực thể VNCH và VNDCCH, nói theo ngôn ngữ công pháp quốc tế, là hai « quốc gia chưa hoàn tất – Etat partiel ».

Thời điểm phát xuất công hàm 1958 của cố TT Phạm Văn Đồng, phía VNDCCH vẫn còn có nguyện vọng thống nhất đất nước. Nhiều lần phía VNDCCH hối thúc VNCH, cho đến năm 1960, thương nghị giữa hai miền để tiến tới thống nhất Việt Nam theo nội dung của Hiệp định Genève 1954.

Như vậy, trên quan điểm công pháp quốc tế, nước VN chỉ có một, thống nhất ba miền, toàn vẹn lãnh thổ, độc lập, có chủ quyền.

Trên tinh thần đó, bất kỳ các tuyên bố, các hành vi đơn phương của một bên (VNCH hay VNDCCH), như công hàm 1958 của Phạm Văn Đồng, cũng như một số các hành vi khác của VNDCCH trong khoảng thời gian 1954-1976 (có thể diễn giải là hành vi từ bỏ chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa), vì đe dọa đến việc toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, đi ngược lại nội dung các hiệp định quốc tế 1954 và 1973, do đó chúng đều không có giá trị pháp lý.

Tức là công hàm 1958 của cố TT Phạm Văn Đồng được hóa giải một cách dễ dàng, đúng theo tinh thần trọng luật của công pháp quốc tế, phù hợp với trình tự lịch sử.

Về vấn đề kế thừa, hai thực thể chính trị VNCH và VNDCCH chỉ là hai miền thuộc về một quốc gia Việt Nam duy nhất, việc kế thừa lại là việc « nội bộ » của quốc gia, không thuộc phạm vi công pháp quốc tế. Danh nghĩa chủ quyền của VN tại HS và TS do đó được giữ liên tục, từ thời các vua chúa VN, sang đến thời thuộc Pháp, thuộc Nhật, hay đồng minh quản lý, cuối cùng chuyển sang VNCH sau đó là VN hôm nay.

  1. Vấn đề kiện tụng.
Kiện tụng là một việc phiêu lưu, VN có thể thắng, có thể thua. Phía TQ bảo lưu ở LHQ sẽ không chấp nhận bất kỳ một trọng tài nào giải quyết tranh chấp lãnh thổ (hay những vấn đề liên quan đến lãnh thổ). Không gian pháp lý của VN rất là hẹp. Các học giả, luật gia VN cần phải tìm ra giải pháp kiện thế nào để vừa không bị tòa bác đơn do các bảo lưu của TQ, vừa không bị thua kiện do hồ sơ quá yếu.

Cá nhân tôi đã có một đề nghị đã công bố, ghi lại ở đây :

VN đệ đơn đề nghị Tòa Công lý Quốc tế (CIJ) tuyên bố một số điều :

-      Việc chiếm hữu một lãnh thổ bằng phương pháp vũ lực là vi phạm các nguyên tắc cơ bản của LHQ.
-      Việc chiếm hữu các đảo ở Trường Sa (lập danh sách chi tiết các đảo) năm 1988 bằng vũ lực không đem lại cho Trung Quốc danh nghĩa chủ quyền.
-      Việc chiếm hữu quần đảo Hoàng Sa tháng giêng năm 1974 bằng vũ lực không đem lại cho Trung Quốc danh nghĩa chủ quyền.

Ba điều yêu cầu Tòa tuyên bố hoàn toàn thuộc về quyền của quốc gia Việt Nam, là thành viên các công ước và các nguyên tắc cơ bản của LHQ. Đồng thời việc giải thích nội dung các điều ước quốc tế thuộc thẩm quyền của Tòa CIJ. (Các điều ước quốc tế liên quan gồm : Công ước Drago-Porter 1907, Hiến chương LHQ điều 2 khoản 4 ngày 26-6-1945, hay Tuyên bố của Đại hội đồng LHQ 18-11-1987). Đặc biệt các yêu cầu này không liên quan đến các bảo lưu của TQ về việc phân giải tranh chấp chủ quyền bằng trọng tài quốc tế.

Mục đích việc yêu cầu Tòa tuyên bố, nếu thành công (điểm 3), sẽ đưa quần đảo Hoàng Sa (không có tranh chấp, theo TQ) vào tình trạng « có tranh chấp ». 

Nếu VN thua, tức Tòa không tuyên bố (không có ý kiến), thì VN cũng không có gì để mất. Trong vụ yêu cầu Tòa tuyên bố này không hề nói đến chủ quyền các đảo (HS và TS) là của ai, mà chỉ nói đến việc nhìn nhận hay không nhìn nhận, danh nghĩa chủ quyền nếu việc chiếm hữu thực hiện bằng vũ lực.

Còn nếu thắng (sác xuất thắng là rất cao), VN được nhiều thứ.

Theo tập quán quốc tế, « đất thống trị biển ». Nếu các đảo Hoàng Sa là lãnh thổ « có tranh chấp » thì vùng biển phát sinh từ nó cũng có tranh chấp. Tức vùng biển từ đảo Hải Nam đến Hoàng Sa là vùng biển có tranh chấp.

Theo thông lệ quốc tế, nếu lãnh thổ có tranh chấp, việc giải quyết thường là chia hai (hay cộng đồng khai thác), mỗi bên được một phần của lãnh thổ đó. Tức là, quần đảo HS có thể chia hai, thí dụ hai nhóm Nguyệt Thiềm và An Vĩnh. VN có thể nhận nhóm Nguyệt Thiềm (phía tây) và giao cho TQ nhóm An Vĩnh (phía đông). Hải phận sinh ra do quần đảo này do đó cũng sẽ chia hai.

Đó là cái lợi thứ nhất. 

Cái lợi thứ hai ở Trường Sa. Nếu tòa tuyên bố, thì TQ không có chủ quyền tại các đảo của VN tại TS. TQ sẽ không thể tuyên bố vùng « nhận diện phòng không » trong khu vực này được.

Cái lợi thứ ba, là VN dành được tính « chính đáng ». Nhiều người cho rằng các phán quyết của Tòa cũng không làm gì, nếu TQ không tuân thủ. 

Thực ra phán quyết của Tòa có tầm quan trọng rất lớn. VN có thể dùng các biện pháp để bảo vệ quyền lợi của mình. Việc « bảo vệ » ở đây mang tính tự vệ chính đáng, được hiến chương LHQ công nhận.

Đây là một việc làm ít tốn kém, đáng lẽ không cần phải đưa ra một tổ hợp luật sư nào. Tuy nhiên, để nắm chắc phần thắng, đơn không bị bác do lỗi thủ tục, VN nên thông qua một tổ hợp luật sư chuyên môn ở HK.







[i] Monique Chemillier-Gendreau – La Souveraineté sur les Archipels Paracels et Spratleys – NXB Harmattan 1996, page 123.
[ii] Monique Chemillier-Gendreau, sdd, tr 123.