1/ Phi kiện Trung Quốc về các điều gì ?
Ngày 23 tháng giêng năm 2013,
trên trang web của của Bộ Ngoại giao Phi (DFA), có đăng văn bản giải thích, qua
hình thức câu hỏi và trả lời, các thủ tục và nguyên nhân vì sao Phi kiện Trung
Quốc trong vấn đề tranh chấp tại biển Tây Phi. Theo văn bản này, bộ Ngoại giao
Phi đã chuyển công hàm đến tòa Đại sứ Trung quốc tại Manille vào chiều ngày
22-1-2013, cho biết Phi đã nộp hồ sơ đưa Trung Quốc ra Tòa trọng tài theo Phụ
lục VII của Công ước Quốc Tế về Biển 1982. Ngoại trưởng Albert del Rosario sau
đó họp báo và giải thích, sở dĩ Phi đã phải dùng tới giải pháp này vì đã cạn
kiệt mọi giải pháp chính trị và ngoại giao nhằm giải quyết tranh chấp hòa bình
với Trung quốc tại Biển Tây Phi (WPS).
Theo công hàm gởi Tòa và Đại
sứ TQ tại Manille, hồ sơ kiện của Phi được thành lập gồm 7 phần và 43 điều. Phần
I, giới thiệu bối cảnh, từ điều 1 đến điều 8. Phần II “Bối cảnh”, từ điều 9 đến
điều 30, được phân ra làm 4 tiểu đoạn A, B, C, D. Phần III “Nội dung kiện”, điều
31. Phần IV “Thẩm quyền của Tòa trọng tài”, từ điều 32 đến điều 40. Phần V “Yêu
cầu chế tài”, điều 41. Phần VI “Chỉ định trọng tài”, điều 42. Phần VII “quyền
bảo lưu”, điều 43.
Ngay từ dòng đầu tiên, điều 1
Phần mở đầu, ta có thể thấy tức khắc Phi muốn kiện Trung Quốc ở các điều gì.
Phần mở đầu, “Lời giới thiệu”:
Điều 1, Phi cho biết việc kiện
của Phi là nhằm : “phản đối yêu sách của Trung Quốc đối với các khu vực trên
biển Đông và vùng đáy biển cách bờ biển gần nhứt của Trung Quốc là 870 hải lý”,
bởi vì các khu vực biển này “Trung Quốc không có quyền theo Công ước về Luật
biển 1982 (UNCLOS), mà các vùng biển này tạo nên vùng Kinh tế độc quyền (EEZ)
và thềm lục dịa của Phi”.
Điều 2, tố cáo Trung Quốc
không thực thi UNCLOS một cách có thiện chí, như việc vạch tự tiện đường 9 đoạn
chữ U, ngược với tinh thần điều 300 của UNCLOS.
Điều 5, Phi phản đối việc TQ
thành lập đơn vị hành chính trực thuộc đảo Hải Nam và chính quyền tỉnh áp dụng
luật một cách tự tiện.
Điều 6, Phi mong muốn có một
phán quyết, bao gồm 3 ý nghĩa chính: 1) yêu sách của TQ dựa trên đường 9 đoạn
là không phù hợp với UNCLOS và vô giá trị; 2) xác định tình trạng pháp lý một
số cấu tạo địa chất mà Phi và Trung Quốc cùng có yêu sách chủ quyền, theo điều
121, chúng có phải là “đảo”, bãi cạn, bãi chìm hay không? Các cấu tạo này có
quyền được hưởng vùng biển rộng hơn 12 hải lý hay không? và 3) tạo điều kiện
cho Phi được hưởng các quyền của mình.
Điều 7, Phi xác định không yêu
cầu Tòa trọng tài phán quyết việc bên nào có chủ quyền ở các đảo, cũng không
yêu cầu Tòa phân định ranh giới trên biển nhằm để tránh những ràng buộc của
tuyên bố bảo lưu của TQ ngày 25-8-2006 về điều 298 UNCLOS (không nhìn nhận thẩm
quyền của Tòa trọng tài).
Từ mong muốn được Tòa phán
quyết trên 3 thỉnh nguyện ở điều 6, phần III “Nội dung kiện” 3 thỉnh nguyện này
được chi tiết hóa, trở thành 10 điểm yêu cầu Tòa, tóm lược như sau:
1.
Các
quyền của TQ và Phi ở biển Đông phải tuân thủ theo UNCLOS. (Các quyền được xác
định theo phần II đối với lãnh hải và vùng tiếp giáp, theo phần V đối với vùng
ZEE và theo phần VI đối với thềm lục địa).
2.
Yêu
sách đường 9 đoạn của TQ là vô giá trị.
3.
Các
cấu tạo lúc chìm lúc nổi, không nằm trong lãnh hải các quốc gia ven biển, thuộc
đáy biển, thì không thể chiếm hữu, ngoại trừ cấu tạo đó nằm trên thềm lục địa
của quốc gia theo phần VI UNCLOS.
4.
Các
bãi Vành Khăn, Mc Kennan, Xi Bi và Gaven là các cấu tạo chìm khi thủy triều
lên, không phải là đảo theo qui định của điều 121 UCLOS, cũng không nằm trên
thềm lục địa TQ, việc TQ chiếm đóng có trái phép hay không và việc xây dựng
trên các bãi cạn này có trái phép hay không ?
5.
Bãi
Vành Khăn và McKennan thuộc thềm lục địa của Phi theo phần VI của UNCLOS.
6.
Bãi
Hoàng Ngam và các đá Châu Viên, Gạc Ma, Chữ Thập là các bãi chìm, ngoài trừ vài
mỏm đá nhô trên nước khi thủy triều lên. Chúng chỉ là « đá » theo
điều 121 khoản 3 của UNCLOS, vì thế chỉ có thể có lãnh hải không quá 12 hải lý.
TQ đã đòi hỏi một cách phi lý quyền mở rộng các vùng biển quá 12 hải lý tại các
cấu tạo này.
7.
TQ
đã vi phạm luật pháp khi ngăn cấm các tàu của Phi khai thác các vùng biển cận
Hoàng Nham và đá Gạc Ma.
8.
Phi
có quyền về lãnh hải 12 hải lý, ZEE 200 hải lý và thềm lục địa, theo các phần
II, V và VI của UNCLOS, tính theo đường cơ bản quần đảo của Phi.
9.
TQ
đã yêu sách một cách bất hợp pháp các quyền đối với tài nguyên sinh vật và phi
sinh vật và đã khai thác phi pháp các tài nguyên này và cũng đã vi phạm pháp
luật khi không cho Phi khai thác các tài nguyên sinh vật và phi sinh vật trong
vùng EEZ và thềm lục địa của mình.
10.
TQ
đã can thiệp một cách bất hợp pháp quyền tự do hàng hải của Phi được xác định
theo UNCLOS.
2/ Thử giải thích ý
nghĩ pháp lý các yêu cầu:
Từ 10 điểm trong nội dung kiện, Phi yêu cầu Tòa phán quyết ở 13 điểm, theo
như điều 41 phần V “Yêu cầu chế tài”. Các điểm quan trọng ghi lại như sau:
Điểm 1, Phi yêu cầu Tòa phán rằng các quyền của các bên ở biển Đông phải
tuân thủ theo UNCLOS. Ở đây nên phân biệt quyền chủ quyền về kinh tế tại vùng
độc quyền kinh tế (EEZ) và thềm lục địa 200 hải lý và các quyền chủ quyền khác (như
trên đất liền) tại vùng lãnh hải (12 hải lý) và tiếp cận lãnh hải (12 hải lý),
phù hợp với nội dung các phần V, VI và II của UNCLOS. Điểm này Tòa có thể tuyên
bố chấp thuận dễ dàng, vì nó thuộc thẩm quyền của tòa và vì nó phản ảnh nội
dung của UNCLOS. Lợi ích ở điều này là đặt các yêu sách về quyền của Trung Quốc
vào trong khuôn khổ của Luật quốc tế. Trường hợp các tàu vũ trang của TQ đột
lốt “hải giám” (mà hành sử như “hải tặc”) ở vùng biển của VN trong vài năm nay,
từ nay phải hành sử trong khuôn khổ của Luật quốc tế cho phép.
Điểm hai, Phi yêu cầu tòa tuyên bố yêu sách của TQ qua bản đồ đường 9
đoạn là vô giá trị. Điểm này Tòa có thể tuyên bố thuận, vì vẫn nằm trong thẩm
quyền của tòa, do hai lý do : 1/ bản đồ 9 đoạn không có giá trị ràng buộc
vì không phải là bản đồ phân định ranh giới, chưa hề được nhìn nhận bởi các bên
liên quan như kết quả của một (hay nhiều) kết ước phân định ranh giới biển. 2/ TQ
không chứng minh được “quyền lịch sử” hay “vùng nước lịch sử” của họ tại vùng biển giới hạn trong đường 9
đoạn. (TQ chưa bao giờ thể hiện thẩm quyền chủ tể của họ tại vùng biển này. Giả
sử có, thì thẩm quyền này đã không thể hiện một cách liên tục. Trong khi các
nước trong khu vực chưa bao giờ, ám thị hay minh thị, chấp nhận thẩm quyền của
TQ trong vùng biển).
Nếu Tòa tuyên bố thuận, việc này sẽ buộc phía TQ làm sáng tỏ các luận cứ
của mình, nếu muốn duy trì đòi hỏi các quyền chủ quyền ở biển Đông. Phía TQ, có
lẽ đã ý thức sự phi lý của bản đồ chữ U, do đó trong thời gian gần đây có
khuynh hướng tuyên bố « TQ có chủ quyền không thể chối cãi các đảo HS và
HS và vùng biển chung quanh » chứ không nhắc tới “quyền lịch sử” hay vùng
“nước lịch sử” tại vùng biển này nữa. Phía TQ phải đưa các chứng cớ cụ thể để chứng
minh « chủ quyền không thể chối cãi tại các đảo » và giải thích « vùng
biển chung quanh » là vùng biển được xác định theo tiêu chuẩn nào ?
Điểm 3, yêu cầu Trung Quốc sửa luật quốc gia cho phù hợp với UNCLOS.
Điều này có thể dễ dàng được Tòa chấp thuận, nếu hai điểm yêu cầu 1 và 2 ở trên
được chấp thuận. Tuy nhiên, điều khs khăn là Trung Quốc đòi chủ quyền toàn bộ
các đảo thuộc Hoàng Sa và Trường Sa, Luật Biển của nước này áp dụng trên các
đảo này từ năm 1958.
Ta thấy, điều 6 (điểm 2), phần I “Lời giói thiệu”, ta thấy Phi yêu cầu :
xác định tình trạng pháp lý một số cấu tạo địa chất mà
Phi và Trung Quốc cùng có yêu sách chủ quyền, theo điều 121, chúng có phải là “đảo”,
bãi cạn, bãi chìm hay không? Các cấu tạo này có quyền được hưởng vùng biển rộng
hơn 12 hải lý hay không?
Dầu vậy, toàn bộ 10 điểm trong nội dung kiện (điều 31), cũng như ở 13 điểm
khiếu nại (điều 41), Phi hoàn toàn không nhắc lại yêu cầu đã nói ở điều 6 (điểm
2). Đây là do cố ý hay do sơ sót ? Nếu Phi không nhanh chóng sửa đổi hồ sơ, như
đã bảo lưu ở điều 43, các điểm mờ về pháp lý của các đảo thuộc Trường Sa vẫn
còn nguyên. Việc này dẫn đến các nước có các tuyên bố tự tiện, đối chọi nhau về
cách diễn giải điều 121, về hiệu lực của các đảo.
Mặt khác, các cấu tạo địa chất mà Phi và Trung Quốc cùng dành chủ quyền
ở Trường Sa có rất nhiều, là toàn bộ các đảo của Phi hiện đang chiếm, như đảo
Thị Tứ. Một điểm khác mà Phi đã quên Việt Nam, một bên đòi hỏi chủ quyền các
đảo. Phía Trung Quốc chỉ “đòi miệng” chứ chưa bao giờ, trên phương diện pháp lý
và trên thực tế, đã từng đặt chân trên các đảo mà họ đòi chủ quyền. Trong khi các
đảo mà Phi hiện chiếm tại TS là do chiếm hữu một cách trái phép của VN, trong
các thập niên 60, 70, trong lúc tình trạng chiến tranh hai miền Nam Bắc đã
khiến chính quyền Sài Gòn không có đủ phương tiện để bảo vệ các đảo này. Phía
VN có đầy đủ tư cách từ pháp lý, đến việc chiếm hữu trên thực tế trong một thời
gian dài và liên tục, để chứng minh chủ quyền của VN trên các đảo đó.
Các điểm 4 và 5, Phi yêu cầu Tòa tuyên bố bãi Vành Khăn và McKennan, vốn
là các cấu tạo địa lý chìm thường trực dưới mặt biển, thuộc thềm lục địa của Phi theo phần VI của
UNCLOS và yêu cầu Trung Quốc ngưng chiếm đóng và ngưng các sinh hoạt tại hai
bãi này.
Các điểm 6 và 7, Phi yêu cầu Tòa tuyên bố các cấu tạo Xu Bi và Gaven, là
các cấu tạo dưới mặt nước, không thuộc qui
chế đảo theo qui định của điều 121 UCLOS, cũng không nằm trên thềm lục địa TQ
vì vậy việc Trung Quốc chiếm đó và xây dựng trên các bãi này là trái phép.
Các yêu cầu 4, 5, 6 và 7 là chính đáng, có thể được Tòa chấp thuận, vì
thuộc thẩm quyền của tòa. Lý do, các cấu tạo địa lý chìm dưới mặt nước dĩ nhiên
không phải là « một lãnh thổ ». Nếu không phải là lãnh thổ thì làm
sao có thể chiếm hữu, sau đó xây dựng thành các đảo nhân tạo, từ đó đòi hỏi các
quyền chủ quyền ?
Điểm 8, bãi Hoàng Nham và các đá Châu Viên, Gạc Ma, Chữ Thập là các bãi
chìm, ngoài trừ vài mỏm đá nhô trên nước khi thủy triều lên. Chúng chỉ là
« đá » theo điều 121 khoản 3 của UNCLOS, vì thế chỉ có thể có lãnh
hải không quá 12 hải lý. Phi yêu cầu Tòa phán rằng TQ đã đòi hỏi một cách phi
lý quyền mở rộng các vùng biển quá 12 hải lý tại các cấu tạo này.
Tuy vậy, phần “Nội dung kiện”, điều 31 điểm 6, yêu cầu của Phi, về các
cấu tạo lúc chìm lúc nổi, không nằm trong lãnh hải các quốc gia ven biển, thì
không thể chiếm hữu, ngoại trừ cấu tạo đó nằm trên thềm lục địa của quốc gia
theo phần VI của UNCLOS. Điểm này không nói lại rõ rệt trong điểm 8 của phần V “Yêu
cầu chế tài”.
Yêu cầu của Phi ở điểm này rất chính đáng và hữu ích, vì nó có thể làm
sáng tỏ một điểm mờ từ nhiều năm nay trong Luật quốc tế về Biển. Nó sẽ loại bỏ được
các đòi hỏi phi lý của các nước về các quyền chủ quyền tại các cấu trúc địa lý
lúc nổi lúc chìm, như trường hợp các bãi cạn mà TQ đã cưỡng chiếm bằng vũ lực
trong vùng Biển của VN năm 1988.
Phi vịn vào phần VI của UNCLOS để yêu cầu nhưng không có điều nào trong
bộ Luật Quốc tế về Biển xác định về tình trạng pháp lý của các cấu tạo lúc chìm
lúc nổi.
Trong vụ kiện giữa Qatar và Bahreïn (Qatar đơn phương kiện Bahreïn lên
CIJ), Tòa có nói về việc này như sau:
“luật pháp quốc tế im lặng về tình
trạng pháp lý của các bãi lúc chìm lúc nổi, các bãi này có thể xem như là một
“lãnh thổ” hay không ? luật pháp hiện hành cũng không thể xác định là các bãi
đó có thể xem như là một lãnh thổ tương đương với “đảo” hay không”.
Tức UNCLOS không nói gì về tình trạng pháp lý của các bãi lúc chìm lúc
nổi.
Vấn đề đặt ra, do kẻ hở pháp lý này, phía TQ có thể chiếm hữu các cấu
tạo địa lý này đồng thời tuyên bố các quyền thuộc chủ quyền của họ (về lãnh
hải, EEZ, thềm lục địa...), như trường hợp đá Hoàng Nham.
Tuy nhiên, trong vụ tranh chấp giữa Tân Gia Ba và Mã Lai về chủ quyền
của các đảo Pedra Branca/Pulau Batu Puteh, Middle Rocks và South Ledge qua phán
quyết của Tòa án Quốc tế (CIJ) ngày 23-5-2008, ta thấy trường hợp tương tự. South Ledge là một đảo đá lúc chìm lúc nổi, chỉ
thấy khi thủy triều thấp. Trường hợp này, tòa có nhắc lại tình trạng mơ hồ về
pháp lý của các cấu trúc địa lý này trong vụ án dẫn trên, nhưng Tòa phán rằng South Ledge nằm ở vùng lãnh hải nước
nào thì sẽ thuộc chủ quyền của nước đó.
Nếu phán quyết này trở thành một “án lệ”, (và các bãi lúc nổi lúc chìm
không được chiếm hữu), yêu cầu của Phi có thể được Tòa chấp thuận.
Một ghi nhận khác, cũng ở điểm 8, dường như Phi, một cách ám thị, đã
nhìn nhận chủ quyền của TQ tại các cấu tạo địa lý này. Mà điều này không đúng.
Bởi vì các đá Châu Viên, Gạc Ma, Chữ Thập… là các cấu trúc địa lý của VN, vì
chúng là một thành phần không thể tách rời của
các đảo cận bên mà các đảo này thuộc về VN.
Có lẽ mục tiêu của Phi là nhằm “khoanh vùng tranh chấp” với Trung Quốc. Vì
Tòa không có thẩm quyền phân xử tranh chấp chủ quyền, do đó ý kiến (ám thị) của
Phi có thể “vô hại”. Vùng tranh chấp giữa Phi và TQ như vậy được xác định không
quá 12 hải lý chung quanh các bãi đá Hoàng Nham, Châu Viên, Gạc Ma và Chữ Thập.
Ngoài việc bảo lưu các đá trên thuộc VN, yêu cầu của Phi là chính đáng.
Vì, các đá này nếu thuộc về VN hay của nước nào khác, thì cũng chỉ là “đá” đúng
như định nghĩa ở điều 121, khoản 3 của UNCLOS, không thể đòi vùng biển quá 12
hải lý. Ở yêu cầu này Tòa có thể thỏa mãn cho
Phi vì nó thuộc thẩm quyền của Tòa và phù hợp với Luật quốc tế.
Điểm 9, Phi yêu cầu Tòa phán rằng TQ đã vi phạm luật pháp khi ngăn cấm
các tàu của Phi khai thác các vùng biển cận Hoàng Nham và đá Gạc Ma. Nhưng ở
điểm này Tòa sẽ khó tuyên bố chấp thuận cho Phi, vì các đá này có phần nổi
thường trực trên mặt nước, do đó TQ có quyền chiếm hữu. Nếu đá đó thuộc chủ
quyền của TQ, các tàu bè của các nước khác, kể cả Phi, không được đi vào trong
vòng 12 hải lý tính từ các đá đó để khai thác về kinh tế. Thâm ý của Phi ở đây,
vì không được đụng đến vấn đề “chủ quyền” (ngoài thẩm quyền của Tòa do bảo lưu
của TQ), do đó nếu yêu cầu này được chấp thuận, các bãi đá này sẽ thuộc về chủ
quyền của Phi.
Điểm 10, Phi có quyền về lãnh hải 12 hải lý, ZEE 200 hải lý và thềm lục
địa, theo các phần II, V và VI của UNCLOS, tính theo đường cơ bản quần đảo của
Phi. Tòa có thể tuyên bố chấp thuận cho Phi sau khi xem xét ít nhứt hai điều:
a) đường cơ bản quần đảo của Phi phù hợp với UNCLOS đồng thời không bị các nước
khác phản đối. b) không bị chồng lấn bởi hiệu lực của các đảo thuộc về một nước
khác.
Trên thực tế, các đảo thuộc Trường Sa của VN, là các đảo có thể có người
sinh sống và có thể có nền kinh tế tự túc, do đó có thể có một hiệu lực nhứt
định về lãnh hải, vùng kinh tế độc quyền và thềm lục địa, chiếu theo điều 121
của UNCLOS. Việc này có thể tạo vùng chồng lấn với vùng EEZ của Phi.
Yêu cầu của Phi ở điều này cũng có hậu ý. Có thể nhằm mục đích “cắt cỏ
dưới chân” các nước có yêu sách đòi quyền chủ quyền ở các đảo Trường Sa, nếu
yêu cầu của Phi được Tòa chấp thuận.
Việc Tòa chấp thuận, hàm ý các đảo thuộc Trường Sa quá nhỏ để có thể có
xếp vào khoản 3 của điều 121 UNCLOS. Điều này đã đề cập ở phần “Nội dung kiện” nhưng không đưa vào phần “Yêu cầu chế tài”.
Điểm 11, Phi yêu cầu Tòa phán rằng TQ đã yêu sách một cách bất hợp pháp
các quyền đối với tài nguyên sinh vật và phi sinh vật và đã khai thác phi pháp
các tài nguyên này, cũng như đã vi phạm pháp luật khi không cho Phi khai thác
các tài nguyên sinh vật và phi sinh vật trong vùng EEZ và thềm lục địa của mình.
Nếu Tòa đáp ứng yêu cầu của Phi ở điểm 10, tức các cấu trúc địa lý thuộc
Trường Sa chỉ là đá, theo khoản 3 điều 121 UNCLOS, thì đương nhiên Tòa sẽ chấp
thuận yêu cầu của Phi, ngoại trừ các vùng biển bán kính không quá 12 hải lý
(điểm 6), tính từ các cấu trúc địa lý nằm trong vùng EEZ của Phi, nếu các cấu
trúc này thuộc chủ quyền của nước khác.
Điểm 12, Phi yêu cầu Tòa lên án TQ đã can thiệp một cách bất hợp pháp
quyền tự do hàng hải của Phi được xác định theo UNCLOS. Điểm này Phi cần đưa
chứng cớ là TQ đã cản trở quyền tự do hàng hải của nước này khi nào ? ở đâu ?
trường hợp nào ? Tùy thuộc địa điểm, tùy thuộc vùng biển (lãnh hải hay vùng
EEZ) mà Tòa có thể tuyên bố thuận hay không.
Điểm này Phi cũng có mục tiêu nhắm tới các tàu hải giám của TQ, đã hoạt
động một cách ngang ngược trong vùng biển giới hạn bởi tấm bản đồ 9 đoạn.
Điểm 13, Phi yêu cầu tòa tuyên bố Trung Quốc phải chấm dứt các hành vi
bất hợp pháp.
3/ VN Có lợi ích gì từ
vụ kiện này?
Vụ kiện TQ của Phi, dầu VN không can dự, nhưng cũng là một bên liên
quan, như Phi, đối với Trung Quốc. Có điều quan hệ giữa VN và TQ phức tạp vì
tròng tréo nhiều điều như văn hóa, lịch sử, chính trị, ơn nghĩa, ý thức hệ…
trong khi quan hệ Trung-Phi đơn giản hơn nhiều. Tuy vậy, VN có thể hưởng lợi ở
một số điều (theo nội dung vụ kiện) như sau:
Điểm 1, lợi ích là đặt tất cả các bên Trung Quốc, Phi và VN vào trong
khuôn khổ của Luật quốc tế. Vùng kinh tế độc quyền của TQ (Phi và VN) do đó
phải được xác định rõ rệt theo UNCLOS. Việc này sẽ giúp VN tránh được các tàu
vũ trang TQ, đột lốt “hải giám” (mà hành sử như “hải tặc”), cắt cáp các tàu
nghiên cứu của VN, cho đấu thầu khai thác trên thềm lục địa của VN…. trong vùng
biển EEZ của VN, vào các năm qua, ở vùng biển của VN.
Điểm hai, Phi yêu cầu tòa tuyên bố yêu sách của TQ qua bản đồ đường 9
đoạn là vô giá trị. Điểm này có nhiều sác xuất Tòa sẽ tuyên bố theo yêu cầu của
Phi. Và đây cũng là điều mà VN mong muốn TQ dẹp bỏ từ bấy lâu nay mà không
được.
Các điểm 3, 4, và 6 về tình trạng pháp lý các cấu tạo lúc chìm lúc nổi,
hay các cấu tạo thường xuyên bị chìm, cũng rất có thể Tòa sẽ chấp thuận các yêu
cầu của Phi, vì nó phù hợp với UNCLOS và tập quán quốc tế. Nếu vậy, điều này sẽ
giúp ích cho VN lý lẽ để đối phó với
những ngang ngược của TQ, khi họ dành quyền chủ quyền (về kinh tế) của
VN tại các bãi Tư Chính, Vũng Mây... (mà TQ gọi là Vạn An Bắc) vốn là các bãi
chìm dưới nước. Việc này cũng sẽ khiến TQ từ bỏ chủ quyền tại cái gọi là
« quần đảo » Trung Sa, vốn là một bãi ngầm dưới 50m mặt nước.
Điểm 7, Phi yêu cầu Tòa phán rằng TQ đã vi phạm luật pháp khi ngăn cấm
các tàu của Phi khai thác các vùng biển cận Hoàng Nham và đá Gạc Ma. Điều này
cũng có lợi cho VN, vì yêu sách của TQ đối với Phi không khác đối với VN ở một
số bãi cạn.
Điểm 8, VN nên cân nhắc, có nên lên tiếng hay không về việc hồng lấn
vùng biển thuộc các đảo TS của VN với vùng EEZ của Phi ? Cũng như ở điểm 4, có
nên bảo lưu chủ quyền của VN ở các đá Châu Viên, Gạc Ma, Chữ Thập…?
Điểm 9, yêu cầu của Phi có mục tiêu nhắm đến các “luật cấm biển” của TQ
và các tàu hải giám của TQ. Các tàu này đã lộng hành trong vùng biển TS, bất
chấp luật lệ quốc tế đồng thời trắng trợn xâm phạm chủ quyền và quyền chủ quyền
của Phi (cũng như VN) tại vùng biển này. Yêu cầu này của Phi rất có thể sẽ được
Tòa chấp thuận. Việc này cũng đem lại lợi ích cho VN.
4/ Thái độ của Trung Quốc:
Phản ứng việc này, phát ngôn
nhân Hồng Lỗi thuộc bộ Ngoại giao Trung Quốc đáp rằng : “Phi hiện đang chiếm
giữ một số đảo của Trung quốc” và “Trung quốc kiên quyết phản đối việc chiếm
giữ trái phép của Phi”. Trung Quốc cũng cảnh cáo rằng Phi “chớ làm phức tạp”
thêm vấn đề.
Thái độ của Trung Quốc, xét qua tuyên bố trên, có thể nước này sẽ không
màng đến việc kiện cáo này. Theo ý kiến của các chuyên gia quốc tế, vụ kiện dầu
vậy cũng có thể tiếp diễn, cho dầu TQ không có mặt. Quyết định của Phi đưa TQ
ra Tòa quốc tế, theo nội dung các điểm khiếu kiện, cũng được các chuyên gia này
đánh giá là đúng đắn. Thái độ của Trung Quốc đối với vụ kiện sẽ là thuốc thử để
thế giới đánh giá về tư cách cường quốc của Trung Quốc : một nước lớn có trách
nhiệm với cộng đồng thế giới hay là một nước hành sử ỷ mạnh hiếp yếu, tự cho
phép đứng trên mọi luật lệ, mọi giá trị cơ bản của cộng đồng các nước văn minh
trên thế giới.
Việc TQ tuyên bố “Phi hiện đang chiếm giữ một số đảo
của Trung quốc” và “Trung quốc kiên quyết phản đối việc chiếm giữ trái phép của
Phi”, có thể hiểu rằng có thể TQ sẽ sử dụng các phương pháp khác (không hòa
bình) để lấy lại các đảo này.
Aucun commentaire:
Enregistrer un commentaire
Remarque : Seul un membre de ce blog est autorisé à enregistrer un commentaire.