vendredi 24 septembre 2021

AUKUS và “khủng hoảng tàu ngầm”.

 Sau cú điện thoại của tổng thống Biden gọi cho TT Macron, hai bên Mỹ và Pháp ra tuyên bố chung ngày 22-9-2021. Phía Mỹ có vẻ nhìn nhận sai lầm của mình. Đó là chuyện Mỹ đã không tham vấn trước với đồng minh, khi Mỹ và Úc phá vỡ “hợp đồng tàu ngầm” ký kết giữa Pháp và Úc năm 2016. Nhưng đây không phải là một lời xin lỗi mà người dân Pháp muốn nghe. Dư luận báo chí đa số chỉ bàn về “hợp đồng tàu ngầm” dưới cái nhìn thuần túy kinh tế mà phần lớn sự kiện bị lệch lạc. Phần chìm của tảng băng là ý kiến của cựu thủ tướng nước Úc Kevin Rudd trong bài viết đăng trên báo Le Monde hôm qua 21-9-2021. 

Ông Kevin Rudd cho rằng hợp đồng tàu ngầm không phải là một hợp đồng thuần túy kinh tế mà là trọng điểm trong quan hệ chiến lược Úc và Pháp. Theo ông này thủ tướng Scott Morrison đã phạm nhiều sai lầm. Morrison hành sử thiếu chuyên nghiệp, cái cách mà người ta không thể sử dụng cho kẻ thù của mình, huống chi đối với  “đồng minh chiến lược” của Úc là nước Pháp. 

Cựu thủ tướng Kevin Rudd cho rằng bộ trưởng bộ Ngoại giao Pháp Jean-Yves Le Drian có lý, khi ông này lớn tiếng chỉ trích Úc “dối trá”, chơi trò “lật lọng” và “đâm sau lưng” đồng minh.

Nhắc lại Hiệp ước AUKUS được công bố qua cuộc họp báo chung ba bên Mỹ, Anh, Úc hôm 15 tháng Chín 2021. AUKUS là chữ viết tắt của AUstralia - United Kingdom và United States - nước Úc đứng đầu, nước Anh đứng thứ hai nhưng ai cũng thấy Mỹ mới là “anh hai” đứng đầu trong liên minh mới thành lập. Mục đích thành lập liên minh “chống TQ” dưới tiêu chí “bảo vệ trật tự quốc tế dựa trên luật lệ”. 


Sau cuộc họp báo, Úc tuyên bố vì nhu cầu thay đổi nên Úc ngưng hợp đồng tàu ngầm với Pháp. Úc quyết định chuyển sang tàu ngầm chạy bằng lò nguyên tử do  Mỹ chế tạo, thay vì tàu ngầm qui ước chạy bằng diesel của Pháp. 


Các lý do hủy bỏ hợp đồng với Paris, Thủ tướng Scott Morrison nhắc các việc hợp đồng không tuân thủ qua các khía cạnh “đội giá”, (từ 50 tỉ đô Úc lên đến 90 tỉ đô Úc), không chuyển giao công nghệ, giao hàng trễ và hợp đồng với Pháp không tạo nhiều việc làm trên lãnh thổ Úc. 

Về nhu cầu “tàu ngầm hạt nhân”. Các quốc gia Nhật (1995), Ấn độ (1998) và Úc (2012) đã là “đồng minh chiến lược” của Pháp. Năm 2017 hai bên Úc-Pháp nâng tầm hiệp định lên “quan hệ chiến lược toàn diện”, bao gồm nhiều lãnh vực (quốc phòng, an ninh, chính trị, kinh tế, văn hóa…). Cả bốn quốc gia này chia sẻ một quan niệm chiến lược chung về “Ấn Độ - Thái bình dương”. 

Úc đàm phán với Pháp từ năm 2014 để mua tàu ngầm và hợp đồng được ký năm 2016. Tức là “hợp đồng tàu ngầm” là “điểm nhấn” của “trục chiến lược” Úc-Pháp trong khu vực “Ấn độ - Thái bình dương”. 

Từ quá trình đàm phán đến lúc ký kết “hợp đồng tàu ngầm”, nhu cầu của Úc luôn là “tàu ngầm qui ước”. Pháp đã phải thay đổi, từ nền tảng kỹ thuật của lớp Barracuda, vốn là tàu ngầm tấn công nguyên tử, trở thành tàu ngầm qui ước chạy diesel cho phù hợp với nhu cầu quốc phòng của Úc. 

Về điểm này cựu thủ tướng Kevin Rudd phê bình: “Tôi thấy quyết định của chính phủ Scott Morrison có nhiều điểm sai lầm sâu sắc, từ cơ bản. Quyết định này vi phạm tinh thần quan hệ đối tác chiến lược mà Pháp và Australia thông qua vào năm 2012, được Thủ tướng Australia, Malcolm Turnbull, củng cố thành “đối tác chiến lược toàn diện” vào năm 2017… Nước Úc đã phạm sai lầm là không cho cơ hội nước Pháp đệ trình một dự án khác về tàu ngầm nguyên tử mà nước này có bề dày kinh nghiệm trong quá trình sản xuất… Scott Morrison đã không tôn trọng qui tắc ngoại giao, là không thông báo trước cho đối tác mà đã công bố quyết định đơn phương của Úc ra trước công chúng…” 

Về việc “đội giá”. Hợp đồng hai bên ký kết có qui định mục “đền bồi”, nếu một bên không tuân thủ, hay sơ suất một điều gì đó đã qui định theo hợp đồng. Vụ “đội giá” thường xảy ra lúc thi hành hợp đồng, hoặc do giá cả vật liệu gia tăng, hoặc do đồng tiền (Úc) bị mất giá. (Ta thấy vụ “đội giá” đường sắt Cát linh - Hà đông ở Hà nội do nhà thầu TQ xây dựng. “Đội” biết bao nhiêu lần mà phía VN chỉ móc tủi ra trả mà không làm được chuyện gì).

Về các lý do “chuyển giao công nghệ”, giao hàng trễ và hợp đồng với Pháp không tạo nhiều việc làm trên lãnh thổ Úc. 

Báo chí bên Pháp phản biện rằng hợp đồng ghi thời hạn giao đến năm 2030. Chưa đến thời hạn giao thì làm gì có vụ “giao hàng trễ” ? Trong khi tàu ngầm được chế tạo bằng thép của Úc, tại các nhà máy được xây dựng trên đất Úc và với công nhân của Úc. 

Vài giờ trước khi tuyên bố hủy bỏ hợp đồng, đại diện bộ Quốc phòng Pháp còn nhận được thư từ đồng nhiệm ở Úc bày tỏ sự hài lòng qua những gì mà Pháp đã thực hiện trên thực tế. Lá thư còn khen ngợi những khả năng ưu việt của tàu ngầm Barracuda… 

Pháp có thể cung cấp cho Úc tàu ngầm nguyên tử lớp “tấn công”, y như nguyện vọng của Úc. Tàu ngầm của Pháp năng lượng chạy hầu như “vô hạn”, có thể hoạt động liên tục dưới biển sâu 277 ngày mỗi năm, với giá rẻ hơn tàu ngầm của Mỹ. Pháp có thể cung cấp nhanh chóng hơn Mỹ thời gian 10 năm và phía Úc được lợi nhiều hơn (do chuyển nhượng kỹ thuật). 

Đúng như cựu thủ tướng Úc Kevin Rudd đã nói: Hợp đồng cung cấp tàu ngầm không phải là một hợp đồng kinh tế. Đây là một phần của kết ước “chiến lược” giữa hai quốc gia Úc và Pháp. 

Thành lập liên minh AUKUS rõ ràng là Scott Morrison đã “rập khuôn” tầm nhìn chiến lược của nước Úc lên quan niệm chiến lược toàn cầu của Mỹ (đúng ra là “lý thuyết Biden”).

Bài thuyết trình của TT Biden trước Đài hội đồng LHQ hôm kia ta có thể nhìn thấy phần cốt lõi của “lý thuyết Biden”. 

Tổng thống Biden cho biết Mỹ đang "mở ra một kỷ nguyên ngoại giao không ngừng". 

Vấn đề là liên minh AUKUS là một nhát dao “đâm sau lưng đồng minh”. Cái cách hành sử của thủ tướng Morrison tệ hại đến đỗi tập quán ngoại giao quốc tế còn không sử dụng cho kẻ thù. Huống chi đối đãi với đồng minh có ký kết hiệp ước “chiến lược toàn diện”.  

Mục tiêu của AUKUS, qua tuyên bố của ba bên, là "bảo vệ trật tự quốc tế dựa trên luật lệ". 

Mà "luật lệ quốc tế" được xây dựng trên "niềm tin" giữa các quốc gia. Các hiệp ước, kết ước giữa các quốc gia cấu thành “luật quốc tế”.


AUKUS thành hình trên một sự "bội ước". Niềm tin giữa các đồng minh đã bị đổ vỡ. 


Biden cũng nhấn mạnh rằng : "Mỹ sẵn sàng làm việc với bất kỳ quốc gia nào ủng hộ và theo đuổi giải pháp hòa bình để chia sẻ thách thức, ngay cả khi chúng ta có bất đồng gay gắt trong các lĩnh vực khác".


Rõ ràng ý kiến này dành cho Việt Nam. 


Liên minh AUKUS đã cung cấp cho các lãnh đạo CSVN thân TQ những lập luận vững chắc để khẳng định “Mỹ không đáng tin cậy”. VN không được ngã theo Mỹ. 


Ai cũng biết rằng điều lo sợ của Mỹ là thấy một ngày nào đó bị TQ “qua mặt”. Đó là lý do Mỹ thành lập liên minh AUKUS. 

Đây không còn là một “dự kiến” mà có thể là sự thật. 

GDP của TQ có thể “qua mặt” Mỹ trong vòng vài năm tới. Kỹ thuật 5G của TQ, cũng như các thành quả về không gian, về “vật lý nguyên lượng” áp dụng cho máy tính, cũng như đà phát triển kinh tế của TQ sau Covid-19… Khả năng quốc phòng của TQ, về hải quân, không quân… ngày một tăng cao. Trong chừng mực một số lãnh vực TQ đã tiệm cận với “tầm” của Mỹ. 

TQ là "đối thủ chiến lược của Mỹ". Nhận định này đã có từ lâu. Mới đây Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Loyd Austin nhắc lại nhân chuyến công du qua Châu Á. 

Nhưng quyết định thành lập Liên minh AUKUS của Biden không chắc là thành quả của một quá trình suy nghĩ lâu dài.

Một lần Afghanistan có thể là "sai lầm" của Biden đối với đồng minh Ấn Độ. Biden đã giao Afghanistan cho Taliban mà đám khủng bố này là “con nuôi” của Pakistan, quốc gia “thù địch” của Ấn độ. 

Ấn độ và Pháp có cùng tâm trạng bị Mỹ phản bội. Ngay cả Nhật, nước này không thể không đặt dấu hỏi cho số phận của mình, nếu một ngày nào đó Mỹ “trở áo” đi với TQ.

Câu hỏi cựu thủ tướng Anh Theresa May đặt ra cho Boris Johnson tại Quốc hội Anh: Nếu TQ đánh Đài loan và Mỹ can thiệp. Anh có theo Mỹ đánh TQ hay không ? 

Câu hỏi coi bộ khó trả lời, bởi vì Boris Johnson nổi tiếng chính trị gia “cơ hội chủ nghĩa”. Ngay cả khi Mỹ xung đột toàn diện với TQ, tại Biển Đông hay vì lý do nào đó, Anh có tham dự bên cạnh Mỹ hay không ? 


Dân Anh có lý do để đặt vấn đề: tại sao tôi phải đổ máu cho dân Đài loan ? Còn ở biển Đông, lợi ích của dân Anh ở đâu ? Tại sao tôi phải đổ máu bảo vệ cái không phải của tôi ? 


Boris Johnson “chống” TQ rất trễ. Chủ trương Brexit trải qua nhiều thời thủ tướng Anh. Mục tiêu của Brexit đến gần đây không đổi. Đó là Anh không cần Châu Âu vì sẽ  ký hiệp ước kinh tế với TQ và sử dụng Hong Kong như là “cánh cửa” để chinh phục lục địa TQ. Boris Johnson mới đây còn có chủ trương đặt hệ thống 5G của Hoa Vi trên toàn nước Anh. Nếu không có vụ Trump “đập”  Tập Cận Bình, qua vụ “chiến tranh kinh tế”, thì Anh đã nằm trong hệ thống “vành đại con đường” của TQ.


Anh chỉ bắt đầu chống TQ, vì sức ép của Mỹ (buộc phải chọn phe) và vụ Hong Kong. 


Nhưng nếu đặt câu hỏi cho Pháp, nếu TQ “trỗi dậy không hòa bình” đánh Đài loan và nếu Mỹ can thiệp. Ta chắc chắn có có câu trả lời. 


Chiến lược “Ấn độ - Thái bình dương” là một khái niệm khơi nguồn từ Pháp, Nhật, Ấn độ và Úc từ năm 1995. Pháp, tương tự như Úc trong khu vực, có các lãnh thổ hải ngoại, có hàng chục triệu cây số vuông vùng kinh tế độc quyền phải bảo vệ. Pháp là quốc gia Châu Âu duy nhứt có quân đội (7000 quân) đóng ở khu vực Ấn độ - Thái bình dương. Chiến lược “Ấn độ - Thái bình dương” của bộ tứ Pháp, Úc, Nhật, Ấn độ khải huyền từ khi TQ đe dọa “trỗi dậy không hòa bình”.  


Pháp hành sử “độc lập”, vì lợi ích của mình và đồng minh. Trong khu vực Ấn độ - Thái bình dương Pháp không “cơ hội chủ nghĩa” vì Pháp có quyền và lợi ích phải bảo vệ. Nếu Mỹ đánh TQ, lợi ích của Pháp bị đe dọa, Pháp sẽ đứng về phía Mỹ. Vì đây là cách bảo vệ hữu hiệu quyền và lợi ích của Pháp.


Còn nước Úc ? Phá hủy hiệp ước “chiến lược toàn diện” với Pháp, đứng một góc trong “tứ giác kim cương”, ngang hàng với Mỹ trong “Ấn độ -Thái bình dương”. Thực chất nước Úc có quan hệ kinh tế với TQ nhiều gấp 3 lần với Mỹ. Gần đây cũng bị Mỹ ép “chọn phe”, Úc bị TQ “trừng phạt” khiến kinh tế Úc lao đao. Úc có tiếng mà không có miếng.

Thực tế cho thấy chiến lược “Ấn độ - Thái bình dương” thiếu TPP, rõ ràng là không ổn. Giải pháp của Úc là gì để phục hồi kinh tế hậu Covid-19 ? Úc đương nhiên sẽ bị Pháp cản trở trong mọi vận động để ký với khối Châu Âu một hiệp ước về kinh tế. 

Khối “nói tiếng Anh” gồm Mỹ, Anh, Úc với AUKUS, nếu không mở rộng ra các quốc gia Nhật, Nam Hàn, Đài loan và các quốc gia ASEAN để làm động lực phát triển kinh tế thì sẽ không bao giờ bao vây được TQ. Vấn đề là nền tảng của AUKUS là sự “phản bội”, sự thiếu chân thật của Mỹ và Úc. Có vô số lý do để các quốc gia “tránh xa” AUKUS hơn là gia nhập khối này.   


lundi 6 septembre 2021

Bàn về chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa theo nội dung Hòa ước San Francisco ngày 8 tháng Chín năm 1951 và Công hàm 14 tháng Chín 1958 của chính phủ VNDCCH.

 Nhân tháng Chín: Bàn về chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa theo nội dung Hòa ước San Francisco ngày 8 tháng Chín năm 1951 và Công hàm 14 tháng Chín 1958 của chính phủ VNDCCH


Ngày 11 tháng 12 năm 2015 Đại diện thường trực của nhà nước CHND Trung Quốc tại Liên Hiệp Quốc đã ra công hàm, mục đích phản biện các lý lẽ của Phi trình bày tại Tòa Trọng tài Quốc tế tại La Haye, Hòa lan (CPA) trong vụ Phi đơn phương kiện TQ về hải phận Biển Đông, theo Phụ lục VII của UNCLOS. Nội dung như thường lệ khẳng định quyền, quyền lịch sử và chủ quyền của TQ ở Biển Đông. Nhưng lần này nội dung công hàm còn cho biết các văn kiện quốc tế trước Thế chiến thứ II, như Tuyên bố Cairo 1943, Tuyên bố Potsdam 1945 và một số văn kiện khác, nhìn nhận chủ quyền của TQ tại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. 

Đại diện của VN tại LHQ có ra công hàm phản đối đồng thời và tái khẳng định chủ quyền của VN tại HS và TS. Nhưng không thấy phía VN đề cập đến các văn kiện quốc tế mà TQ đã nhắc trong thông cáo của mình.

Có thật là các Tuyên Bố Cairo, Tuyên bố Potsdam (và các văn kiện quốc tế khác) đã nhìn nhận chủ quyền của TQ tại Hoàng Sa và Trường Sa, như nội dung của công hàm công bố tại LHQ ngày 11-12-2015 ?

Không có câu trả lời nào cụ thể hơn bằng cách xem xét lại các văn kiện trên (và các văn kiện quốc tế khác, có liên quan đến các lãnh thổ mà Nhật đã cưỡng chiếm của các quốc gia khác trong Thế chiến Thứ II). 

Tuyên bố Cairo: 

Tháng 11 năm 1943, ba lãnh tụ Theodore Roosevelt, Winston Churchill và Tưởng Giới Thạch gặp nhau tại Cairo, thủ phủ nước Ai Cập, thảo luận về điều kiện để Trung Hoa đứng về phía Đồng minh cũng như mục đích của cuộc chiến. Sau cuộc họp, một bản tuyên bố chung được công bố trước công chúng, gọi là “Tuyên bố Cairo”.

Nguyên văn bản Tuyên bố (tạm dịch lại) như sau: 

"Mục đích chiến đấu duy nhứt của (các nước Đồng minh) là kết thúc cuộc xâm lược của Nhật Bản. Các nước Đồng Minh không hề có mục tiêu mở rộng lãnh thổ. Chúng tôi chỉ giải phóng các vùng lãnh thổ đã bị Nhật Bản chiếm đóng bởi bạo lực."

 Các vùng đất mà Nhật Bản phải từ bỏ :

Tất cả những đảo ở Thái Bình Dương mà Nhật đã chiếm từ sau Thế chiến I;

Trả lại cho Trung Hoa những vùng mà Nhật đã cướp của Trung Hoa như Mãn Châu, Đài Loan và quần đảo Bành Hồ;

Tất cả các vùng lãnh thổ mà đế quốc Nhật đã chiếm bằng vũ lực;

Nhân dân Hàn Quốc lấy lại chủ quyền đất nước mình trong một thời gian nhất định. 

Những điểm cần nhấn mạnh trong bản Tuyên bố : 

a/ Các cường quốc (gồm Trung Hoa) không có mục tiêu mở rộng lãnh thổ. b/ lãnh thổ Nhật trả lại cho Trung Hoa gồm Mãn Châu, Đài Loan và quần đảo Bành Hồ.

Tuyên bố Cairo không có dòng chữ nào nhắc đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. 

Tối hậu thư Potsdam

Còn gọi là Tuyên bố Potsdam, là tối hậu thư của các nước Đồng minh Hoa Kỳ, Anh và Trung Hoa gởi cho Nhật Bản ngày 26 tháng 6 năm 1945. Văn kiện này quan trọng vì được sự nhìn nhận vô điều kiện của Nhật. Nội dung tối hậu thư tái xác nhận hiệu lực Tuyên ngôn Cairo.

Nội dung gồm một số điều : 

Thi hành các điều đã xác định theo tuyên bố Cairo; 

Lãnh thổ Nhật Bản sẽ chỉ giới hạn trên các đảo Hondo, Hokkaido, Kiousiou và Si Kok cũng như trên một số đảo nhỏ khác sẽ được xác định do các nước đồng minh; 

Nhật sẽ bị hoàn toàn giải giới và các lực lượng quân đội Nhật sẽ giải ngũ. 

Nội dung tuyên bố này không nói đến số phận các vùng lãnh thổ của các nước bị Nhật chiếm (trước Thế chiến II) cũng như nhắc đến Hoàng Sa và Trường Sa.  

Cho rằng Tuyên bố Cairo 1943 và Tuyên ngôn Potsdam 1945 nhìn nhận chủ quyền của TQ tại HS và TS là không đúng sự thật.

Các văn kiện quốc tế khác. 

“Các văn kiện khác” có nhắc, hay có liên quan, đến Hoàng Sa và Trường Sa, sau khi Nhật ký văn bản đầu hàng ngày 2 tháng 9 trên chiến hạm Missouri, là các văn kiện : 1/ Hòa ước San Francisco 1951, 2/ các thỏa ước Pháp-Trung ký tháng Hai năm 1946 tại Trùng Khánh  về trao đổi lợi ích kinh tế tại vùng Hoa Nam với thẩm quyền lãnh thổ ở Đông dương. 3/ Hòa ước Trung-Nhật 1952 4/ Hiệp ước Hòa bình và Hữu nghị Trung-Nhật 1978. 5/ Công hàm 14 tháng Chín 1958 của chính phủ VNDCCH.

Các văn kiện này nói gì về số phận Hoàng Sa và Trường Sa ?

1/ Hiệp ước Trùng Khánh 28 tháng Hai 1946.

Sau khi Nhật ký văn kiện đầu hàng trên thiết giáp hạm USS Missouri của Mỹ neo trong vịnh Tokyo ngày 2 tháng Chín 1945. Tất cả các lãnh thổ mà Nhật đã chiếm của các quốc gia khác trước chiến tranh từ lúc đó đặt dưới thẩm quyền của Đồng Minh. Quân đội Nhật ở các vùng lãnh thổ này có trách nhiệm giữ gìn an ninh trật tự trong lúc chờ đợi quân Đông minh vào giải giới. 

Số phận VN, không có quyết định nào của Đồng minh trao trả « nền độc lập » của VN cho phe nào. Việc « giải giới » quân đội Nhật, khu vực phía nam vĩ tuyến 16 do quân đội Anh phụ trách và khu vực bắc vĩ tuyến 16 dưới trách nhiệm của quân Trung hoa. 

Lãnh tụ De Gaule của Pháp, đứng về phe chiến thắng Đồng minh, có toan tính « lấy lại Đông dương thuộc chủ quyền của Pháp », vì vậy thỏa thuận với Anh, thay thế quân Anh đổ bộ vào « tiếp thu »  Nam kỳ, cùng với quân đội Anh giải giới quân Nhật. 

Về phía Bắc kỳ, Pháp liền ký kết với Trung Hoa Hiệp ước Trùng Khánh (Tchong Quing) ngày 28 tháng 2 năm 1946. Diễn tiến được ghi lại như sau : 

Le 28 février 1946, à 16 heures, Meyrier signe avec le ministre des Affaires étrangères Wang Shijie le texte qui consacre la rétrocession définitive des concessions françaises. En contrepartie de l’abandon de l’exterritorialité et du retour des concessions, la Chine accepte de retirer ses troupes du Tonkin dès que les troupes françaises auront pris la responsabilité du Nord de l’Indochine :

« La relève des troupes chinoises stationnées en Indochine au nord du 16e parallèle commencera entre le 1er et le 15 mars, et devra être terminée au plus tard le 31 mars. Les États-majors chinois et français se mettront d’accord pour fixer les modalités d’exécution de cette opération. »

(Ngày 28 tháng Hai lúc 16 giờ, ông Meyrier ký với Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Vương Kiện Lâm văn bản nhằm chuyển giao vĩnh viễn quyền lợi và tô giới của Pháp (tại Hoa Nam). Đổi lại việc từ bỏ các tô giới và trao trả các đặc quyền, Trung Quốc đồng ý rút quân khỏi Bắc Kỳ ngay sau khi quân Pháp nhận trách nhiệm về miền Bắc Đông Dương.

“Việc thay thế quân Trung Quốc đóng tại Đông Dương ở phía bắc vĩ tuyến 16 sẽ bắt đầu từ ngày 1 tháng 3 đến ngày 15 tháng Ba, và phải hoàn tất chậm nhất vào ngày 31 tháng Ba. Các chỉ huy quân đội Trung Quốc và Pháp sẽ hội ý với nhau để xác định các phương cách nhằm thực hiện kế hoạch này.)


Phám cam kết nhượng tuyến đường xe lửa Vân Nam – Hải Phòng, dành ưu đãi về kinh tế, kiều dân Trung Hoa sống tại Việt Nam được hưởng qui chế ưu đãi đặc biệt. 

Theo các điều ước của các hiệp ước Trùng Khánh trao đổi « kinh tế lấy lãnh thổ », Trung Hoa không còn thẩm quyền « giải giới » quân Nhật ở Hoàng Sa và Trường Sa. Thẩm quyền giải giới các đảo dưới vĩ tuyến 16 thuộc Anh (sau đó Anh nhượng lại cho Pháp). 

Pháp đã gởi quân đến các đảo Hoàng Sa và Trường Sa để khẳng định chủ quyền, ngay sau khi Nhật rút quân. Tại Hoàng Sa và Trường Sa, quân đội Pháp-Việt đã có mặt từ tháng 5 năm 1946. Đến tháng 10-1946, quân Pháp ra đảo Ba Bình (Itu Aba) thuộc Trường Sa, đóng mốc mới, khẳng định lại chủ quyền.

Câu « các văn kiện quốc tế khác » đã ghi trong Tuyên bố của TQ không thể loại trừ các hiệp ước Pháp-Trung ký tại Trùng Khánh 28 tháng Hai 1946. Nội dung các hiệp ước này là Trung hoa đã từ bỏ mọi thẩm quyền, nếu có, về lãnh thổ ở Đông dương, cũng như ở các lãnh thổ trên biển.


2/ Hòa ước San Francisco 8 tháng Chín năm 1951.

Hội nghị San Francisco bắt đầu từ ngày 4 tháng Chín, kết thúc với Hòa ước gọi là “Hòa ước San Francisco”, ký ngày 8 tháng Chín năm 1951. Hội nghị gồm có 52 quốc gia tham gia, trong đó có 49 quốc gia ký hiệp ước hòa bình với Nhật. 

Vào thời điểm đầu hàng, 14-8-1945, Nhật đã có tuyên chiến với 46 nước, trong đó không có Việt Nam. Từ thời điểm này đến ngày mở đầu Hội nghị San Francisco ngày 4 tháng 9 năm 1951, Hội nghị đón nhận thêm 9 nước khác (tuyên bố chiến tranh với Nhật). Các nước này là các nước đã bị Nhật chiếm đóng lúc chiến tranh, không tự chủ về ngoại giao, vì ở tình trạng dưới quyền bảo hộ của một nước khác. Một trong 9 nước đó là Việt Nam. 

Cả hai bên Đài loan và lục địa đều không tham dự Hội nghị San Francisco. Phía Bắc Kinh, qua tuyên bố của Châu Ân Lai là không nhìn nhận mọi kết quả phát sinh từ Hội nghị này. 

Hòa ước San Francisco 1951 viết bằng 4 ngôn ngữ: Anh, Pháp, Tây Ban Nha và Nhật. Nhưng chỉ có ba ngôn ngữ đầu là có hiệu lực pháp lý. Hòa ước bao gồm gồm 7 chương, 27 điều và một lời mở đầu. Điều 2 khoản (f) nói về lãnh thổ Hoàng Sa và Trường Sa, nguyên văn như sau:

(f) Japan renounces all right, title and claim to the Spratly Islands and to the Paracel Islands”. 

Nhật phải từ bỏ mọi quyền, mọi danh nghĩa và mọi yêu sách liên quan đến quần đảo Spratly (Trường Sa) và quần đảo Paracels (Hoàng Sa).

Điều 2 của Hiệp ước San Francisco 1951 không hề xác định Hoàng Sa và Trường Sa, (kể cả đảo Đài Loan và quần đảo Bành hồ), sẽ trả về cho nước nào, hay giao cho chính phủ nào có thẩm quyền quản lý!

Vì vậy, muốn tìm hiểu các vùng lãnh thổ do Nhật từ bỏ sẽ giao cho quốc gia nào ta phải nghiên cứu về “tiền Hội nghị San Francisco” đồng thời xét đến công pháp quốc tế và tập quán quốc tế về những vấn đề chủ quyền ở các vùng lãnh thổ bị từ bỏ.

Theo tác giả Focsaneanu Lazar trong “Les Traités de paix du Japon. In: Annuaire français de droit international, volume 6, 1960. pp. 256-290 ». Hội nghị San Francisco đã đưa ra 4 giải pháp để giải quyết số phận các vùng lãnh thổ mà Nhật từ bỏ. Lược dịch ra như sau :

  1. Đề nghị thứ nhứt, các vùng đất (Nhật từ bỏ) thuộc quyền quản lý của tất cả các nước có tuyên bố chiến tranh với Nhật, tức hình thức "cộng đồng quản lý" (condominium). Việc chuyển giao chủ quyền ở các vùng lãnh thổ này đã được thực hiện lúc Nhật ký kết Tuyên bố Potsdam và đầu hàng vô điều kiện (14-8-1945). Điều 2 Hiệp ước San Francisco chỉ nhằm mục tiêu hợp pháp hóa hành vi từ bỏ lãnh thổ của Nhật mà thôi.  

  2. Đề nghị thứ hai, các vùng đất (Nhật từ bỏ) thuộc quyền quản lý của các nước ký kết vào Hiệp ước. Đề nghị này bị Liên Xô chống đối. Hai nước Ấn Độ và hai nước Trung Hoa đòi hỏi "cộng đồng quản lý" ngay cả lãnh thổ của Nhật.

  3. Các vùng đất này trở thành đất vô chủ (terrae derelictae). 

  4. Các vùng đất này trở thành đất vô chủ, người ta có thể chiếm hữu. Điều này hàm ý, những nước tham chiến đang chiếm đóng tạm thời tại các vùng lãnh thổ đó có thể chiếm đóng vĩnh viễn và tuyên bố chủ quyền.


Chiếu những điều xảy ra trên thực tế, ta thấy điều (a), (d) và (c) lần lượt được thực hiện. 

Một chi tiết quan trọng : điều 2 của Hiệp ước San Francisco là do đại diện phái đoàn Pháp đề nghị.

Hành vi của Pháp dĩ nhiên là có tính toán (để lấy lại thuộc địa Đông dương).

Bởi vì, từ ngày 28 tháng 2 năm 1946 Pháp đã ký kết với Trung Hoa Hiệp ước Trùng Khánh (như đã viết đoạn trên). Nội dung kết ước Pháp tuyên bố hủy bỏ tất cả các quyền lợi và tô giới của Pháp tại Trung Hoa. Đổi lại quân đội Trung Hoa sẽ rời Việt Nam từ ngày 1 đến ngày 15 tháng 3 năm 1946 để quân Pháp vào thay thế. 

Trong khi đó, phía nam vĩ tuyến 16, vì lý do chiến lược, Anh cũng đồng ý nhượng quyền lại cho Pháp. 

Tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, sau khi Nhật rút đi Pháp liền gởi quân đến các nơi này để khẳng định chủ quyền. Tại Hoàng Sa quân đội Pháp-Việt đã có mặt từ tháng 5 năm 1946. Tháng 10-1946, quân Pháp ra đảo Ba Bình (Itu Aba) thuộc Trường Sa, đóng mốc mới, khẳng định lại chủ quyền.

Như thế, hành động của Pháp phù hợp hoàn toàn theo nội dung các đề nghị “tiền hội nghị” San Francisco” về việc giải quyết các vùng đất do Nhật từ bỏ. 

Đó là Nhật từ bỏ chủ quyền Hoàng sa và Trường Sa. Hai vùng lãnh thổ này trở thành “đất vô chủ - terrae derelictae”, các quốc gia có quyền tuyên bố sáp nhập, hay khẳng định chủ quyền.

Tuyên bố của Thủ tướng Trần văn Hữu của Việt Nam Dân Quốc (Etat National du Viet Nam - còn gọi là Quốc gia Việt Nam) trước Hội nghị « thâu hồi Hoàng Sa và Trường Sa » thuộc chủ quyền Việt Nam. Tuyên bố này, trên lý thuyết, “có giá trị pháp lý” chừng mực vì VN tham gia Hội nghị với tư cách “quốc gia độc lập có chủ quyền về lãnh thổ”. VN lúc đó lệ thuộc Pháp về ngoại giao và quốc phòng. 

Điểm yếu này của VN dầu vậy lại được bổ túc và hoàn thiện do các hành vi thể hiện trên thực địa (cắm mốc, dựng bia, ra tuyên bố trước công chúng quốc tế…) của Pháp.

Pháp đã khẳng định lại chủ quyền của mình tại Hoàng Sa và Trường Sa, dưới sự mặc nhiên chấp thuận của các đại cường Hoa Kỳ và Anh.


3/ Hòa ước Trung-Nhật 28-4-1952.

Tháng 4 năm 1952, Nhật chọn phía Trung Hoa Dân quốc là đại diện cho Trung Hoa để ký riêng hiệp định Hòa bình. 

Đây không phải là một lựa chọn « chiến lược », mà do thủ tục pháp lý : chính phủ Trung Hoa Dân Quốc của Tưởng Giới Thạch có tuyên bố chiến tranh với Nhật, do đó cần ký hiệp ước để kết thúc chiến tranh. Phe Mao không tuyên bố chiến tranh thì không thể ký hiệp ước hòa bình với Nhật. 

Điều 2 Hiệp ước Hòa bình 28-4-1952 giữa Trung Hoa Dân quốc và Nhật Bản, nguyên văn như sau:  

“It is recognized that under Article 2 of the Treaty of Peace with Japan signed at the city of San Francisco in the United States of America on September 8, 1951 (hereinafter referred to as the San Francisco Treaty), Japan has renounced all right, title and claim to Taiwan (Formosa) and Penghu (the Pescadores) as well as the Spratly Islands and the Paracel Islands.

Tạm dịch: Hai bên nhìn nhận rằng theo điều 2 của Hiệp ước San Francisco ngày 8-9-1951, Nhật từ bỏ mọi quyền, danh nghĩa chủ quyền cũng như mọi yêu sách về đảo Đài Loan, Bành Hồ cũng như quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa.

Một hiệp ước nhắc lại một điều ước của một hiệp ước khác, ở đây là hòa ước San Francisco 1951. Số phận HS và TS phải qui chiếu lại nội dung điều 2(f) của Hòa ước San Francisco, hay các kết ước khác có liên quan, như kết ước Pháp-Trung ký tại Trùng Khánh 28 tháng Hai 1946. 

Các học giả Đài Loan cho rằng nội dung điều 2 Hiệp ước đã nói rõ HS và TS trả cho Trung Hoa Dân Quốc là không có căn cứ.

4/ Hòa ước Trung-Nhật 12-8-1972.

Tuyên bố chung Trung-Nhật ngày 2 tháng Bẩy 1971, Nhật nhìn nhận chính phủ ở Bắc kinh là đại diện chính đáng và duy nhứt đại diện cho quốc gia (Etat, State) Trung Hoa. Ngày 12-8-1972 Nhật ký Hiệp ước “Hòa bình và Hữu nghị” với lục địa. Hai bên đồng thuận rằng tất cả các kết ước trước đó giữa Nhật và chính phủ Trung Hoa Dân quốc là vô hiệu lực (caduc). Dĩ nhiên bao hàn luôn Hòa ước 28-4-1952 giữa Nhật và chính phủ Trung hoa Dân quốc (Đài loan).

Vấn đề là TQ không có tuyên bố chiến tranh với Nhật. Nước CHNDTQ của Mao Trạch Đông khai sinh sau khi Nhật đầu hàng tháng 8-1945. Không có tuyên bố chiến tranh sao lại ký hiệp ước hòa bình ? 

Điều này chỉ có thể giải thích là Bắc kinh “kế thừa” di sản chống Nhật của Tưởng Giới Thạch. Gút mắc ở đây là chính phủ Bắc Kinh không thể kế thừa di sản mà họ đã phủ nhận (như việc phủ nhận hòa ước 1952).

Nội dung Hòa ước 12-8-1972 tái khẳng định nội dung Tuyên bố Potsdam 1945. 

5/ Công hàm 14 tháng Chín 1958 của chính phủ VNDCCH.

Ngày 4 tháng 9 năm 1958 Trung Quốc ban bố “Tuyên bố lãnh hải quốc gia”. Tuyên bố gồm 4 điều, nội dung phần quan trọng tóm lược như sau :

Điều 1 : Lãnh hải của TQ rộng 12 hải lý. Điều này áp dụng trên toàn bộ lãnh thổ TQ, các hải đảo Đài Loan và các đảo phụ thuộc, đảo Bành Hồ và các đảo phụ thuộc, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa), quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa (Trường Sa)…

Điều 3 : Tất cả phi cơ, thuyền bè không được phép của TQ thì không được xâm phạm vào không và hải phận của nước TQ.

Điều 4 : Nguyên tắc qui định ở điều 3 (và 2) được áp dụng cho cả HS và TS.

Ngày 10 tháng 9 năm 1958 Thủ Tướng Phạm Văn Đồng gởi một văn kiện ngoại giao (note diplomatique), VN quen gọi công hàm (công hàm 1958) nguyên văn như sau :

« Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc.

Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc, trong mọi quan hệ với nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trên mặt bể. »

Khi VNDCCH “ghi nhận và tán thành” Tuyên bố của TQ, mặc nhiên “ghi nhận và tán thành” luôn việc HS và TS thuộc chủ quyền của TQ. 

Trong các công hàm của TQ gởi văn phòng TTK LHQ, đặc biệt công hàm CML/42/2020 ngày 17 tháng Tư 2020, TQ vịn vào công hàm 1958 của Phạm Văn Đồng để cho rằng VN đã phạm “estoppel”, nguyên tắc “không được nói ngược” của Công pháp quốc tế.  

Theo học giả Monique Chemillier-Gendreau, trong tập tài liệu “La Souveraineté sur les Archipels Paracels et Spratleys”, công hàm 1958 đã “im lặng” trong vấn đề chủ quyền HS và TS. Điều này khiến VN phạm vào lỗi “acquiescement” – “đồng thuận ám thị”. 

Theo bà học giả, VNDCCH trong thời kỳ 1958-1975 đã có những hành vi như công bố các bài báo, các bản đồ, sách giáo khoa… nội dung khẳng định chủ quyền của TQ ở HS và TS. Các dữ kiện này đã củng cố hành vi “đồng thuận ám thị”, khiến hành vi “ám thị” trở thành một “nghĩa vụ” buộc VNDCCH phải thực hiện. 


6/ Kết luận: 

Thực tế cho thấy không một văn kiện quốc tế nào, Tuyên bố Cairo 1943, Tuyên bố Potsdam tháng Sáu 1945, Thỏa thuận Trùng Khánh 28-2-1946 đến các Hòa ước San Francisco 8-9-1951, Hòa ước Trung-Nhật 1952 (với chính phủ Đài loan), Hòa ước Trung-Nhật 1978 (với chính phủ Bắc kinh)… không có nội dung nào nhìn nhận chủ quyền HS và TS thuộc về TQ, như Tuyên bố của TQ dẫn trên. 

Ngoại trừ công hàm 14 tháng Chín 1958 của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Phạm Văn Đồng làm thủ tướng. Công hàm này nhìn nhận Tuyên bố 4 tháng Chín 1958 về hải phận và chủ quyền lãnh thổ của TQ. 

Công hàm 1958 có phải là một “văn kiện quốc tế” hay không ?

Điều này hoàn toàn phụ thuộc vào “tư cách pháp nhân” của VNDCCH. 

Nếu VNDCCH (và VNCH) là những “quốc gia độc lập có chủ quyền”, là “đối tượng của công pháp quốc tế”, thì công hàm 1958 là “văn kiện quốc tế”. VNDCCH có nghĩ vụ phải tuân thủ các điều mà “quốc gia” này đã cam kết.

TQ có thể đặt nền tảng trên văn kiện này để củng cố hồ sơ Biển Đông, yêu sách toàn bộ Biển Đông (theo bản đồ chữ U chin đoạn) mà VN không làm được điều gì. 

Nếu VNDCCH không có “tư cách pháp nhân Quốc gia”, VNDCCH không phải là “đối tượng của luật quốc tế”. Hiển nhiên công hàm 1958 không phải là “văn kiện quốc tế”. VNDCCH không có nghĩa vụ, hay bị ràng buộc, trước luật quốc tế, về những hành vi đã thể hiện. 


jeudi 28 janvier 2021

Bàn về “quyền biểu tình” và quyền “cầm cờ đi biểu tình” qua bài viết của ông Nguyễn Quang Duy.

 

Trong bài viết mới đây trên BBC, ông Nguyễn Quang Duy có nói về “quyền biểu tình” và quyền “cầm cờ đi biểu tình”: “Trong cuộc biểu tình 6/1/2021 có cờ Mỹ và rất nhiều lá cờ kể cả lá cờ các quốc gia khác, nói lên sự tự do, độc lập, đa sắc tộc và đa nguyên của nước Mỹ”.

Ông cho rằng quyền biểu tình và quyền cầm cờ đi biểu tình là những quyền được Tu chính án thứ nhứt bảo vệ: “Người Mỹ lên án hành động phi pháp xông vào Quốc Hội nhưng họ hiểu rõ quyền biểu tình, quyền sử dụng lá cờ là những quyền được Tu chính án thứ nhất bảo vệ”.

Ông Duy cũng nói đến “quyền được phản đối kết quả bầu cử” :  “Với người Mỹ lá cờ chỉ là biểu tượng của tự do trong khi những quyền tự do chính trị, quyền được phản đối kết quả bầu cử hay quyền sử dụng lá cờ mới chính là những điều cần được tôn trọng và bảo vệ”.

Theo tôi có nhiều điều cần bàn. Thứ nhứt về quyền cầm cờ đi biểu tình. Ở đây cầm cờ của quốc gia mình đi biểu tình trên lãnh thổ của quốc gia khác. Thứ hai  “quyền biểu tình” và thứ ba là “quyền được phản đối kết quả bầu cử. 

1/ Nói theo ông Duy, việc cầm cờ quốc gia mình đi biểu tình là “nói lên sự tự do, độc lập, đa sắc tộc và đa nguyên của nước Mỹ”

Theo tôi là có sự ngộ nhận lớn lao. 

Quốc kỳ, “cờ nước”, khai sinh cùng thời kỳ với khái niệm “quốc gia”. Khái niệm hiện đại về “quốc gia”, theo công pháp quốc tế, chỉ mới xuất hiện từ Thế kỷ 19. Quan niệm mới về “quốc gia - dân tộc” khiến lá “quốc kỳ” trở thành biểu tượng của dân tộc và đất nước. Do đó lá quốc kỳ mang tính thiêng liêng, kiểu “hồn thiêng sông núi”. 

Trong một số các điều luật về quan hệ quốc tế, việc xâm phạm lá cờ của một nước là điều “cấm kỵ”, có thể trở thành một phiền toái ngoại giao.

Tức là, nếu trong đám người bạo động hôm 6 tháng Giêng tại Điện Capitol, có người cầm cờ Nga, cờ TQ… chắc chắc sẽ có “khủng hoảng ngoại giao” giữa chính quyền Mỹ và các nước liên hệ. Đây không đơn thuần là chuyện thể hiện “tự do, độc lập,  đa nguyên, đa sắc tộc…” mà là chuyện một quốc gia này can dự vào chuyện “gây bạo loạn nhằm lật đổ chính quyền dân cử” của quốc gia khác. 

Tôi không biết đã có những ai, đã phất cờ của quốc gia nào, trong cuộc bạo loạn 6 tháng Giêng. Nếu có, người đó sẽ đối diện với pháp luật. Pháp luật của Mỹ và pháp luật của quốc gia sở hữu lá cờ. 

Còn lá cờ vàng ba sọc đỏ? Lá cờ này có trách nhiệm gì ? hay ai có trách nhiệm gì ? trong biến cố 6 tháng Giêng ? 

Hệ quả pháp lý của việc phất lá cờ này trong cuộc bạo loạn sẽ tùy thuộc vào “tình trạng pháp lý” của lá cờ.

Nói lại một vài điều về lịch sử lá cờ là cần thiết.

Quốc kỳ đầu tiên của “quốc gia” Việt Nam có thể là lá cờ mà phái đoàn Phan Thanh Giản sử dụng khi đi sứ sang Pháp ngày 4-7-1863, dưới triều Tự Đức. Mục đích chuyến đi là để “chuộc lại ba tỉnh Nam Kỳ”. 

Tài liệu « L’Ambassade de Phan Thanh Giản en 1863 – d’Après les documents Français » (A. Delvaux – B.A.V.H 1926), “Chuyến đi sứ của Phan Thanh Giản năm 1863, theo các tài liệu Pháp” mô tả khác tỉ mỉ chuyến đi này. Theo đó Quốc kỳ đầu tiên của VN có màu vàng.

Nhưng lá cờ này hình thức như thế nào ? có sọc đỏ hay không ?

Không thấy mô tả trong tài liệu dẫn trên. Nhưng theo một số tài liệu triều Nguyễn, “cờ hiệu” của nhà Nguyễn, từ 1802 đến 1885 là cờ “Long Tinh”. (Cờ đỏ sọc vàng, cờ  vàng có một sọc đỏ ở giữa).

Cũng theo tài liệu triều Nguyễn, đến năm 1885 cờ Long Tinh bị Pháp cấm sử dụng vì nó là biểu tượng “chống Pháp”. 

Vua Hàm Nghi khi xuất kinh khỏi Huế liền ra chiếu “cần vương”. Sĩ phu khắp nơi nổi lên ủng hộ. Lá cờ Long Tinh trở thành biểu tượng của phe “Cần vương”, có mục đích chống Pháp.

Từ năm 1885 đến 1889, lá cờ “Đại Nam” ra đời. Cờ này cũng có nền màu vàng, hình chữ nhật, có viết đỏ hai chữ nho Đại Nam (viết ngược).

Đến năm 1889, Thành Thái lên ngôi, thay “Đại Nam Kỳ” bằng lá cờ vàng ba sọc đỏ với ý nghĩa ba sọc đỏ là “ba kỳ” (Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ). Lá cờ này còn gọi là “phụng kỳ”, tức cờ có hình dáng như con chim phượng hoàng. 

(Cờ đỏ sao vàng hiện nay được các nhà cách mạng ngày trước gọi là “qui kỳ”, vì hình dáng ngôi sao năm cánh có hình con rùa). 

Lá cờ phượng, “phụng kỳ”, tồn tại đến năm 1920 thì chấm dứt.

Vua Khải Định lên ngôi, đổi lại cờ, đặt tên là Long Tinh như ngày trước, nhưng với nền vàng và một sọc đỏ ở giữa.

Người ta thấy lá cờ này được treo trên các kiến trúc của VN trong các cuộc đấu xảo ở Paris 1902 nay Marseille 1911. Cờ này tồn tạo cho đến tháng Ba năm 1945, khi Nhật đảo chánh Pháp.

Sau đó cờ Ly, cờ nền vàng với quẻ ly 3 sọc đỏ, sọc giữa đứt đoạn, được Bảo Đại lựa chọn. Cờ này chỉ tồn tại có 5 tháng, từ tháng Ba đến tháng Tám năm 1945.

Sau đó, lá cờ vàng ba sọc đỏ (phụng kỳ), được “Quốc Gia Việt Nam” sử dụng trở lại, như để “kế thừa” giang sơn triều Nguyễn. 

Cờ Phụng tồn tại từ 1899 thời Thành Thái, chấm dứt năm 1920. Sau đó tái sử dụng từ năm 1949 cho đến năm 1975, qua hai chính phủ là “Quốc Gia Việt Nam” (1949-1955) và “Việt Nam Cộng Hòa” (1955-1975).

Câu hỏi đặt ra ai, tổ chức nào, chính phủ nào “kế thừa”, tức “pháp nhân” nào có thẩm quyền, về việc sử dụng lá cờ vàng ba sọc đỏ sau khi VNCH sụp đổ 30 tháng Tư 1975 ?

Trước quốc tế, sau 1975, CHXHCNVN sử dụng nguyên tắc “tabula rasa - clean slate”, phủi sạch mọi liên hệ với VNCH. Trên BBC có bài viết về sự kiện “12 năm tù vì treo cờ VNCH”. Cho đến năm 2018, mọi hành vi liên quan đến lá cờ vàng đều có thể bị qui tội hình sự. Tức lá cờ vàng biểu tượng cho sự “thù nghịch” giữa chế độ CHXHCNVN hôm nay đối với lịch sử VN.

Đối với các quốc gia có liên quan mật thiết với VNCH như Mỹ và Pháp. Sau nhiều năm CHXHCNVN im lặng về việc “kế thừa” các kết ước mà các quốc gia nói trên đã ký kết với VNCH. Mỹ và Pháp áp dụng Điều 16 của  Công ước Vienne 1978 về việc kế thừa các kết ước. Mỹ cho rằng cho rằng VNCH, “quốc gia và chính phủ”, đã “sụp đổ và biến mất trên trường quốc tế” (trang 107). Thực thể VNCH “tan biến” vì không có kế thừa và Mỹ sẽ không nhìn nhận bất kỳ một quốc gia nào sau này ở miền Nam VN. (Mỹ cho rằng CPLTCHMNVN không thừa kế VNCH và Mỹ sẽ không nhìn nhận thực thể này). Còn Pháp thì cho rằng do CHXHCNVN không tuyên bố gì về việc kế thừa VNVH, các kết ước hiện hữu trước đây giữa VNCH với Pháp trở thành “caduc - vô hiệu lực” (sách dẫn trên, trang 107).   

Lá “quốc kỳ” nền vàng ba sọc đỏ của VNCH sau 1975, đối với quốc tế, người ta xem như là một kỹ niệm, không có bất cứ giá trị pháp lý nào. Tư cách pháp nhân của dân tị nạn sau 1975 đều là người “vô tổ quốc”.

Tức lá cờ vàng là lá cờ “mồ côi”, không ai kế thừa, không ai nhìn nhận. Người ta chỉ còn “tình cảm” đối với lá cờ này mà tình cảm này đổi thay theo cách mà những người VN sử dụng lá cờ.

Trong cuộc bạo loạn lá cờ vàng được xếp ngang hàng với cờ của các nhóm kỳ thị chủng tộc, “da trắng ưu việt”... 

Ngàn lời biện hộ của ông Duy cũng trở thành vô nghĩa.

Nhưng đối với đại đa số dân VN tị nạn cộng sản, lá cờ vàng là một “biểu tượng”, với nhiều ý nghĩa chính trị mà các cách giải thích có thể khác nhau. 

Một điều cần minh bạch, trước pháp luật của các quốc gia mà dân VN hiện là công dân hay dân thường trú, lá cờ vàng không thuộc “độc quyền” của bất kỳ tổ chức, “chính phủ ma” (gouvernement fantôme) hay cá nhân nào. Luật pháp các quốc gia này không cấm việc sử dụng lá cờ vàng vào các mục tiêu chính trị của các đoàn thể, tổ chức của người Việt tị nạn, mặc dầu đã có những vận động từ phía nhà nước cộng sản để cấm lá cờ này (vào mục tiêu chính trị). Luật pháp các quốc gia cũng không có bổn phận phải “bảo vệ” lá cờ vàng ba sọc đỏ. Hành vi sử dụng lá cờ vàng được xếp vào hạng mục “quyền tự do biểu đạt”. 

2/ “Nổi dậy, bạo loạn”, như kết luận của Quốc hội Mỹ, hay là cuộc “biểu tình”, theo cách nhìn của ông Duy ?

Đọc những biểu ngữ của khối người xâm nhập và phá hoại Điện Capitol : “Fight for Trump - chiến đấu cho tổng thống Trump”. “Stop the Steal”, ngăn chặn hành vi ăn cắp kết quả bầu cử của Quốc hội. “Hang Mike Pence” treo cổ Mike Pence vì ông này “phản bội”  tổng thống Trump..

Ta không thể không nhắc đến hành vi của những người Việt quấn cờ vàng trên người, hay phất cờ vàng chung quanh cái giá gỗ  “treo cổ” các hình nộm Hillary Clinton, Joe Biden v.v… 

Ông Nguyễn Quang Duy cho rằng việc sử dụng lá cờ, cũng như cuộc “biểu tình” là “quyền tự do” và quyền này được tu chính án thứ nhứt bảo vệ.

Chuyện lá cờ đã nói. Chuyện biểu tình, theo tôi ông Duy đã “lầm lẫn” ngôn từ. 

Hạ viện Mỹ vừa đúc kết bản cáo trạng buộc TT Trump tội “kích động nổi dậy”. Thượng viện hôm qua đã  thông qua bản cáo trạng cho rằng thủ tục luận tội tổng thống là hợp hiến, bác bỏ luận cứ cho rằng ông Trump không còn là tổng thống, quá trình “luận tội tổng thống” vì vậy là “vi hiến”. 

Quyết định của thượng viện là điều hiển nhiên. Ông Trump đã “kích động nổi dậy” vào ngày 6 tháng Giêng, trong vai trò tổng thống Mỹ. Vì vậy, theo nguyên tắc luật, Trump phải bị xét xử tội danh “kích động” trên danh nghĩa tổng thống Mỹ, ngay khi lúc xét xử Trump không còn là tổng thống mà chỉ là một công dân Mỹ bình thường. 

Ta sẽ biết Trump có bị Thượng viện biểu quyết là “có tội” hay “không có tội” trong vai trò “kích động” vào ngày 9 tháng Hai sắp tới. Điều đáng tiếc một tội “hình sự”, lý ra phải được phân xử trước một Tòa án liên bang, hay Tối Cao pháp viện, lại được phân xử trong một môi trường “chính trị” đượm chất phe đảng tại Quốc hội. 

Trở lại ý kiến của ông Duy, biến cố “Capitol 6 tháng Giêng” là cuộc “biểu tình”, như ý kiến ông Duy, hay là một “cuộc bạo loạn, nổi dậy”, như kết luận của Quốc hội Mỹ ?

Rõ ràng đây là một cuộc “bạo loạn”, có mục đích cướp chính quyền rõ rệt qua các “biểu ngữ” đầy bạo lực. Ông Duy không thể nhặp nhằng đổi thành “cuộc biểu tình”, nếu ta hiểu rõ ý nghĩa “biểu tình là gì” và quyền này được luật pháp bảo vệ ra sao. 

Biểu tình là một “quyền” cơ bản của người dân được pháp luật bảo vệ. Như tất các các “quyền” khác của công dân, “quyền” luôn đi kèm ở “trách nhiệm”. “Quyền” của cá nhân không phải là “vô hạn”, muốn làm gì thì làm. “Quyền” của một người chấm dứt ở nơi bắt đầu “quyền” của người khác.

Người ta tụ tập biểu tình luôn nhằm “yêu sách”, “phản đối”, “ủng hộ”, “bảo vệ”... một chính sách, một lợi ích, một “quyền”, hay một vấn đề gì đó mà họ “có lợi”, hay thấy là “bất công” hay “gây hại” cho bản thân họ. 

Trong khi một cuộc “nổi dậy” ở Điện Capitol ngày 6 tháng Giêng người tham gia sử dụng vũ lực, với những “slogan” đầy bản chất “máu me” và chính trị như đã ghi trên. “Stop the Steal” - “Fight for Trump” - “Hang Mike Pence”... hay những biểu tượng mang tính “cách mạng bạo lực” như “giá treo cổ” v.v… với mục đích là xóa bỏ kết quả bầu cử để ông Trump ngồi thêm nhiệm kỳ 4 năm nữa.

Quốc hội Mỹ đã đồng thuận gọi “biến cố 6 tháng Giêng” là cuộc “nổi dậy” và buộc Trump vào tội “kích động” cuộc nổi dậy này. 

Ta thấy trước đây, thời Trump làm tổng thống, phong trào BLM thường xuyên biểu tình. Họ đập phá các công sở, một số người “thừa nước đục thả câu” chôm đồ ở các cửa hàng. 

Thời ông Trump và phe “da trắng ưu việt”. Lớp người này chỉ thấy hiện tượng bên ngoài là “đập phá”, chôm chỉa… Trump lên án hành vi những người này là “bạo loạn”. Trong khi yêu sách chính đáng của phong trào BLM là “đòi công lý cho những người da đen bị cảnh sát da trắng giết oan”. 

Ông Trump phái lực lượng vê binh quốc gia đi đàn áp. Hành vi này nếu xét tường tận là vi hiến (vì đây không phải là cuộc bạo loạn). Ông Trump “đại chúng hóa” hành vi của thiểu số để để bác bỏ “yêu sách chính đáng” của những công dân da màu. 

Người ta đặt vấn đề là tại sao Trump đã không đưa vệ binh quốc gia đi bảo vệ Điện Capitol ? Như trong vụ biểu tình của BLM ?

Còn về “quyền biểu tình”. Ta thấy giới bảo vệ môi trường năm nào cũng biểu tình trước các định chế quốc tế thuộc LHQ để yêu sách các quốc gia bớt xả khí thải làm hâm nóng địa cầu hay yêu sách các quốc gia không sử dụng các loại bao ny lông vì sự nguy hại các thứ ày lên động vật…  Công nhân biểu tình đòi tăng lương, đòi giới chủ nhân tôn trọng. Giới LGBT trước đây biểu tình thường xuyên, yêu sách của họ là “bình đẳng” về “quyền” công dân. Giới phụ nữ cũng biểu tình đòi “quyền” quyết định “chấm dứt quá trình thụ thai”... 

Biểu tình là một quyền thộc phạm vi dân sự, được pháp luật bảo vệ. Còn bạo loạn, nổi dậy, kiểu biến cố Capitol 6 tháng Giêng, sử dụng bạo lực nhằm mục tiêu lật đổ chế độ hợp hiến, là tội phạm hình sự.


3/ Người ta có “một thời để yêu và một thời để chết”. Vậy thì “quyền phản đối kết quả bầu cử” của ông Nguyễn Quang Duy trong bài viết trên BBC còn kéo dài tới bao lâu ? 

Ông Duy cho rằng “quyền” này được hiến pháp bảo vệ. 

Nói kiểu ông Duy thì thế giới này sẽ tràn ngập Chí Phèo. “Trận banh” đã chấm dứt, trọng tài đã thổi còi, không có “luật chơi” nào cho phép “xù” kết quả của một trận đấu “đẹp”, không gian lận.  

Tương tự, kết quả bầu cử đã được chuẩn thuận theo thủ tục qui định của hiến pháp. Luật pháp có thể ban cho ông Trump một số cơ hội để khiếu nại. Ông Trump đã qua 60 lần khiếu nại, kiện tụng, không có vụ nào phe ông Trump trưng ra được bằng chứng. Cơ hội khiếu nại của ông Trump đã hết.  

Ngay cả khi cho rằng “quyền phản đối kết quả bầu cử” được hiến pháp bảo vệ. Không có hiến pháp nào bảo vệ một “quyền” đã “tàn”. Ông Trump không thể tiếp tục phản đối mà quyền luôn đi đôi với bổn phận. Ông Trump đã sử dụng tận cùng “quyền” của ông. Còn lại bổn phận. Ông Trump phải lên tiếng chính thức nhìn nhận Biden là tổng thống nước Mỹ.

Một thí dụ để “minh họa” về “quyền” và “bổn phận”. 

Ông Duy vô sòng bạc (của ông Trump ở Las Vegas) đánh bài xì dách. Ông Duy đánh thua rồi đổ thừa nhà cái xốc bài “gian lận”. Luật sòng bài có thể cho phép ông Duy khiếu nại. 

Video trình ra. Trọng tài quan sát mọi động thái của người chia bài. Nếu không thấy bằng chứng gian lận thì ông Duy có “bổn phận” phải chung tiền cho nhà cái. 

Trường hợp này “game over”. Ông Duy không thể vịn vào “quyền hiến định” để kiện cáo đi đâu hết cả. 

Quyền của ông Duy đã “mất” rồi, “hết” rồi. 

Thái độ của ông Trump tiếp tục phản đối kết quả bầu cử, việc này được ông Duy biện hộ. Rõ ràng thái độ này không khác thói rạch mặt kiểu Chí Phèo ra ngoài ngồi ăn vạ, đòi chủ sòng bài trả lại tiền đã thua.    

Trở lại vụ bầu cử. Trên 60 vụ kiện về gian lận bầu cử ông Trump đều thua. Phe ông Trump không đưa ra được bất kỳ một bằng chứng gian lận nào cả. Mặc dầu từ “trọng tài” cho tới người chia bài, tất cả đều là người của ông Trump đưa vô, hoặc là người của đảng Cộng hòa. Chỉ cần một trong hàng ngàn người này “đưa bằng chứng giả”, thì vụ bầu cử năm ngoái ông Trump đã thắng. 

Ngay cả Tối cao pháp viện đa số cũng là người “thân” ông Trump. Thẩm quyền của TCPV rất là “bao la”. TCPV có thể phán một điều “hợp hiến” ngay cả khi kẻ mù cũng thấy rằng nó “vi hiến”. Tức là TCPV muốn xử cách nào cũng được. Nhưng TCPV vẫn bắc đơn kiện của phe Trump từ “vòng gởi xe”.

Đâu phải khi Trump hô “Biden gian lận” thì mọi người tin rằng Biden gian lận đâu ? 

Ông Trump không phải là ông Hồ và tòa án các cấp ở Mỹ không phải là tòa án nhăn răng ở VN. 

Rõ ràng ông Trump là một tay chơi “không đẹp”, kiểu “ăn vùa thua giựt”.