vendredi 17 avril 2015

Việt Nam không có cách ứng phó hữu hiệu ở Biển Đông.

Quan chức Mỹ vừa lên tiếng phê bình : Việt Nam chưa có cách ứng phó hữu hiệu ở Biển Đông.

TQ chiếm trọn quần đảo Hoàng Sa của VN năm 1974, tính đến nay là 41 năm. TQ chiếm 7 bãi đá thuộc Trường Sa của VN năm 1988, đến nay là 27 năm. Còn đường chữ U (chín, mười, hay mười một gạch… chi đó) của TQ, có nơi chỉ cách bờ biển VN khoảng 50km, dành 80% Biển Đông, đã công bố ít nhứt là hơn ½ thế kỷ. Với bấy nhiêu thời gian đó mà VN vẫn không xây dựng nổi một đối sách bảo vệ vùng biển của mình. Lời phê bình của viên chức người Mỹ tố cáo lãnh đạo VN có vấn đề.

Trước hết là tầm nhìn. Lãnh đạo VN trước nay xuất thân từ nông dân, phu đồn điền... đa phần là thất học. Kinh tế mấy mươi năm sau chiến tranh vẫn còn loay hoay với việc nuôi con gì, trồng cây gì. Làm lãnh đạo như vậy là tầm nhìn không xa hơn thửa ruộng. Bây giờ làm kinh tế thị trường. Toàn bộ nhân sự lãnh đạo, theo lời tố cáo của chính họ, tất cả đều hủ bại. Chính họ thú nhận mình là những con sâu.

Thử xem trường hợp người đứng đầu quốc phòng. Ông này có lẽ rành chuyện sân golf hơn chuyện binh thư, nhanh nhẹn trong việc thăng tướng cho sĩ quan hơn chuyện điều binh. Những cuộc diễn binh nhân dịp ăn mừng ngày 30-4, những cuộc thao diễn của không quân, hải quân… cho thấy sự thiếu chuyên nghiệp (và bệ rạc) của quân đội. Khí tài vẫn là những thứ cũ xì của Nga từ thời chiến tranh lạnh. Vụ hai chiếc SU 22 bị rớt ở đảo Phú Quí hôm qua cho phép ta kết luận như vậy. Hải quân, cảnh sát biển cũng tệ hại không kém. Gặp lúc hữu sự ta mới thấy tình trạng thiếu thốn của quân đội VN. Vụ giàn khoan 981 vào tháng 5-2014 cho ta thấy ngôi nhà Việt Nam đã rách nát. Để chống lại với đoàn tàu hải giám của TQ, VN phải hô hào ngư dân làm « cảm tử quân », dùng những chiếc tàu gỗ mong manh của ngư dân để đối chọi với tàu sắt của TQ.

Đến nước chót nhà nước VN phải muối mặt ngữa tay xin viện trợ (kẻ thù cũ) Nhật, Mỹ để họ bố thí cho những chiếc tàu tuần duyên (đồ đã qua sử dụng) cho lực lượng cảnh sát biển.

Người ta có quyền đặt vấn đề : Dầu hỏa khai thác mấy mươi năm nay, hàng trăm tỉ đô la, đã đi đâu ?. Kiều hối gởi về hàng năm trên chục tỉ đô la, đã dùng vào việc gì ? Đã biết tham vọng của TQ từ sáu bảy chục năm nay. Đã từng là nạn nhân của TQ nhiều lần trong các vụ xâm lăng lãnh thổ, xâm lấn hải phận. Đã từng nhiều lần bị TQ đặt giàn khoan trong thềm lục địa. Từng nhiều lần bị TQ cho gọi thầu khai thác những lô dầu khí trên thềm lục địa của mình... Đâu phải là không có những dấu hiệu báo trước ? Vậy làm sao ta có thể chấp nhận tình trạng bệ rạc của lực lượng hải quân, không quân VN như vậy được ?.

Lãnh đạo VN thiếu tầm nhìn nhưng dư thừa lòng tham. Tiền bạc, của cải của đất nước, thay vì dùng để mua sắm, trang bị khí tài, cải thiện đời sống chiến sĩ để bảo vệ lãnh thổ… thì lại chui vào túi riêng, cho vào những cuộc ăn chơi xa hoa, trác tán của quí vị lãnh đạo.

Nhớ lúc xưa đứng cùng phe với TQ, LX hung hăng đánh Mỹ : còn cái lưng quần cũng đánh.

Nhưng đánh cho ai, để làm cái gì ? « Đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, cho Trung Quốc » là câu trả lời của lãnh đạo CSVN.

Đất nước tan hoang vì chiến tranh. Dân tình ly tán vì chiến tranh. Để lại hơn 4 triệu nạn nhân chiến tranh. Cái giá của chiến tranh quá sức lớn lao. Hệ quả của chiến tranh 4 thập niên qua vẫn chưa giải quyết hết. Nhưng nếu để thực sự bảo vệ đất nước thì đâu ai nề hà việc hy sinh ? Bây giờ lãnh đạo CSVN đã rơi mặt nạ, cũng như TQ đã rơi mặt nạ. Những hy sinh, đổ vỡ của dân tộc, của đất nước… là bổn phận của lãnh đạo CSVN phải đóng góp cho TQ, cho Liên Xô, dưới chiêu bài « nghĩa vụ quốc tế ». Lãnh đạo CSVN đã để lộ ra bộ mặt làm tay sai. TQ để lộ ra bộ mặt của tên bành trướng. Tất cả các chủ thuyết mác xít, chủ nghĩa quốc tế, những lý tưởng cộng sản… nghe qua rất êm tai kia, thực sự chỉ là phương tiện để các nước cộng sản đàn anh can thiệp vào nội bộ các nước chư hầu nhằm phục vụ cho lợi ích riêng tư của quốc gia, dân tộc họ.

Bây giờ thì sáng mắt, phải nhục nhã năn nỉ Mỹ, xin bỏ lệnh cấm vận (vũ khí sát thuơng), xin xỏ từ chiếc tàu phế thải.

Vậy mà những ngày kề cận 30-4, báo chí, truyền hình trong nước vẫn chỉ ra rả những chiến công lẫy lừng, ca ngợi cuộc chiến thần thánh « đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào ». Chỉ có người vô liêm sỉ mới có thái độ hai mặt, lật lọng như thế.

Trong khi nhu cầu liên kết với Mỹ, không phải để chống Trung Quốc, mà chỉ để dựa vào bảo vệ quyền lợi của đất nước, là điều cần thiết hơn bao giờ hết. Nếu VN có một sách lược đứng đắn về an ninh, quốc phòng, những hàng đầu tiên là phải liên minh với Mỹ. Từ xưa đến nay, kinh nghiệm lấy từ lịch sử thành hình các quốc gia trên thế giới cho thấy việc dựa vào kẻ mạnh, kết bạn với kẻ mạnh… luôn là vũ khí hữu hiệu của kẻ yếu để tự bảo vệ lấy mình.

Hành vi tuyên truyền của đảng CSVN là dấy lại quá khứ, thắp lại lòng hận thù chống Mỹ. Không biết họ làm vậy là nhằm mục đích gì ?

Sách lược dựng nước và bảo vệ đất nước không có, lãnh đạo chỉ có lòng tham và cái quá khứ làm tay sai. Họ ra sức tuyên truyền là để khỏa lấp cái quá khứ làm tay sai, hủy hoại đất nước. Tinh thần binh sĩ chiến đấu cao đến đâu, với lãnh đạo như vậy, với khí tài như vậy, cũng phải bó tay chịu chết mà thôi. 

Nhưng khủng hoảng Biển Đông, sách lược của VN không chỉ bao gồm răn đe quân sự, mà còn ở sức mạnh của lý lẽ, của nền tảng pháp lý. Vấn đề Biển Đông bắt nguồn từ tranh chấp lãnh thổ, hải phận. Tức là, ngoài các vấn đề thuộc an ninh quốc phòng, còn có hồ sơ pháp lý (bao gồm lịch sử, luật pháp quốc tế v.v…)

Nhận xét cho rằng « Việt Nam chưa có cách ứng phó hữu hiệu ở Biển Đông », vì vậy bao hàm luôn vấn đề pháp lý. Khi nói lãnh đạo VN có vấn đề thì cũng phải nói học giả Việt Nam có vấn đề.

Việt Nam đến hôm nay vẫn không xây dựng được một hồ sơ pháp lý vững chắc, có thể thuyết phục dư luận thế giới. Các nước người ta lên tiếng bênh vực VN, như Hoa Kỳ, Nhật… là do sự ngang ngược của TQ, là để bảo vệ quyền lợi quốc gia họ ở Biển Đông, chứ không hề do sự thuyết phục của hồ sơ chủ quyền của VN tại Hoàng Sa và Trường Sa.

Sự thê thảm trong hồ sơ pháp lý của VN đến từ sự ngụy biện (chuyên nghiệp) của học giả VN chuyên về Biển Đông. Dĩ nhiên ngoại lệ một vài vị hiếm hoi có vừa có kiến thức, vừa có lương tâm và tinh thần khoa học.

Điểm yếu trong hồ sơ chủ quyền của VN, mọi người đều có thể tham khảo ở các tuyên bố, các công hàm… chính thức của TQ công bố trước diễn đàn LHQ trong thời gian gần đây. Tất cả tập trung ở hai điểm : 1/ công hàm 1958 của ông Phạm Văn Đồng và 2/ các bản đồ do VNDCCH ấn hành. Cả hai « bằng chứng » này không chỉ được phía nhà nước và học giả TQ lập đi lập lại nhiều lần, chúng còn được ghi lại trong nhiều tập sách của học giả nước ngoài (nghiên cứu về Biển Đông).

Hầu hết những nỗ lực của học giả VN, từ trước đến nay, đều nhằm vào việc « hóa giải » hiệu lực công hàm 1958 của Phạm Văn Đồng. Một số nại những « bằng chứng » từ các bản án, những phán quyết của Tòa Án quốc tế. Nhưng khi tôi « rà soát » lại, thì thấy rằng phần lớn đã diễn giải sai nội dung, không đúng ý nghĩa ở các phán quyết của Tòa. Có thể họ sai do sơ ý lúc dịch thuật. Cũng có thể sai do chưa hiểu hết ý nghĩa nền tảng của các lý thuyết luật học (như Estoppel, Acquiescement). Các tác phẩm nghiên cứu của họ chỉ có thể « ru ngủ » người dân trong nước chứ không thể thuyết phục dư luận nước ngoài.

Điều thê thảm của (nền học thuật VN) là những người đi sau, thay vì nỗ lực nghiên cứu, đã chỉ đơn thuần cóp py từ người này sang người khác. Chỉ cần người đi trước sai là hàng loạt người đi sau lặp lại y chang cái sai của người đi trước. Ta thấy những điểm sai từ những học giả đi đầu như Lưu Văn Lợi, Từ Đặng Minh Thu, Nguyễn Hồng Thao… đã được nhắc lại ở các « học giả » đi sau.

Tức là, học giả VN đã chỉ làm công tác tuyên truyền, giúp cho nhà nước VN ru ngủ người dân, bịt mắt người dân trước những hành vi « bán nước » của đảng CSVN.

Đó là ta không nhắc đến các việc giải thích sai nội dung các công ước quốc tế (như trường hợp Vũ Quang Việt và Tạ Văn Tài) nói về hiệu lực các kết ước quốc tế.

Có người (nhóm người), vì muốn « hóa giải » công hàm Phạm Văn Đồng, đã lên tiếng yêu cầu nhà nước VN « nhìn nhận » VNCH (đã) là một quốc gia. Lập luận của họ, vì VNCH và CNDCCH là hai « quốc gia độc lập có chủ quyền », các tuyên bố của bên này (VNDCCH) sẽ không ảnh hưởng gì đến lãnh thổ do bên kia quản lý. Đây cũng chỉ là ngụy biện nhưng tầm tác hại có thể vô biên. Tôi đã lên tiếng cảnh báo rằng, nếu nhà nước VN làm điều này thì muôn đời cháu con VN sẽ vô phương lên tiếng đòi lại Hoàng Sa và Trường Sa.

Đến nay sự ức hiếp của TQ đã vượt mọi giới hạn. Trong một bài viết trước đây tôi đã cảnh báo rằng việc TQ xây dựng các bãi đá tại Trường Sa (mà họ chiếm của VN năm 1988), đe dọa an ninh và toàn vẹn lãnh thổ của VN. Nhiều lần tôi đã lên tiếng khuyến cáo nhà nước VN phải kiện TQ, với những đề nghị hợp lý, khả thi. Đó lý ra phải là một « đối sách » của VN trước sự hung hăng của TQ. Nhà nước VN thủ khẩu như bình. Kết quả chuyến đi của ông Trọng (chầu Bắc Kinh) vừa rồi cho ta thấy điều này.

Nước đã dâng đến cổ. Cấp bách dến mức các nghị sĩ, các học giả, viên chức Hoa Kỳ phải nóng ruột lên tiếng cho VN. Trong khi học giả VN vẫn tiếp tục ngụy biện. Có người vừa qua lên BBC cho rằng vì VNCH làm mất Hoàng Sa nên gây khó khăn trong việc đòi lại.

Vậy thử hỏi, các bãi đá ở Trường Sa như Chữ Thập, Gạc Ma, Tư Nghĩa, Gaven, Châu Viên, Subi…  mất vào năm 1988, do nhà nước VN hiện nay làm mất, việc đòi lại cũng đâu có dễ dàng hơn ?

Do đó mất nước, nếu xảy ra, là do tầm nhìn của lãnh đạo. Mà theo thói quen quốc tế, chiến lược bảo vệ và phát triển quốc gia được thành hình và hoàn thiện theo thời gian, trong đó sự đóng góp của học giả là nền tảng. Như vậy mất nước, nếu xảy ra, cũng là do lớp học giả, trí thức VN.

Một điều quan trọng khác, cho trường hợp VN, là các cơ quan truyền thông trong nước đều do nhà nước quản lý. Do đó không hiện hữu việc « phản biện » giữa các học giả, trí thức… trên các vấn đề của đất nước. Truyền thông nước ngoài, (trên danh nghĩa) đứng ngoài vòng kiểm soát của đảng CSVN. Nhưng cũng có thành phần (như BBC) có lề lối làm việc và cách hành sử như truyền thông trong nước. Họ cũng chỉ « phát thanh » một chiều. Trong những vấn đề quan hệ đến đất nước, họ không chấp nhận « tiếng nói khác ». Truyền thông như vậy cũng để "ru ngủ" mà thôi.

Vì vậy mất nước, nếu xảy ra, là do mình. Mình chỉ tiếp tay cho Trung Quốc dễ dàng làm việc đó mà thôi.


mercredi 15 avril 2015

Đôi điều với Thạc Sĩ Hoàng Việt về bài phỏng vấn trên BBC…


1/ Về ngôn từ, Quân đội Nhân dân Việt Nam đã « giải phóng » hay « giành quyền kiểm soát » Trường Sa ?

Báo chí trong nước, từ nhiều năm nay, vẫn luôn đăng tải bài viết về kế hoạch « giải phóng » Trường Sa của đại tướng Võ Nguyên Giáp. Năm nay vẫn không ngoại lệ. Theo đó ta biết rằng kế hoạch của Võ Nguyên Giáp « giải phóng Trường Sa » qua văn thư số 990B/TK của ông gởi Võ Chí Công và Chu Huy Mân ngày 4-4-2014. Mọi người có thể kiểm chứng ở các báo mạng Công an Nhân dân, Vnexpress, vietnamnet, doisongphapluat…

Bài phỏng vấn mở đầu bằng câu « Tháng Tư năm nay đánh dấu 40 năm ngày Quân đội Nhân dân Việt Nam mở chiến dịch giành quyền kiểm soát quần đảo Trường Sa và các đảo trên Biển Đông từ tay chính quyền Việt Nam Cộng Hòa. »

Thạc sỹ Hoàng Việt trả lời rằng : « Ngay từ trước đây báo chí đã đưa tin theo hướng là phe ta đã tấn công Việt Nam Cộng hòa và giành quyền kiểm soát Trường Sa. »

Như vậy giữa hai bên : báo chí trong nước, với BBC và TS Việt, đã có sự khác biệt trong việc sử dụng ngôn từ. Báo chí trong nước gọi ngày 4-4-1975 là ngày « giải phóng Trường Sa ». BBC và TS Việt gọi là ngày « phe ta đã tấn công Việt Nam Cộng hòa và giành quyền kiểm soát Trường Sa ».

Người ta gọi hành vi « giải phóng » (một nhóm dân chúng, một vùng lãnh thổ) là hành vi giải thoát nhóm dân chúng (hay vùng lãnh thổ) đó thoát khỏi sự thống trị của ngoại bang (hay sự kềm kẹp của một thế lực bạo tàn phi chính thống). Từ « giải phóng » là một ngôn từ chính trị, phân biệt rạch ròi địch - ta, chính – ngụy. Hành động « giành quyền kiểm soát » chỉ nói lên một cách chung chung sự xung đột (quân sự) của hai phe để tranh giành kiểm soát một vùng lãnh thổ (hay một nhóm dân chúng).
 
Sự khác biệt về cách sử dụng ngôn từ phản ảnh hai cách nhận thức về một sự việc.

Nhận thức của báo chí trong nước phản ảnh nhận thức chung của chế độ. Nhà nước CSVN hiện nay, sau 40 năm, vẫn còn « hồ hởi » ăn mừng « giải phóng Trường Sa », vẫn còn xem các chiến sĩ VNCH đóng giữ ngoài các đảo TS là « ngụy », một lực lượng « bù nhìn », tay sai cho ngoại bang.
  
Tôi nghĩ rằng nhận thức này sẽ là một bằng chứng giá trị cho phía Trung Quốc.

Cho rằng VNCH là một thực thể bù nhìn, ngụy, tay sai ngoại bang thì thẩm quyền quốc gia về lãnh thổ của VNCH tại Hoàng Sa, Trường Sa cũng như lãnh thổ miền Nam VN (dưới vĩ tuyến 17) là không có giá trị pháp lý (bất hợp pháp). Những hành vi « tuyên bố chủ quyền », « khẳng định chủ quyền »... của VNCH tại HS và TS sẽ không có giá trị pháp lý và lịch sử.

Tập hồ sơ « Sách trắng » về chủ quyền của VN tại HS và TS (do bộ Ngoại giao xuất bản) do đó phải đặt lại toàn bộ. Trên mọi phương diện, từ lịch sử đến pháp lý, tất cả những gì dính líu với VNCH (trong tập tài liệu đó) đều phải lấy ra hết. Việc kế thừa của VNCH ở các vùng lãnh thổ HS và TS từ các nhà nước phong kiến và nhà nước bảo hộ Pháp, cũng sẽ không còn ý nghĩa trước pháp luật. 

Như vậy hồ sơ chủ quyền của VN tại HS và TS, lịch sử và pháp lý, sẽ là con số không to lớn, phải không ?

Nhận thức của BBC và TS Việt như thế là « phi chính thống », đi ngược với cách nhận thức của nhà nước CSVN từ mấy mươi năm nay.

TS Việt cho đó là nhận thức của phe « cấp tiến » và phe này « đang ngày càng xuất hiện nhiều hơn ».

Thực tình tôi cũng hy vọng như vậy. Vì nếu nhà nước CSVN tiếp tục nhận thức VNCH là « ngụy », hành vi tiếp quản TS là « giải phóng TS », thì cuộc chiến pháp lý giữa VN và TQ nếu có xảy ra, VN sẽ không có  cách nào để thắng.

2/ Về nguyên nhân mất Hoàng Sa. TS Hoàng Việt nói : « Cái bất lợi là Việt Nam giữ được Trường Sa, nhưng đánh mất ở Hoàng Sa năm 1974, gây khó khăn cho việc đòi lại… Tôi không muốn đổ lỗi cho bên nào, nhưng thực tế là Hoàng Sa đã bị mất khi đang nằm dưới sự kiểm soát của Việt Nam Cộng hòa năm 1974. »

Mặc dầu rào trước đón sau « không muốn đổ lỗi cho bên nào », nhưng ai cũng thấy TS Việt có ý cho rằng vì VNCH làm mất HS nên mới « gây khó khăn cho việc đòi lại ».

Theo tôi thì từ 1975 đến nay,  nhà nước CSVN chưa bao giờ có thiện chí, hay biểu lộ ý chí muốn đòi lại Hoàng Sa.

Việc « đòi » lại một vùng lãnh thổ chỉ có thể thực hiện qua hai phương diện : pháp lý và sử dụng vũ lực. Mặc dầu từ trước đến nay có nhiều ý kiến của học giả VN khuyến cáo nhà nước kiện TQ trước Tòa quốc tế. Nhà nước vẫn thủ khẩu như bình, án binh bất động.

Vụ TQ đặt giàn khoan 981 hồi tháng 5 năm ngoái mở ra một cơ hội bằng vàng để VN đặt lại vấn đề Hoàng Sa (đã đông lạnh từ 4 thập niên) với TQ. VN có đủ lý cớ để kiện. Nhà nước CSVN đã không nắm lấy cơ hội đó. Sự im lặng đến mức « vang dội » của nhà nước VN đã khuyến khích cho TQ bước thêm những bước quan trọng khác ở các đảo đá (mà họ chiếm của VN năm 1988). Các đảo đá này đã và đang được TQ ráo riết bồi đắp. Không bao lâu nữa chúng trở thành những đảo nhân tạo có khả năng đặt các căn cứ quân sự như phi trường và hải cảng.

Khó khăn luôn hiện hữu trong mọi vấn đề quốc gia. Để giải quyết ta phải nhận diện được các « khó khăn » đó đến từ đâu ?

Một số hành vi đem lại « khó khăn » cho nhà nước VN ghi lại dưới đây, trong chừng mực làm cho VN hôm nay mất đi tư cách để đòi HS (và các vấn đề tranh chấp chủ quyền TS và hải phận biển Đông) trước một trọng tài quốc tế.

Công hàm 1958 của ông Phạm Văn Đồng (mặc nhiên) nhìn nhận chủ quyền của TQ tại HS và TS.

Thái độ « im lặng » của VNDCCH vào tháng giêng năm 1974, khi TQ sử dụng vũ lực chiếm HS.

Nhà nước VNDCCH phản đối đề nghị của phía VNCH hai bên cùng ký tên vào bản kiến nghị phản đối hành vi xâm lược Hoàng Sa của TQ lên LHQ.

Khi một thế lực ngoại bang xâm lăng vào lãnh thổ của mình, dĩ nhiên mình phải lên tiếng phản đối, phải không ? VNDCCH đã không làm điều đó. Điều này được xem là một bằng chứng chứng minh Hoàng Sa không thuộc chủ quyền của VN (theo quan điểm của VNDCCH).

Từ sau Thế chiến II, hành vi chiếm hữu một lãnh thổ bằng vũ lực bị cộng đồng quốc tế nghiêm cấm. Trong vụ Hoàng Sa, Liên Xô đã mạnh mẽ lên án hành vi của TQ tại LHQ, cũng như hầu hết các nước trong thế gới tự do (và nhiều nước trong khối XHCN).

Thái độ « im lặng » của nhà nước VNDCCH được tập quán quốc tế xem như là sự « đồng thuận » của nhà nước này về các hành vi của TQ. Nhà nước VNDCCH nhìn nhận những hành vi của TQ tại HS là chính đáng.

Những « khó khăn » (khiến nhà nước VN hôm nay mất tư cách đòi HS) là do VNDCCH và CHXHCNVN làm ra, chứ đâu phải do VNCH ?

VNCH đâu có xúi ông Phạm Văn Đồng viết công hàm 1958 nhìn nhận chủ quyền của TQ tại HS và TS ? Thái độ « im lặng » của VNDCCH là tự nguyện, chứ đâu do áp lực của VNCH ?

Khó khăn đòi lại Hoàng Sa là do nhà nước các nhà nước VN (hiện thời và tiền nhiệm) đã đánh mất tư cách của mình. Điều này lý ra TS Việt phải hiểu biết hơn tôi mới phải.

Về việc VNCH thua trận, để mất Hoàng Sa vào tay TQ. Ta không thể không nói tới bối cảnh « lịch sử » lúc đó.  

Năm 1973 Hiệp định Paris được ký kết, mở đường cho « đồng minh tháo chạy ». Một điều khoản quan trọng của Hiệp định Paris (nhắc lại điều khoản Hiệp định Genève 1954) là nhìn nhận VN là một nước độc lập, thống nhứt ba miền, toàn vẹn lãnh thổ. Từ điều khoản này, tất cả những gì xảy ra tại VN, sau khi Hiệp Định Paris ký kết, sẽ là vấn đề « nội bộ » của VN và Mỹ (sẽ không có tư cách) để can thiệp. Cuộc chiến Hoàng Sa vì vậy không còn liên quan đến người Mỹ nữa.  

Trong khi tình hình chiến sự vẫn không giảm áp lực. Các bên (VNCH, MTGPMN và VNDCCH) đổ lỗi cho nhau phía bên kia vi phạm lệnh ngưng bắn. VNCH tứ đầu thọ địch. Mức viện trợ của HK hứa cho VN bỗng trở nên « nhỏ giọt ». Lại còn thêm khủng hoảng dầu lửa thời đó, giá dầu tăng đột ngột gấp hai, ba lần.

Trong hoàn cảnh dầu sôi lửa bỏng, kinh tế kiệt quệ, một mình phải chiến đấu với ba bốn kẻ thù hung hãn, trong khi đồng minh đã « bội ước » chạy làng. Hải quân VNCH trong trận Hoàng Sa như vậy là «hiên ngang » lắm (so với hải quân QDNDVN năm 1988 tại TS), phải không ?.

Phải chi lúc đó (tháng giêng năm 1974), cả hai phía VNCH và VNDCCH cùng đánh lại quân xâm lược, hay ít nhứt VNDCCH cùng ký kiến nghị với VNCH phản đối hành vi xâm lăng Hoàng Sa của TQ thì bây giờ đâu đến đỗi hả miệng mắc quai, phải không TS Hoàng Việt ?

Vì vậy đổ lỗi việc mất Hoàng Sa cho một mình VNCH gánh chịu, theo tôi, là bất công với lịch sử ghê lắm.

3/ TS Hoàng Việt nói : « Một số học giả đã tranh luận rằng nên công nhận Việt Nam Cộng hòa là một quốc gia và điều này sẽ có lợi cho việc tiếp quản, thừa kế chủ quyền quốc gia trong vấn đề giải quyết tranh chấp ở Hoàng Sa Trường Sa hiện nay. »

« Một số học giả » mà TS Việt nói là các học giả thuộc nhóm « Quĩ Nghiên cứu Biển Đông » mà TS Việt là thành viên. Ý kiến « nhìn nhận VNCH là một quốc gia » đã từng đăng trên BBC (và nhiều trang thông tin khác trong và ngoài nước). Tôi là người (duy nhứt, hình như vậy) từ trước đến nay lên tiếng chống lại quan điểm này. Tuy nhiên, BBC cũng như các trang khác, chỉ đăng tải ý kiến một chiều, do đó không có việc « rộng đường đường dư luận ». Hy vọng là cơ hội đối thoại lần này các cơ quan truyền thông « chơi đẹp » một chút. Nghe người này nói qua thì cũng nên nghe người kia nói lại.  

Thứ nhứt, quí vị học giả giải thích giùm, bằng thủ tục (pháp lý) nào ta có thể « nhìn nhận » VNCH là (hay đã là) một « quốc gia » khi thực thể này đã không còn hiện hữu ?

Thứ hai, quí học giả thử tưởng tượng hôm nay Trung Quốc nhìn nhận  Đài Loan là « quốc gia ». Lục địa và Đài Loan là hai vùng lãnh thổ của một quốc gia bị phân chia, tương tự như hai bên VNCH và VNDCCH trước 1975. Cả hai bên cùng nhìn nhận dân tộc TQ (VN) là một, TQ (VN) là « quốc gia duy nhứt ». Mỗi bên được một số nước (tương đương) công nhận tại LHQ. Việc lục địa nhìn nhận Đài loan « là một quốc gia » là điều không thể xảy ra, phải không ? Vậy dựa trên cơ sở nào để công nhận VNCH là (hay đã là) một quốc gia ?

Thứ ba, Hiệp định Genève 1954, khải huyền hai miền VNCH và VNDCCH, nhìn nhận VN là một quốc gia độc lập, thống nhứt ba miền và toàn vẹn lãnh thổ. Hiệp định Paris cũng nhắc lại y chang nội dung như vậy. Làm sao các học giả có thể bất chấp các kết ước quốc tế, là nền tảng của quốc tế công pháp, để thực hiện một hành vi thuộc công pháp quốc tế (là nhìn nhận VNCH là một quốc gia) ?

Thứ tư, giả sử việc nhìn nhận VNCH là « quốc gia » không có trở ngại trên vấn đề pháp lý. Thì các học giả làm thế nào để quốc gia VNDCCH « kế thừa » quốc gia VNCH ? Gọi VNCH  là « ngụy », làm sao có thể kế thừa cái gì ở « ngụy » ? Người ta có thể « cướp » nó chứ không thể kế thừa.

Thứ năm, giả sử CHXHCNVN hiện nay « kế thừa » di sản VNCH không gặp khó khăn về pháp lý. Vấn đề là nhà nước CHXHCNVN hôm nay là quốc gia « kế tục » quốc gia VNDCCH. Nhà nước VN hôm nay phải có nghĩa vụ về những hành vi (pháp lý) của VNDCCH thể hiện trong quá khứ. Các học giả thử giải thích làm thế nào để một quốc gia có thể kế thừa cùng lúc hai lập trường đối nghịch về HS và TS ?

Vì vậy tôi cho rằng lập luận này của nhóm Quĩ Nghiên cứu Biển Đông (mà TS Việt là thành viên) sẽ đưa VN vào bế tắt. Đây là tình trạng của VN hiện thời.

Ý kiến của tôi về vấn đề Biển Đông và chủ quyền các quần đảo HS và TS (từ hơn thập niên nay) rất đơn giản : Hòa giải dân tộc VN và lập trường VN là một quốc gia duy nhứt.

Hòa giải dân tộc để nhà nước VN hôm nay có thể kế thừa di sản của VNCH. Vì chỉ đứng trên danh nghĩa của VNCH thì nhà nước VN hôm nay mới có tư cách nói về chủ quyền ở HS và TS.

Khẳng định lập trường VN là một quốc gia duy nhứt, theo tinh thần các hiệp ước nền tảng (Hiệp định Genève 1954 và Paris 1973). Theo đó VN là một quốc gia độc lập (độc lập còn có nghĩa là có chủ quyền), thống nhứt ba miền và toàn vẹn lãnh thổ. Trên tinh thần này, tất cả những hành vi, những tuyên bố của một bên, nếu đi ngược lại tinh thần hai hiệp định, đe dọa, hay làm tổn hại đến sự toàn vẹn lãnh thổ của VN... thì chúng không có giá trị.

Công hàm 1958 đơn thuần bị hóa giải. Tưng tự như các hành vi hay thái độ của VNDCCH trước kia về chủ quyền của VN tại HS và TS.


Vì vậy, cốt lõi của vấn đề là « hòa giải dân tộc ». Đến nay vẫn gọi VNCH là « ngụy » việc đòi lại HS, cũng như  bảo vệ TS cùng với hải phận của VN... xem ra còn khó hơn lên trời.

vendredi 10 avril 2015

Lợi ích gì khi VN tham gia vào dự án « Con đường tơ lụa trên biển » của Trung Quốc ?

Theo tin tức báo chí, VN vừa tham gia dự án « Con đường tơ lụa trên biển » của TQ. Câu hỏi đặt ra Việt Nam có lợi hay không khi tham gia dự án này ?
Dự án « Con đường tơ lụa trên biển » được Tập Cận Bình đề cập một cách sơ lược vào năm 2013. Dự án này chỉ mới bắt đầu thực hiện vài tháng nay, dự trù một ngân sách 40 tỉ đô la. Mục tiêu dự án là xây dựng hạ tầng cơ sở các hải cảng từ Biển Đông, qua Ấn Độ dương, thông qua biển Đỏ, kinh đào Suez, vào Địa Trung hải để tiếp cận các hải cảng của các nước Châu Âu.
Việt Nam tham gia dự án với hải cảng Hải Phòng là điểm nối đầu tiên. Mã Lai vừa  thỏa thuận với TQ để tham gia. Theo dự tính, trong khối ASEAN sẽ còn có mặt của Nam Dương.    
Dự án « Con đường tơ lụa trên biển » của TQ không thể tách rời dự án với các dự án đã thực hiện từ cuối thập niên 90 của thế kỷ trước, là dự án « Con đường tơ lụa trên bộ » cũng như dự án « Ngân hàng đầu tư hạ tầng cơ sở » vừa mới được thành hình vào tháng 3 vừa rồi.
Dự án « Con đường tơ lụa trên bộ » đã được thành hình từ khoảng thập niên 90 của thế kỷ trước, mục đích nối liền TQ với các nước Trung Á, Trung Đông để đến Châu Âu. Tức là mở lại con đường mà các doanh nhân Ả Rập ngày xưa đã mở ra để buôn bán tơ lụa giữa các nước Ả Rập với TQ, bao hệ thống đường sắt, gọi là « Bắc Kinh Express », nối liền các thành phố lớn TQ xuyên qua Tân Cương, để đến các thành phố lớn các nước Châu Âu. Ngoài ra còn có các dự án xây dựng hệ thống đường xa lộ. Đồng thời ta không thể quên dự án quan trọng khác là các ống dẫn dầu và khí đốt cũng được đặt trong cùng thời kỳ, từ khu vực biển Caspienne thuộc các nước Trung Á, dẫn năng lượng về đến Thuợng Hải.
Về « Ngân hàng đầu tư hạ tầng cơ sở » thì TQ đề xướng vào tháng 10 năm 2014, với số vốn là 50 tỉ đô la, được sự chấp thuận gia nhập hợp tác của nhiều nước trong G 7 như Anh, Pháp… vào tháng 3 vừa rồi. Ngân hàng này ra đời nhằm để hỗ trợ cho dự án « Con đường tơ lụa trên biển ». Việc xây dựng hạ tầng cơ sở các cảng biển cho đúng tiêu chuẩn quốc tế sẽ rất tốn kém.
Về mục đích, dự án « Con đường tơ lụa trên bộ » của TQ trước hết nhằm bảo đảm an ninh năng lượng chứ không nhằm xây dựng « trục kinh tế Âu-Á ». Sau đó mở các  hệ thống đường xá, xa lộ và đường xe lửa, nối tỉnh lục địa như Vân Nam, Quí Châu, Tân cương, (và Tây Tạng)… ra biển. Các tỉnh này rộng lớn gần bằng ½ lãnh thổ TQ nhưng rất kém phát triển. Hệ thống hạ tầng cơ sở này gồm hai mặt : đường xe lửa và đường xa lộ xuyên qua Miến Điện để ra Ấn Độ Dương ; mặt khác là mở lại đường xe lửa nối Côn Minh (thuộc tỉnh Vân Nam) với hải cảng Hải Phòng.
Về hệ thống đường sắt và đường xa lộ nối các tỉnh Hoa Nam thông qua hải cảng Hải Phòng để ra biển xúc tiến từ năm 2009, gọi là dự án « hai hành lang, một vành đai ». Hành lang thứ nhứt là Nam Ninh – Lạng Sơn – Hà Nội – Hải phòng. Hành lang thứ hai là Côn Minh – Lào Cai – Hà Nội và Hải Phòng. Vành đai là vịnh Bắc Việt.  
Tuyến đường Côn Minh – Hải phòng vốn đã được nhà nước bảo hộ Pháp mở ra từ đầu thế kỷ 20 mà một trong những công trình của nó vẫn còn được dân Hà Nội sử dụng đến nay là cầu Long Biên.
Đến nay thì ta thấy dự án « hai hành lang, một vành đai » đã được sáp nhập vào dự án « Con đường tơ lụa trên biển ».
Như vậy, bề mặt thì mục tiêu các dự án « con đường tơ lụa » trên bộ và trên biển của TQ chỉ thuần túy kinh tế. Nhưng bên trong lại hàm chứa một sách lược hướng ngoại đầy tham vọng của TQ mà điều này đang làm cho nhiều quốc gia lo ngại.
Ta sẽ thấy các dự án con đường tơ lụa của TQ là một bộ phận trong sách lược hóa giải kế hoạch chuyển trục sang Châu Á của Hoa Kỳ. Dĩ nhiên nó cũng nhằm chống lại thỏa ước kinh tế « xuyên Thái bình dương » mà Hoa Kỳ khởi xướng vài năm nay.
Trục chiến lược của Mỹ, tạm gọi là « trục ngang », tức « trục hoành », liên kết giữa Hoa Kỳ với các đồng minh cũ, mà lần này HK cố gắng lôi kéo VN vào phe mình. Lo ngại của Hoa Kỳ là TQ càng phát triển thì sẽ dành mất ảnh hưởng truyền thống của họ ở vùng Đông Á.
Tham vọng của TQ là xây dựng một « trục dọc, tức trục tung » chiến lược, bao gồm Nga, TQ và có thể các nước Đông Nam Á như VN, Mã Lai và Nam Dương… đồng thời các nước Trung Đông, Châu Phi.
TQ đang ráo riết xây dựng các căn cứ quân sự trên các bãi đá ngầm đã chiếm của VN vào năm 1988 như đá Chữ Thập, đá Gạc Ma, Châu Viên, Tư Nghĩa v.v… Việc này dĩ nhiên nhằm thiết lập vùng nhận diện phòng không trên Biển Đông. Mục tiêu của việc này nhằm ngăn cản lực lượng không quân, hải quân Hoa Kỳ tiếp cận.
Trong khu vực, vừa khi dự án « con đường tơ lụa trên biển » của TQ ra đời, thì đã có những động thái của các nước khác nhằm đối phó với các kế hoạch của TQ.
Ta thấy Ấn Độ rục rịch với dự án « Gió mùa », mục đích là nhằm liên kết và giao thuơng kinh tế với các nước Đông nam Á. Tức cũng là « con đường tơ lụa trên biển », nhưng đi ngược lại, từ Ấn độ dương đến Biển Đông. Ta cũng thấy Nhật rục rịch cùng lúc với hai trục Nhật - Ấn Độ và Nhật - Úc. Trong khi Hoa Kỳ thì đang gây áp lực để Nam Hàn cho phép đặt hệ thống phòng vệ hỏa tiễn.
Các quốc gia bị ảnh hưởng an ninh quốc phòng hoặc đe dọa chủ quyền lãnh thổ, trước hết có thể là VN, sau đó Phi và Singapour.
Ta thấy cảng Hải Phòng của VN là trạm đầu tiên của « con đường tơ lụa trên biển ». Nhưng vai trò của cảng Hải Phòng chỉ là trạm trung chuyển cho hàng hóa các tỉnh Hoa Nam như Vân Nam, Quí Châu…  mà thôi. Nhận thức này lấy từ kinh nghiệm của nhà nước bảo hộ Pháp sau năm 1911.
Thời đó, công ty quản trị tuyến đường Hải Phòng – Côn Minh của Pháp bị lỗ nặng, trong khi thuế quan lại không thu nhiều. Lý do là vì hầu hết hàng hóa chỉ « quá cảnh » qua Hải Phòng, sau đó chuyển đến Hồng Kông, hoặc ngược lại, hàng hóa từ Hồng Kông chuyển qua Hải Phòng để đi Vân Nam. Hàng hóa từ VN không hề « xuất qua » Vân Nam theo tuyến đường xe lửa này.
Các sử gia cho rằng công trình xây dựng đường xe lửa Hải Phòng – Côn Minh là một thất bại lớn lao về kinh tế cho người Pháp.
Thì bây giờ cũng vậy, hàng hóa TQ vốn đã tràn ngập VN, thì nay cũng vô phương cạnh tranh với các tỉnh trong nội địa của TQ. Cảng Hải Phòng cũng sẽ chỉ là trạm trung chuyển mà thôi. Tức là nó chỉ giúp cho các tỉnh Vân Nam, Quí Châu… nối với thế giới bên ngoài. Tức là giúp cho nền kinh tế tại các nơi này phát triển mà thôi.
Trong khi vấn đề tranh chấp lãnh thổ và hải phận trên Biển Đông vẫn còn nguyên, nếu không nói là càng trầm trọng thêm. Việc TQ đang ráo riết xây dựng các đảo hiện nay cho thấy tham vọng của nước này về chủ quyền lãnh thổ. Khi mà các đảo này xây dựng xong, TQ có thể tuyên bố vùng nhận diện phòng không ở Biển Đông. Việc này là một phần không thể tách rời trong sách lược hướng ngoại của TQ mà dự án « con đường tơ lụa trên biển » là một bộ phận.
Singapour lo lắng vì Mã Lai (và có thể Nam Dương) đã đồng ý gia nhập dự án « Con đường tơ lụa trên biển » của TQ. Các hải cảng của Mã Lai cũng như khu vực chung quanh Kuala Lumpour nếu được xây dựng thì dĩ nhiên sẽ cạnh tranh với Singapour. Cảng Djakarta của Nam Dương cũng vậy. Nơi đây án ngữ eo biển Sonda, là nơi các tàu chở dầu cực lớn đi vào biển Đông (vì không đi qua được eo biển Malacca). Tầm quan trọng chiến lược của eo biển Malacca vì vậy sẽ giảm thiểu.
Mặt khác, theo một thỏa ước mà Singapour đã ký với Anh từ khi mới độc lập, thì hải quân Anh có quyền có mặt thường trực ở hải cảng Changi. Nhưng Anh lại nhượng quyền để hải quân Hoa Kỳ sử dụng hải cảng này. Đồng thời, từ sau Thế chiến II, Anh cũng cho hải quân Hoa Kỳ mướn đảo Diego Garcia trong Ấn Độ dương để xây dựng căn cứ. Bây giờ Anh lại là một thành viên của Ngân hàng đầu tư hạ tầng cơ sở do TQ đề xướng. Hoa Kỳ lo ngại là điều dĩ nhiên.
Vì vậy, mặc dầu dự án « con đường tơ lụa trên biển » thuần túy về kinh tế, nhưng dự án này lại nằm trong sách lược hướng ngoại của TQ nhằm đối kháng với kế hoạch chuyển trục của Hoa Kỳ.
Từ bao thế hệ nay, tất cả các tranh chấp của con người, Thế chiến thứ I, Thế chiến thứ II, tất cả đều đến từ lý do « kinh tế ». Các tranh chấp giữa các đại cường, từ chuyển trục sang Châu Á hay các dự án « con đường tơ lụa trên bộ » hay « trên biển », đều nhằm mục tiêu chinh phục hay bảo vệ thị trường.
Dĩ nhiên hệ quả của tham vọng đại cường, hay sự đụng độ vì tranh giành ảnh hưởng giữa các đại cường, sẽ đe dọa an ninh và chủ quyền lãnh thổ cho các nước nhỏ chung quanh.
Vấn đề là VN cần có thái độ như thế nào trước tham vọng của TQ ?.
Nếu VN theo TQ để đứng trong « trục chiến lược » của TQ, (như đã thấy qua chuyến đi TQ của Nguyễn Phú Trọng), gồm các nước Nga-TQ-VN-Mã Lai v.v… VN sẽ không có lợi lộc gì.
Miếng bánh « con đường tơ lụa trên biển » trị giá 40 tỉ đô. Miếng bánh « ngân hàng đầu tư hạ tầng cơ sở » còn lớn hơn, đến 50 tỉ. Nhưng VN sẽ không được một mảnh vụn của hai cái bánh này. Cảng Hải Phòng, nếu có xây dựng, đường xe lửa Vân Nam, Hải Phòng nếu được thiết lập lại, thì VN sẽ không thu được một kết quả kinh tế nào. Kinh nghiệm của nhà nước bảo hộ Pháp ngày xưa cho phép ta kết luận như vậy. Trong khi, vì nhu cầu xây dựng chiến lược, TQ phải chiếm các đảo TS cũng như phần lớn Biển Đông. VN đứng chung với TQ cũng không ngăn được TQ chiếm đảo, chiếm biển của mình.  
Trong khi nếu VN đứng trong « trục » của Mỹ, không cần phải nói đến những lợi lộc về kinh tế đem lại cho VN trong kết ước kinh tế « xuyên Thái bình dương » (TPP), thì với quan niệm về an ninh của Mỹ ở Biển Đông cũng đã giúp VN bảo vệ quyền lợi của mình. Hoa Kỳ, qua các tuyên bố mới đây, không muốn TQ xây dựng các đảo nhằm thay đổi hiện trạng. Tức là về an ninh, VN và Hoa Kỳ có chung quan điểm.
Vì vậy, quyết định đi với TQ đồng nghĩa với việc đưa đất nước và dân tộc VN vào vòng lệ thuộc, mà tương lai cháu con không có hy vọng gỡ ra được.

dimanche 15 mars 2015

Tượng mẹ Việt Nam anh hùng

Có một bà mẹ Việt Nam anh hùng
Thì có cả triệu bà mẹ Việt Nam phản động
Mẹ nào thì cũng là mẹ của những đứa con Việt tộc
Trong cuộc chiến nồi da xáo thịt

Có một bà mẹ Việt Nam anh hùng
Thì có cả triệu bà mẹ Việt Nam nắng dãi mưa dầm
Tần tảo nuôi con, hai vai trĩu nặng,
Để lớn khôn lên chúng gà nhà bôi mặt

Có một bà mẹ Việt Nam anh hùng
Thì cũng có cả triệu bà mẹ Việt Nam cạn dòng nước mắt
Xác con là quân giải phóng, là ngụy quân, ngụy quyền, là vượt biên phản quốc…
Thì giọt nước mắt nào của mẹ cũng chua xót đắng cay

Có một bà mẹ Việt Nam anh hùng
Từ bốn mươi năm trước hôm nay được vinh danh tạc tượng
Thì có một triệu bà mẹ Việt Nam khóc thầm trong tủi nhục
Sông Gianh, sông Bến Hải như vẫn còn thống khổ phân chia

Có một triệu bà mẹ Việt Nam vui
Thì cũng có một triệu người mẹ Việt Nam buồn,
Có những nỗi buồn xót xa không thể nói
Bắc hay nam, sinh ra mẹ đâu lựa chọn

Có đất nước nào như đất nước này
Hễ có một người vui là có triệu người buồn
Có một người vinh quang là có máu me của một triệu người đổ xuống
Có một người sống trong vàng son thì có một triệu người nước mắt chan cơm

Ôi Việt Nam,
Giang sơn một dãi tủi hờn !




jeudi 12 mars 2015

Cam Ranh trong thế cờ chiến lược quốc tế.

Hoa Kỳ vừa lên tiếng yêu cầu VN ngưng không cho phép Nga sử dụng Cam Ranh như là trạm tiếp tế nhiên liệu cho các loại phi cơ chiến đấu và dội bom chiến lược. Yêu cầu này sẽ đưa VN vào khó khăn ngoại giao. Chuyến đi sắp tới của ông Nguyễn Phú Trọng sẽ cho ta biết thái độ của VN trước yêu cầu này của Mỹ.

Vấn đề VN đã cho phép các phi cơ dội bom và chiến đấu chiến lược của Nga được phép tiếp liệu tại Cam Ranh có lẽ là điều chỉ mới xảy ra gần đây. Bởi vì, tháng 2 năm năm ngoái, bộ trưởng quốc phòng Nga là ông Sergueï Choïgou còn cho báo chí biết là hiện đang thuơng lượng với một số nước như  Vietnam, Cuba, Venezuela, Nicaragua, Seychelles và Singapour để các nước này cho phép Nga đặt các căn cứ quân sự thường trực. Việc thuơng lượng bao gồm các việc sử dụng hải cảng cho hải quân cũng như việc đặt trạm tiếp tế nhiên liệu cho các loại phi cơ chiến đấu - dội bom chiến lược thuộc đội tuần tiễu của không quân Nga.
Việc Hoa Kỳ hôm qua lên tiếng yêu cầu VN ngưng cho phép Nga sử dụng Cam Ranh cho ta biết là VN đã chấp thuận cho Nga xây dựng trạm tiếp liệu không quân. Còn việc VN có cho Nga sử dụng Cam Ranh như một căn cứ quân sự, bao gồm hải quân cũng như có sự hiện diện thường trực của quân đội Nga như trước thập niên 90 hay không, thì điều này ta chưa thấy dấu hiệu.
Việc lên tiếng yêu cầu của Hoa Kỳ là điều cần thiết cho nền an ninh quốc phòng của nước này.
Từ căn cứ Cam Ranh, các phi cơ dội bom cũng như các chiến đấu cơ chiến lược của Nga có thể uy hiếp được hai căn cứ quân sự của Mỹ là Guam trong Thái Bình Dương và Diego Garcia trong Ấn Độ dương. Ta cũng nên biết rằng, hiện nay các đội phi cơ tuần tiễu chiến lược của Nga đã bay tới khu vực biển Caraibes, tức khu vực biển chung quanh là các nước Cuba, Venezuela, Nicaragua… tức Hoa Kỳ bị đe dọa sát bên nhà.
Khu vực Địa Trung Hải thì Ukraine phân liệt cộng với cuộc chiến tại Syrie từ nhiều năm nay, hải quân và không quân của Nga đã có mặt thường xuyên. Ảnh hưởng của Nga càng lên, Khối Châu Âu biểu lộ sự yếu kém trước một Putin cương quyết và hung hăng. Trong khi vùng Bắc Âu cũng bị đe dọa vì Nga muốn mở đường ra Đại Tây dương, thông ra biển Baltique. Thời gian gần đây, phi cơ của Nga đã liên tục lấn vào không phận của Anh và Pháp. Các nước Baltique thuộc OTAN như Lituani, Lettoni… vừa được tăng cường vũ trang gồm các loại xe tăng, trọng pháo… các việc này dĩ nhiên nhằm đề phòng Nga lập lại sự việc đã xảy ra ở Ukraine.
Tất cả các động thái của Nga ở Châu Âu đều quan hệ đến Hoa Kỳ. Vì các nước Châu Âu phần lớn nằm trong khối OTAN (Minh ước Bắc Đại Tây dương) mà Hoa Kỳ là thành viên rường cột.
Từ các nhận xét sơ lược về cái nhìn địa chiến lược này ta mới thấy rằng việc VN có đáp ứng lời yêu cầu của HK hay không là một điều hết sức quan trọng. Hoa Kỳ cần soi sáng các điểm mờ chiến lược mà VN là một yếu tố hàng đầu trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương.
Riêng VN, trước yêu sách của Mỹ, thì bị lâm vào một tư thế hết sức không thoải mái, nếu không nói là tiến thoái lưỡng nan.
VN như đứng trước ngã ba đường, VN không thể không có chọn lựa. Thái độ của VN sẽ cho ta biết diễn tiến của các quan hệ VN với TQ, Nga và Hoa Kỳ sẽ ra sao trong thời gian tới. Tương tự như trong một ván cờ, chỉ cần một nước đi quan trọng của một bên có thể cho ta thấy diễn tiến của cả bàn cờ. Thái độ của VN là một bước quan trọng đó.
Về chuyến đi của ông Nguyễn Phú Trọng.
Nhân dịp 20 năm ngày nối quan hệ ngoại giao hai nước, bộ Ngoại giao Mỹ ông Kerry ngày 13-2 đã nhắc lại lời mời của chính quyền Hoa Kỳ đến với ông tổng bí thư đảng CSVN Nguyễn Phú Trọng. Theo một số tin tức « hành lang » thì dường như TT Obama không muốn tiếp ông Trọng tại văn phòng chính, tức là « phòng bầu dục »  của Tòa Bạch Ốc, mà ở một địa điểm vô thuởng vô phạt nào đó. Cũng theo tin hành lang thì phía VN đang thuơng lượng để chuyến đi của ông Trọng được tiếp đón long trọng hơn.
Thái độ của phía Hoa Kỳ là hợp lý. Vì trên trên phương diện thể thức, ông Nguyễn Phú Trọng không phải là người đại diện nhân dân VN, cũng không phải là người đại diện nhà nước VN, Ông này chỉ là người đứng đầu một đảng phái chính trị, chứ không phải là một nguyên thủ quốc gia. Mặc dầu Tòa Bạch ốc đã từng tiếp đón các lãnh đạo chính trị, tôn giáo, kể cả nhân sĩ… trong phòng bầu dục. Nhưng trường hợp ông Trọng là một trường hợp đặc biệt. Đảng CSVN, hiến pháp qui định là lực lượng lãnh đạo, nhưng đảng này không chịu trách nhiệm trước pháp luật. Tư cách pháp nhân của đảng này không có. Vì vậy, ông Obama, không thể tiếp ông Trọng với các nghi thức dành cho một nguyên thủ quốc gia, hay như là một nhân sĩ có uy tín trước cộng đồng thế giới, như đã từng tiếp đón.
Mặt khác, về quyền lực và uy tín lãnh đạo, ông Trọng cũng không có tầm cỡ như những tổng bí thư của các thập niên 90 của thế kỷ trước. Ông Trọng không thể đơn phương lấy một quyết định chính trị. Ông Trọng, tên là trọng mà xem ra không có « trọng lượng » để được Obama tiếp đón như là một vị khách « quan trọng ».
Tuy nhiên, ông Trọng cũng có thể được Mỹ tiếp đón với một nghi thức long trọng, nếu ông này mang một thông điệp đáp ứng được yêu sách của Mỹ. Dĩ nhiên, thông điệp này không phải là ý kiến của ông Trọng mà là quyết định của bộ chính trị.
Vì vậy, nghi thức mà Mỹ tiếp đón ông Trọng sắp tới sẽ cho ta biết phần nào nội dung của thông điệp.
Nhưng VN sẽ rất đau đớn để có thể chấp thuận yêu cầu của Mỹ.
Trước hết Nga là một đồng mình truyền thống của VN. Cho đến nay thì hầu hết các loại vũ khí quan trọng hàng đầu của VN đều mua từ Nga, như các loại máy bay tiêm kích SU 30, SU 27… các đơn vị hỏa tiễn phòng thủ như Bastion 300, tàu ngầm Kilo… phần lớn lực lượng hải quân, không quân, phòng không… của VN được trang bị từ kho vũ khí của Nga.
Bây giờ nếu VN từ khuớc cho Nga sử dụng các căn cứ tiếp liệu ở Cam Ranh, tức là VN đơn phương hủy bỏ các hợp đồng vừa mới ký kết (mà ta không biết hai bên trao đổi thế nào ?). Làm điều này mà không hội ý với Nga, tương đương với việc VN đơn phương gián đoạn ngoại giao với Nga.
Nhưng VN cũng khó có thể trả lời không với Mỹ, ít nhất trong tình thế hiện nay. Bởi vì, trước sự lấn lướt của TQ tại Biển Đông, cũng như việc xây dựng các đảo nhân tạo của nước này đã trực tiếp đe dọa nền an ninh quốc phòng cũng như sự toàn vẹn lãnh thổ của VN. Mà việc này Nga không thể giúp VN, mà chỉ có Mỹ mới có thể giúp VN về kinh tế và quốc phòng, để VN bảo vệ quyền lợi của mình, đối đầu với thái độ hung hăng bành trướng của TQ.
Trong bối cảnh như vậy, nhất thời VN khó mà tìm được một kế sách để thỏa mãn tất cả các bên.
Đối với Mỹ, Cam Ranh là một căn cứ quân sự lý tưởng để Mỹ tái phối trí lực lượng của họ ở Biển Đông, trong sách lược « chuyển trục » sang Châu Á. Một VN giàu và mạnh, sẽ bổ túc phòng thủ chung trong khu vực với các nước Nhật Bản, Nam Hàn, Phi và Đài Loan. Lực lượng hỗ trợ của Mỹ vẫn là Guam, Úc  và Diego Garcia. Nếu thế liên minh này được thành hình thì Mỹ sẽ không còn lo ngại liên minh giữa TQ và Mã Lai, Indonesie (mục đích đột phá thế « chuyển trục sang Châu Á » của Mỹ, bằng cách vô hiệu hóa eo biển Malacca).
Đối với VN, thì đây là một ước vọng của phần lớn người VN hiện nay.
Về kinh tế, VN đã quan hệ rất tốt với TQ từ nhiều thập niên qua, nhưng việc này không đem lại một nước VN phát triển như mong ước. Ngược lại, trong nhiều phương diện, VN lệ thuộc vào TQ. Quan hệ « bốn tốt » với TQ là một thất bại.
Quan hệ với Mỹ, VN có quyền hy vọng về một tương lai phát triển tương tự như Nam Hàn, Đài Loan, hay tệ lắm cũng như Thái Lan. Các nước đồng minh của Mỹ, nước nào cũng giàu và mạnh.
Muốn toàn lãnh thổ, chắc chắn VN không thể đi với Nga, hay đi với TQ, mà phải đi với Mỹ. Ta thấy một đảo nhỏ là Đài Loan, đến bây giờ TQ cũng vẫn không dám dùng vũ lực để thống nhất đất nước, mặc dầu họ có tính chính danh để làm việc đó. Đơn giản vì phía sau Đài Loan có Mỹ.
Vấn đề là lãnh đạo CSVN có dám đặt quyền lợi của đất nước lên trên quyền lợi của đảng hay không.

dimanche 8 mars 2015

Mở lại hồ sơ Biển Đông.

1/ Sự hiện diện của Trung Quốc ở khu vực biển Trường Sa.

Khu vực biển thuộc Trường Sa có thể giới hạn từ vĩ tuyến 6° đến vĩ tuyến 12°. Sự hiện diện của TQ tại khu vực biển này bắt đầu từ tháng 3 năm 1988, sau khi chiếm được trên tay của VN một số đá, bãi ngầm như đá Gạc Ma và Tư Nghĩa (cách nhau 30km thuộc nhóm Sinh Tồn), đá Chữ Thập, đá Châu Viên, đá Xu bi (thuộc nhóm Thị Tứ), đá Ga ven (nhóm Ba Bình, Nam Yết)... Trước đó, năm 1956, quân của Trung Hoa Dân quốc (Đài Loan) chiếm đảo Ba Bình (Itu-Aba). Đảo này được nhà cầm quyền bảo hộ Pháp tuyên bố chủ quyền ngày 10 tháng 4 năm 1933 và sáp nhập cùng năm vào tỉnh Bà Rịa.

Việc chiếm đóng đảo Ba Bình của Đài Loan, cũng như việc xâm lăng quần đảo Hoàng Sa năm 1974, không đem lại cho TQ chủ quyền lãnh thổ ở các nơi đây vì việc chiếm đóng đi ngược lại các nguyên tắc chiếm hữu được quốc tế qui định : Tại Hoàng Sa TQ chiếm hữu bằng vũ lực trong khi tại Ba Bình thì chiếm một lãnh thổ đã có chủ.

Hành vi chiếm đóng của TQ tại các bãi, đá thuộc Trường Sa ngày 14 tháng 3 năm 1988 lý ra sẽ không đem lại danh nghĩa chủ quyền cho nước này. Nhưng một số dữ kiện liên quan được tiết lộ gần đây cho thấy, trong chừng mực danh nghĩa chủ quyền của TQ (tại các bãi, đá mới chiếm năm 1988) đã được củng cố.

Theo các nhân chứng (trả lời phỏng vấn RFA 19-10-2011) có tham dự trong « cuộc chiến » thì quân đội VN được lệnh « không được nổ súng bất cứ giá nào ». Theo báo chí trong nước thì đó là « trận hải chiến mà súng nổ chỉ từ một phía ». Một tướng lãnh thuộc QDNDVN vừa mới lên tiếng xác định dữ kiện trên là có thật. Vị này còn cho biết lệnh trên là đến từ Lê Đức Anh.

Đây là một trường hợp đặc biệt về việc chiếm hữu lãnh thổ. Theo luật quốc tế, nếu TQ chiếm hữu lãnh thổ bằng vũ lực (như trường hợp Hoàng Sa) thì chủ quyền (vùng lãnh thổ này) sẽ không được nhìn nhận.

Trường hợp các bãi, đá chiếm năm 1988, dĩ nhiên TQ đã sử dụng bạo lực. Vấn đề là phía VN đã không sử dụng quyền « tự vệ chính đáng » (được Hiến chương LHQ qui định) để chống trả lại. Nhà nước VN cũng từ chối mọi thủ tục pháp lý (có sẵn) để tranh đấu chống lại TQ ở thời điểm đó (mặc dầu nhà nước CHXHCNVN có đầy đủ tư cách pháp nhân để thực hiện). Các công hàm phản đối dĩ nhiên không có hiệu lực bảo vệ chủ quyền mạnh mẽ bằng các phương tiện pháp lý.

Sự im lặng đồng thuận của VN (về chủ quyền các bãi, đá) kéo dài từ năm 1990 cho đến nay.
Phải chăng, một cách ám thị, VN đã từ bỏ chủ quyền (tại các bãi, đá đó) cho TQ ?
Các công hàm bảo lưu của VN gởi LHQ, năm 1996, khi TQ thông qua Luật Biển UNCLOS không nói rõ rệt về chủ quyền các bãi, đá đã bị TQ chiếm năm 1988, mà chỉ phản đối về hệ thống đường cơ bản của TQ (đồng thời khẳng định chủ quyền của VN tại HS và TS).

Việc khẳng định chủ quyền một cách « chung chung » như vậy là không đủ. Quần đảo Trường Sa bao gồm một khu vực biển rất lớn, trên hai triệu cây số vuông, có đến hàng ngàn bãi, đá, bãi ngầm, bãi cạn, đá chìm, đá nổi, đảo, cụm đảo… khác nhau. Các cấu trúc địa lý này một số rải rác, số khác tụ lại thành nhóm. Nhà cầm quyền bảo hộ Pháp đã chỉ tuyên bố chủ quyền các cụm đảo Trường Sa, An Bang, Ba Binh (Itu-Aba), Song Tử, Loại Ta và Thị Tứ chứ không bao gồm tất cả (bãi chìm, bãi nổi, đá chìm, đá nổi rải rác trên biển, cách nhau hàng trăm, hàng ngàn ki lô mét).

Dầu vậy, trên phương diện pháp luật quốc tế, các bãi, đá mà TQ chiếm của VN năm 1988, trên danh nghĩa đã thuộc chủ quyền của VN.

Đá Chữ Thập, trên danh nghĩa (địa lý) thì thuộc nhóm Tizard, bao gồm các đảo Ba Bình, đảo Sơn Ca, đảo Nam Yết… Pháp đã tuyên bố chủ quyền và sáp nhập cụm đảo này vào tỉnh Bà Rịa năm 1933.

Tương tự ở đá Châu Viên thuộc nhóm đảo Trường Sa, đá Xu bi thuộc nhóm Thị Tứ.
Hai đá Gạc Ma và Tư Nghĩa (còn gọi là đá Huy Gơ) thuộc nhóm Sinh Tồn mà nhóm này không thuộc danh sách các đảo đã được sáp nhập năm 1933. Nhưng theo các tài liệu của VN, trước 1975 cụm đảo này do VNCH chiếm đóng và tuyên bố chủ quyền.

Theo một phán lệ của quan tòa Max Huber về vụ kiện « quần đảo Palmas » trước Tòa Trọng tài năm 1928, chủ quyền một nhóm đảo tùy thuộc vào đảo chính. Ta có thể hiểu là, trong một nhóm đảo bất kỳ, bao gồm một đảo chính và các đảo phụ thuộc, quốc gia nào có chủ quyền ở đảo chính thì cũng sẽ có chủ quyền ở các đảo phụ thuộc chung quanh.

Nhà nước bảo hộ Pháp đã cẩn trọng tuyên bố chủ quyền không chỉ ở các đảo chính mà còn nhấn mạnh ở các đảo phụ thuộc.

Vì vậy hành vi chiếm đóng của TQ tại các bãi, đá ghi trên là không đem lại chủ quyền cho nước này. Đơn giản vì đã chiếm một lãnh thổ đã có chủ.

Ngoại trừ hành vi từ bỏ chủ quyền của nhà nước CSVN.

Các hành vi có thể ghi nhận là công hàm 1958 của Phạm Văn Đồng và một số hành vi khác, bao gồm thái độ im lặng (đồng thuận ám thị) của nhà nước này trong một thời gian dài. Các « hành vi khác » quan trọng có thể nhắc là lãnh đạo đảng CSVN, ông Lê Khả Phiêu, nhìn nhận « có ba vùng biển tranh chấp » với TQ.

Điều này bảo kê sự hiện diện « chính đáng » của TQ tại vùng biển Trường Sa.

Ngoài VN, phía Phi Luật Tân cũng đã mở cơ hội cho TQ có mặt tại Trường Sa.

Năm 2005, chính phủ Phi đã ký kết song phương với với Trung Quốc thỏa thuận « thăm dò chung – JMSU » tại một vùng biển rộng lớn thuộc Trường Sa, trong đó một phần có chồng lấn với vùng biển và các hải đảo của VN. Vùng biển này bao gồm luôn Reed Bank (tức Bãi Cỏ Rong).

Tuyên bố của Lê Khả Phiêu và việc làm của Phi đã thừa nhận sự hiện diện chính đáng của TQ tại vùng biển liên hệ. Biến một vùng biển « không có tranh chấp » thành vùng biển « có tranh chấp ».

Hiện nay TQ ráo riết xây dựng các bãi, đá dã chiếm của VN.

Trên đá Chữ Thập (tên quốc tế là Fiery Cross Reef, tên TQ là Vĩnh thử tiều (Yongshu Reef). Theo thông tin tiết lộ từ báo chí của phía TQ (Kanwa Defense) dự tính của TQ là sẽ xây dựng tại đây thành một căn cứ quân sự hải quân và không quân, có chiều dài 5.000 mét, rộng 500 mét; phi đạo dài 2.000 mét để có thể tiếp nhận các loại chiến đấu cơ của TQ như SU 30, J 10, J 11…. Căn cứ này (và căn cứ trên đá Châu Viên), trên quan điểm quân sự, có thể ngăn chặn mọi tiếp tế của VN, đến từ bờ hay từ trung tâm Trường Sa, cho các đảo khu vực Trường Sa.

TQ cũng xây dựng hai căn cứ quan trọng thuộc cụm đảo Sinh Tồn : Gạc Ma và Tư Nghĩa. Hiện nay, đảo chính của cụm đảo Sinh Tồn không phải là đảo Sinh Tồn mà là hai đảo nhân tạo của TQ. Đảo Sinh Tồn (hiện do VN chiếm đóng) đã trở thành đảo “phụ thuộc”.

Chiến thuật “tầm ăn dâu” của TQ, Mỹ gọi là “xắt lát sa la mi”, thực ra chỉ mới bắt đầu ráo riết từ sau khi giàn khoan 981, vào tháng 3 năm 2013. Mọi hành vi của TQ đều được biện hộ vì cái cớ trả đũa vụ Phi đi kiện. Theo họ, Phi đã vi phạm tuyên bố DOC 2002, theo đó phải giữ “nguyên trạng”, không làm rắc rối thêm tình hình. Trong khoảng thời gian chưa tới hai năm, TQ đã bồi đắp các bãi đá, bãi ngầm thành các đảo có tầm vóc quan trọng. Trường hợp tương tự ở các xứ Trung Đông, các đảo nhân tạo phải mất thời gian xây dựng khoảng 10 năm.

Đối diện với một TQ hung hăng, dầu sao thì Phi cũng được Mỹ chống lưng. Hai bên có quan hệ “đồng minh” truyền thống. Còn VN thì nan đề chỉ mới bắt đầu. Dầu vậy, phía VN xem ra vẫn còn rất lạc quan. Họ vẫn tự hào vì đã đánh thắng bốn đế quốc sừng sỏ Pháp, Nhật, Mỹ và Trung Cộng. Vấn đề là học giả VN không chịu nhắc để lãnh đạo VN không bị « hào quang » chiến thắng làm mù mắt. Đó là, thắng đế quốc nào thì VN lúc đó cũng có liên minh với một cường quốc khác. Từ cây súng đến viên đạn đều do nước ngoài viện trợ. VN chỉ có xương và máu mà thôi.

2/ Cuộc chiến pháp lý :

Sẽ không có « cuộc chiến pháp lý » giữa Phi và TQ như nhiều học giả trong và ngoài nước đã nói. Vụ kiện của Phi về các hành vi và tuyên bố của TQ tại đá Hoàng Nham và một số bãi chìm, bãi cạn ở Trường Sa, đã được Tòa Trọng tài thụ lý nhận đơn, mà điều này sẽ không chắc giải quyết được điều gì.

Ngày 23 tháng giêng năm 2013, Bộ Ngoại giao Phi trao công hàm cho Bắc Kinh, đồng thời thông báo trước dư luận trong ngoài nước, việc Phi đã nộp hồ sơ đưa Trung Quốc ra Tòa trọng tài theo Phụ lục VII của Công ước Quốc Tế về Biển 1982. Hồ sơ kiện của Phi gồm 4.000 trang tài liệu, được Tòa Trọng tài Thường trực (La Hague, Hòa Lan) thụ lý. Tháng 6-2014, Tòa thông báo cho Trung Quốc, nước này có 6 tháng để nộp bản phản biện, thời hạn chót là ngày 15-12-2014. Như đã biết, từ ngày 19 tháng 2 năm 2013, bộ Ngoại giao TQ đã tuyên bố từ chối tham gia vụ kiện, và dĩ nhiên, không nhìn nhận thẩm quyền của Tòa. Một bản Tuyên bố ngày 7-12-2014 đã được phía TQ công bố. Theo đó lập luận của TQ về các lý do không tham gia vụ kiện được trình bày khá rõ rệt.

Những lập luận đáng ghi nhận của TQ là : 1/ Tòa không có thẩm quyền vì cốt lõi của vụ kiện liên quan đến “chủ quyền lãnh thổ” mà điều này không thuộc phạm trù của Công ước Quốc tế về Biển 1982. 2/ Vụ kiện liên quan đến vấn đề “phân chia ranh giới biển” mà điều này TQ đã bảo lưu năm 2006 (loại trừ mọi biện pháp trọng tài có mục đích phân chia ranh giới biển).
Thái độ của TQ, không tham gia vụ kiện và không nhìn nhận thẩm quyền của tòa, không cản trở được quá trình thụ lý của Tòa Thường Trực. Nếu không có gì trở ngại, nội vụ sẽ xử vào tháng 7 năm 2015.

Phi yêu cầu Tòa tuyên bố, gồm 10 điều :

1.Các quyền của TQ và Phi ở biển Đông phải tuân thủ theo UNCLOS. (Các quyền được xác định theo phần II đối với lãnh hải và vùng tiếp giáp, theo phần V đối với vùng ZEE và theo phần VI đối với thềm lục địa).

2.Yêu sách đường 9 đoạn của TQ là vô giá trị.
3.Các cấu tạo lúc chìm lúc nổi, không nằm trong lãnh hải các quốc gia ven biển, thuộc đáy biển, thì không thể chiếm hữu, ngoại trừ cấu tạo đó nằm trên thềm lục địa của quốc gia theo phần VI UNCLOS.
4.Các bãi Vành Khăn, Mc Kennan, Xu Bi và Gaven là các cấu tạo chìm khi thủy triều lên, không phải là đảo theo qui định của điều 121 UNCLOS, cũng không nằm trên thềm lục địa TQ, việc TQ chiếm đóng có trái phép hay không và việc xây dựng trên các bãi cạn này có trái phép hay không ?
5.Bãi Vành Khăn và McKennan thuộc thềm lục địa của Phi theo phần VI của UNCLOS.
6.Bãi Hoàng Ngam và các đá Châu Viên, Gạc Ma, Chữ Thập là các bãi chìm, ngoài trừ vài mỏm đá nhô trên nước khi thủy triều lên. Chúng chỉ là « đá » theo điều 121 khoản 3 của UNCLOS, vì thế chỉ có thể có lãnh hải không quá 12 hải lý. TQ đã đòi hỏi một cách phi lý quyền mở rộng các vùng biển quá 12 hải lý tại các cấu tạo này.
7.TQ đã vi phạm luật pháp khi ngăn cấm các tàu của Phi khai thác các vùng biển cận Hoàng Nham và đá Gạc Ma.
8.Phi có quyền về lãnh hải 12 hải lý, ZEE 200 hải lý và thềm lục địa, theo các phần II, V và VI của UNCLOS, tính theo đường cơ bản quần đảo của Phi.
9.TQ đã yêu sách một cách bất hợp pháp các quyền đối với tài nguyên sinh vật và phi sinh vật và đã khai thác phi pháp các tài nguyên này và cũng đã vi phạm pháp luật khi không cho Phi khai thác các tài nguyên sinh vật và phi sinh vật trong vùng EEZ và thềm lục địa của mình.
10.TQ đã can thiệp một cách bất hợp pháp quyền tự do hàng hải của Phi được xác định theo UNCLOS.

Các điểm, theo tôi, Tòa không có thẩm quyền để tuyên bố là :

Điểm 3 và điểm 4 : về tình trạng pháp lý các cấu tạo địa lý lúc chìm lúc nổi (mà TQ hiện chiếm đóng và xây dựng). Công ước Quốc tế về Biển 1982 không đề cập đến việc các cấu trúc địa lý này có thể chiếm hữu hay không ? Phán lệ (hay án lệ) của CIJ trong vụ kiện giữa Qatar và Bahreïn. Tòa nói về việc này như sau:

“luật pháp quốc tế im lặng về tình trạng pháp lý của các bãi lúc chìm lúc nổi, các bãi này có thể xem như là một “lãnh thổ” hay không ? luật pháp hiện hành cũng không thể xác định là các bãi đó có thể xem như là một lãnh thổ tương đương với “đảo” hay không”.

Tuy nhiên, trong vụ tranh chấp giữa Tân Gia Ba và Mã Lai về chủ quyền của các đảo Pedra Branca/Pulau Batu Puteh, Middle Rocks và South Ledge qua phán lệ của Tòa án Quốc tế (CIJ) ngày 23-5-2008. Trường hợp tương tự, South Ledge là một đảo đá lúc chìm lúc nổi, chỉ thấy khi thủy triều thấp. Tòa có nhắc lại tình trạng mơ hồ về tình trạng pháp lý của các cấu trúc địa lý này trong vụ án Qatar và Bahreïn. Dầu vậy Tòa phán rằng South Ledge nằm ở vùng lãnh hải nước nào thì sẽ thuộc chủ quyền của nước đó.

Nếu phán quyết của Tòa CIJ ở trên trở thành một “phán lệ”, được áp dụng trong trường hợp các cấu trúc địa lý tương tự ở Trường Sa, thì chủ quyền các cấu trúc (lúc chìm lúc nổi) sẽ phụ thuộc vào các đảo chính. Tức là nước nào có chủ quyền ở đảo chính thì các cấu trúc phụ thuộc cũng sẽ thuộc chủ quyền của quốc gia đó.

Ở điểm này Tòa sẽ không có thẩm quyền phán xét. Đơn giản vì nó liên quan đến vấn đề “chủ quyền lãnh thổ” mà điều này nằm ngoài thẩm quyền của UNCLOS.

Điểm 5, đá McKennan thuộc nhóm đảo Sinh Tồn, phụ thuộc vào đảo Sinh Tồn. Trong khu vực đảo này TQ đã chiếm hai bãi (đá) Gạc Ma và Tư Nghĩa. Đá Vành Khăn sẽ phụ thuộc vào đá (nổi thường trực) hay đảo nào kế cận trong vòng 12 hải lý. Phía TQ tuyên bố có chủ quyền các đảo TS, theo Tuyên Bố đơn phương năm 1958 về hải phận 12 hải lý.

Ở điểm này Tòa cũng không có thẩm quyền, vì thuộc vấn đề “chủ quyền lãnh thổ”.

Điểm 6 nói về hiệu lực của “đảo” hay “đá” theo điều 121 UCLOS. Ở đây tranh luận là về lý thuyết luật học nhưng rất dễ sa vào lãnh vực “phân chia ranh giới biển” mà điều này Tòa cũng không có thẩm quyền do bảo lưu của TQ năm 2006.

3/ Hệ quả của “cuộc chiến pháp lý”

Xác suất 40% Tòa tuyên bố không có thẩm quyền là tiên đoán có cơ sở. (Tỉ lệ trên các điểm 3,4,5 và 6).

Nhưng với bấy nhiêu đó phía TQ cũng đã thắng lớn vì các tuyên bố chủ quyền và hành vi hành sử quyền chủ quyền của họ được nhìn nhận và khẳng định.

Nếu Tòa tuyên bố có « thẩm quyền », (chấp thuận tất cả các yêu cầu của Phi), phán quyết của Tòa vẫn không có giá trị ràng buộc đối với TQ. Đơn giản vì phán quyết của Tòa (quốc tế) chỉ có hiệu lực ràng buộc khi hai bên (quốc gia) cùng nhìn nhận thẩm quyền của Tòa.

Dầu vậy, trong chừng mực, phía Phi có thể có được tư thế « chính danh », từ đó có thể vận dụng các biện pháp « phòng vệ chính đáng », đơn phương hay tập thể (bằng cách thiết lập liên minh quân sự với các quốc gia khác). Phi có thể bảo vệ được lợi ích của họ. Tệ lắm thì cũng là trên danh nghĩa. Trong trường hợp này phía TQ vẫn không thua vì các cấu tạo địa lý (mà TQ đã chiếm của VN từ tháng 3 năm 1988) đã được xây dựng thành các đảo nhân tạo kiên cố và vững chắc (so với các đảo và các cấu trúc của VN và Phi).

TQ đã lợi dụng việc Phi đi kiện để tiến hành việc xây dựng các đảo nhân tại tại các cấu trúc địa lý tại Trường Sa. Vụ giàn khoan 981 đặt trên thềm lục địa VN vào tháng 5 năm ngoái thật ra chỉ là kế « giương đông kích tây » (mà điều này tôi đã cảnh báo). Việc TQ đưa tàu bè hút cát, nạo vét đại dương đến Trường Sa để thực hiện các công trình một cách rầm rộ như thế mà phía VN, cả năm sau, hoàn toàn không có một phản ứng nào. Biến cố giàn khoan 981 có thể đã che mắt mọi người, nhưng không thể che mắt nhà cầm quyền.

Vùng nhận diện phòng không (ADIZ) của Trung Quốc ở Biển Đông sẽ sớm được thành lập (theo bản đồ dưới đây). Dĩ nhiên, tất cả các đảo, cấu trúc địa lý trong vùng biển (được bao che bởi vùng ADIZ) phải thuộc chủ quyền của Trung Quốc. TQ không thể lập vùng nhận diện phòng không nếu có một vùng lãnh thổ (nào đó) ở phía dưới còn thuộc về một nước khác.

Các cấu trúc Bãi Chữ Thập, Đá Gạc Ma và đá Tư Nghĩa uy hiếp cụm đảo Sinh Tồn. Khi công cuộc xây dựng hoàn tất, được quân sự hóa, TQ không cần nổ một tiếng súng cũng có thể chiếm hoàn toàn cụm đảo Sinh Tồn (chỉ cần phong tỏa vùng biển). Các đảo khác cũng sẽ lọt vào TQ, dễ dàng như một thủ tục.

Việc xây dựng đảo nhân tạo không phải là điều mới mẻ. Từ các thế kỷ trước các nước Châu u đã xây dựng các cấu tạo địa lý trên biển để biến thành các công sự chiến đấu nhằm bảo vệ bờ biển và lãnh thổ.

Đối diện với các hành vi của TQ, chỉ có VN là phía bị thiệt hại nhiều nhất. Nhưng cũng chỉ có VN mới có thể phá vỡ thế trận của TQ. Vì chỉ VN mới có danh nghĩa chủ quyền ở các đảo TS. Điều ngạc nhiên là đến nay vẫn không thấy động tĩnh gì đến từ nhà cầm quyền CSVN.
Trên bình diện quốc tế, sự “im lặng” thường trực và lâu dài của VN đã khiến VN đã mất đi danh nghĩa chủ quyền tại các cấu trúc địa lý mà TQ đang bồi đắp.

Có thể các nghi ngại về thủ tục “kế thừa” VNCH và “hòa giải” dân tộc cần thiết để lập hồ sơ pháp lý đã khiến lãnh đạo CSVN chùng bước.

Hoang Sa - Truong Sa 1

Hình trên: Vùng ADIZ của TQ, giả định của tác giả.

4/ VN cần có thái độ nào ?

Nghe báo chí loan tải, VN đã gởi hồ sơ lên Tòa, trong vụ kiện của Phi, không phải để tham gia vụ kiện mà nhằm bảo vệ (bảo lưu) quyền lợi của VN trong khu vực. Điều này tôi cũng đã cảnh báo từ sau khi Phi tuyên bố đi kiện. Lý do các chủ thể mà Phi đề cập tới hầu hết đều thuộc chủ quyền của VN.

Sự việc TQ ráo riết xây dựng trên các cấu trúc địa lý (chiếm được của VN), bắt đầu khi vụ kiện tháng giêng năm 2013, trong vòng một thời gian ngắn, đã biến các cấu trúc địa lý này thành những đảo nhân tạo. Như vậy chủ ý của TQ là phải hoàn tất việc xây dựng trước ngày Tòa tuyên bố (dự tính tháng 7 năm 2015).

Bước kế tiếp (có thể là hai bước song song) là TQ sẽ tuyên bố vùng “nhận diện phòng không” đồng thời tuyên bố phong tỏa vùng biển chung quanh các đảo Trường Sa. Vấn đề “tự do hàng hải” sẽ không ảnh hưởng vì TQ không có mục đích làm gián đoạn việc này. Các đảo (có người sinh sống) sẽ phải kéo cờ đầu hàng trong một thời gian ngắn vì thiếu nước và lương thực.

Bằng mọi cách TQ sẽ chiếm các đảo trong khu vực ADIZ mà họ đã vạch ra. Vì nếu còn một đảo nào đó thuộc chủ quyền nước khác, vùng ADIZ này sẽ không hiệu lực.

Việc xây dựng các đảo của TQ chắc chắn đã làm VN “chới với” nhưng lãnh đạo (và phần lớn học giả) VN vẫn dường như chưa nhìn thấy viễn ảnh nan giải phía trước. Lãnh đạo CSVN vẫn yên bình tổ chức hội nghị “sắp xếp nhân sự”, khẳng định “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. Các nước chỉ trích hành vi của TQ mạnh mẽ nhất là Phi, Nhật và Hoa Kỳ.
Giải pháp tốt nhất (để phá nước cờ thế của TQ) hiện nay của VN là liên minh với Mỹ và tức thời lập hồ sơ đi kiện TQ.

Vì tình thế mới phải có kế sách mới.

Vụ Phi đi kiện TQ không thuyết phục được Tòa. Bởi vì các đảo mà Phi hiện chiếm đóng phần lớn là trái phép. Chỉ có VN mới có tư cách (hơn Phi) để kiện TQ ở Trường Sa.

VN cần phải dứt khoát thay đổi sách lược, dân chủ hóa chế độ để phát triển, giữ nước và tồn tại.

Về pháp lý là một chuyện, nhưng về địa chiến lược là chuyện khác.

Trên quan điểm địa chiến lược, TQ chỉ có thể trở thành “đại quốc” khi các nước chung quanh “yếu”.

Phần lớn các nước ngăn chặn TQ về mặt biển đều là các nước giàu. Mục đích của TQ là làm thế nào cho các nước này ít nhiều lệ thuộc vào TQ. Đã từ lâu TQ là động cơ cho phát triển của cả khu vực (và thế giới). GDP của TQ lên hàng thứ nhì và ngân sách quốc phòng cũng hàng thứ nhì trên thế giới (150 tỉ đô là số công bố. Số thật sự có thể lên gấp đôi).

TQ đã là một “nước lớn”. Các nước “giàu” trong khối ASEAN, hay Đại Hàn, Nhật đã “tương thuộc” một cách sâu sắc về kinh tế với TQ.

VN là một ngoại lệ. Nước này từ đầu thập niên 90 đã ngoan ngoãn nằm trong “quĩ đạo” của TQ. VN tuyên bố là không “liên minh” với nước nào. Điều này rất hợp ý Bắc Kinh. Dĩ nhiên TQ sẽ liên tục “giúp” mọi thứ để giúp cho VN giữ « nguyên trạng ». VN luôn là một nước “yếu” và nghèo đói kinh niên.

Một cái nhìn (địa chiến lược) khác, Mỹ lại không muốn thấy một “đại cường” TQ, đối trọng với Mỹ trong khu vực. Mỹ không thể tái dựng lại “chiến tranh lạnh” nhằm cô lập TQ mà chỉ có thể thiết lập một hàng rào các nước đồng minh để bao vây TQ. Các nước nằm trong “hàng rào” của Mỹ đều là các nước giàu (hay tương đối giàu hơn VN) và mạnh.

VN có vị trí rất “đắc địa”, vì là thanh kiếm dưới yết hầu của TQ. Dĩ nhiên được Mỹ coi trọng.
VN có hai lựa chọn:

Một là không liên minh với ai hết (theo như ý nguyện của Bắc Kinh) như hiện nay. Kết quả là nghèo đói kinh niên, (lãnh thổ mất lần hồi) vì đó là mục đích chiến lược của TQ.

Hai là “liên minh” với Mỹ để trở thành một nước giàu và mạnh (ít ra như Đại Hàn). Vì một VN nghèo đói sẽ không ngăn cản được TQ mà còn là một gánh nặng cho Mỹ.

Lựa chọn nào có lợi cho VN ?

Chỉ có liên minh với Mỹ VN mới có thể bảo vệ được toàn vẹn lãnh thổ, vùng biển, vùng trời của quốc gia mình. Nước này, với một lực lượng luật gia hùng hậu, cũng là nước duy nhất có thể giúp VN trên mặt trận pháp lý.