mercredi 11 septembre 2013

Thử xét vài lập luận pháp lý của TS Nguyễn Hồng Thao (và các học giả khác) về chủ quyền của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Lập trường của Việt Nam về chủ quyền của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã được trình bày rõ rệt qua bài viết “Vietnams Position on the Sovereignty over the Paracels & the Spratlys : Its Maritime Claims » của TS Nguyễn Hồng Thao (TS. NHT). Không biết đây có thực sự là quan điểm chính thức của VN, như tựa đề muốn nói, hay chỉ là ý kiến riêng của tác giả. Điều quan tâm là một số lập luận được sử dụng trong bài có thể không thuyết phục.

1/ Thử xét lập luận : « Người ta không thể từ bỏ về cái mà người ta không có chủ quyền ».

Lập luận này thường được dẫn đi dẫn lại ở các bài viết của các học giả VN[i]. Ý kiến này nguyên của học giả Monique Chemillier-Gendreau, trong tập tài liệu « La Souveraineté sur les Archipels Paracels et Spratleys ». Nguyên văn lẽ ra phải viết đầy đủ như sau :

« Dans ce contexte, les déclarations ou pris de position éventuelles des autorités du Nord-Vietnam sont sans conséquences sur le titre de souveraineté. Il ne s’agit pas du gouvernement territorialement compétent à l’égard des archipels. On ne peut renoncer à ce sur quoi on n’a pas d’autorité[ii] ».

Tạm dịch : trong bối cảnh đó, những tuyên bố hay lập trường nào đó của nhà cầm quyền miền Bắc thì không ảnh hưởng lên danh nghĩa chủ quyền. Nhà nước này không phải là nhà nước có thẩm quyền về lãnh thổ đối với các quần đảo. Người ta không thể từ bỏ về cái mà người ta không có thẩm quyền.

Các học giả VN « vắn tắt » bớt, do việc người sau trích dẫn người trước, không kiểm chứng lại nguồn. TS. NHT viết :

« It had no right to give up the territory that it did not have[iii]”  - « Người ta không thể từ bỏ lãnh thổ mà người ta không có thẩm quyền »

Người đầu tiên sử dụng lý lẽ này có lẽ là ông Từ Đặng Minh Thu, qua bài viết ở đây. Tác giả này dịch đoạn văn trên như sau :

“Trong những điều kiện này, những lời tuyên bố hoặc lập trường nào đó của chính quyền miền Bắc Việt Nam không có hiệu lực gì đối với chủ quyền. Đây không phải là chính quyền có thẩm quyền trên quần đảo này. Người ta không thể chuyển nhượng những gì người ta không kiểm soát được…”

Tác giả dịch « Dans ce contexte – bối cảnh này » thành ra « trong những điều kiện này », theo tôi là không phù hợp. Vấn đề cần tìm hiểu: bối cảnh đó là bối cảnh nào ?

Trang 122, tác giả Monique Chemillier-Gendreau nhắc đến ông L. Thomas Bradford, trong « The Spratly Island Imbroglio : a tangled web of conflict”; Ông này cho rằng, qua công hàm Phạm Văn Đồng, “Vietnam réaffirmé sa reconnaissance de la prétention chinois sur les archipels » - « Việc Nam tái xác nhận sự công nhận của họ về chủ quyền của Trung Quốc ở các quần đảo ».

Một số lập luận của bà Monique Chemillier-Gendreau nhằm mục đính phủ nhận ý kiến của Thomas Bradford (cho rằng VN bị Estoppel). Không thể diễn giải Công hàm 1958 như là « tái xác nhận việc công nhận chủ quyền của TQ tại HS và TS ».

Đó là “bối cảnh” của câu văn.

Các học giả VN, chỉ dựa vào câu « Người ta không thể từ bỏ lãnh thổ mà người ta không có thẩm quyền », từ đó kết luận công hàm PVD là không có giá trị ràng buộc. Điều này hiển nhiên thiếu thận trọng. Bởi vì, nó có thể đúng trong bối cảnh này (estoppel) nhưng chưa chắc đúng trong các bối cảnh khác (thí dụ: acquiescement).

Có hai điều cần xem xét:

1/ Vào thời điểm 1958, VNDCCH có là một “quốc gia” như các học giả VN đã nói hay không? Nếu có, quốc gia này có  “thẩm quyền quốc gia - compétence étatique” ở HS và TS hay không ?.

2/ Sau 1976, VN thống nhất đất nước, dĩ nhiên nhà nước CSVN có thẩm quyền trên toàn lãnh thổ đất nước. Câu hỏi đặt ra: VN có bị ràng buộc bởi công hàm 1958 hay không ?  

Điều thứ nhất sẽ khảo sát ở dưới. Điều thứ hai, cũng là sự lo ngại của bà Monique Chemillier-Gendreau. Ý kiến của bà học giả không chỉ vỏn vẹn trong câu văn dẫn trên. Vài dòng trước đó bà viết :

« Néanmoins, son silence devant l’affirmation de souveraineté chinoise sur les iles peut être interprété comme un acquiescement, et cela autant plus qu’il est renforcé par la déclaration relative aux zones de combat et les articles du Nhan Dan.[iv] »

Tạm dịch : « dầu vậy, sự im lặng (của nhà nước VNDCCH) trước sự khẳng định chủ quyền của Trung Hoa tại các đảo có thể được hiểu như là một sự đồng thuận. Việc này càng được củng cố qua các tuyên bố liên quan đến vùng chiến sự và những bài viết trên báo Nhân Dân. »

Phải hiểu thể nào về « acquiescement – sự đồng thuận » theo luật Quốc tế ? Điều này cũng sẽ nói sau đây.

2/ Về ý nghĩa pháp lý « acquiescement – sự đồng thuận » của các « tuyên bố đơn phương ».

Điều cần nói rõ, Tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Trung Quốc về lãnh hải quốc gia, là Tuyên bố đơn phương có hình thức « décision[v] - quyết định » (hơn là hình thức « notification[vi] »).

Theo tập quán quốc tế hiện nay, khi quốc gia ra tuyên bố về bề rộng lãnh hải của nước mình, thường thông báo đến các quốc gia khác « lập trường » của nước mình qua hình thức « notification - thông báo ». Các nước khác, nếu công nhận lập trường này, sẽ gởi công hàm trả lời mang hình thức « reconnaissance[vii] – công nhận ». Trường hợp không đồng ý thì gởi công hàm « phản đối – protestation[viii] ».

Bất kể tuyên bố về lãnh thổ và hải phận của TQ mang hình thức « Désision – quyết định » (mang tính ép buộc cho phía nhận quyết định) hay « Notification – thông báo », công hàm của ông Phạm Văn Đồng là một Tuyên bố đơn phương, công khai, mang hình thức « công nhận » tuyên bố của TQ. (Ở đây là công nhận tuyên bố chủ quyền lãnh thổ cũng như việc mở rộng lãnh hải 12 hải lý của TQ).

Vấn đề là, VN hôm nay có thể nói ngược lại, là chỉ công nhận lãnh hải 12 hải lý của TQ ở mọi vùng lãnh thổ của TQ, mà không tôn trọng ở HS và TS, với lý do HS và TS thuộc VN hay không ?.

Như bà Monique Chemillier-Gendreau có ghi nhận, VNDCCH đã tôn trọng quyết định của TQ qua nhiều hình thức khác nhau, trong một thời gian dài, trong đó có việc nhìn nhận vùng biển và vùng trời của TQ tại HS, qua bài báo trên nhật báo Nhân Dân. Mặt khác, nhà cầm quyền miền Bắc cũng nhiều lần cho in bản đồ trong đó ghi chú Nam Sa và Tây Sa thuộc TQ (chứ không phải HS và TS thuộc VN).
Các động thái trên là hình thức « comportement actif[ix] - thái độ chủ động », dấu hiệu của « acquiescement ».

Ngoài ra, nhà cầm quyền miền Bắc đã giữ thái độ im lặng khi TQ xâm lăng HS của VN năm 1974. Đây là hình thức « comportement passif – thái độ thụ động », một dấu hiệu khác của « acquiescement ».

Khoản 1 của Nguyên tắc Hướng dẫn về Tuyên bố Đơn phương của Quốc gia được  Ủy ban Công pháp Quốc tế thuộc LHQ[x] thông qua có nội dung :

Des déclarations formulées publiquement et manifestant la volonté de s’engager peuvent avoir pour effet de créer des obligations juridiques. Lorsque les conditions pour qu’il en soit ainsi sont réunies, le caractère obligatoire de telles déclarations repose sur la bonne foi; les États intéressés peuvent donc en tenir compte et tabler sur elles; ils sont fondés à exiger que de telles obligations soient respectées.

Tạm dịch : « Những tuyên bố phát biểu một cách công khai và bày tỏ ý muốn tôn trọng (những gì đã tuyên bố) có thể có tác dụng tạo ra các nghĩa vụ pháp lý. Khi các điều kiện được hội đủ, tính cách ràng buộc của các tuyên bố này được dựa vào sự thành tín. Quốc gia liên hệ có thể xem xét và dựa vào tuyên bố này làm căn cứ, để đòi hỏi các nghĩa vụ đó phải được tôn trọng ».

Công hàm 1958 hội đủ hai yếu tố « công khai » và « ý chí tôn trọng ». Vì vậy nó có thể tạo ra một nghĩa vụ pháp lý.

Nhà nước CHXHCNVN hiện nay - nhà nước kế thừa VNDCCH -  khó có thể cho rằng « công hàm 1958 công nhận hải phận 12 hải lý của Trung Quốc ở mọi nơi, ngoại trừ HS và TS ».
Sai lầm là vì, năm 1958, thay vì đưa ra tuyên bố « phản đối – protestation », theo đúng như thủ tục của luật quốc tế, nhằm bảo lưu chủ quyền của VN tại HS và TS, VNDCCH lại viết công hàm « công nhận – reconnaissance » nội dung tuyên bố của TQ.

Theo tập quán quốc tế, các quan Tòa thường rất thận trọng khi kết án một quốc gia trên nguyên tắc « acquiescement », nếu chỉ đơn thuần dựa trên một vài « dấu hiệu » nào đó. Trường hợp VN, nếu so sánh với các bản án mẫu, với thái thái độ thụ động của CSVN trước việc xâm lăng của TQ ở HS năm 1974, cách hành sử của nhà nước CSVN qua việc nhìn nhận và tôn trọng vùng biển, vùng trời của TQ tại HS và TS, các việc in ấn các bản đồ, cùng với các các tuyên bố của các viên chức nhà nước… tất cả tạo nên thành tố « acquiescement – nhìn nhận » chủ quyền của TQ tại HS và TS.

TS Nguyễn Hồng Thao dẫn vụ án xử Tân Tây Lan và Úc cùng kiện Pháp năm 1974 lên CIJ về việc Pháp « Thử bom nguyên tử trong khí quyển » :

 “If States make statements by which their freedom of action is to be limited, a restrictive interpretation is called for”.
Tạm dịch : Nếu một quốc gia có tuyên bố mà (nội dung của tuyên bố) có thể hạn chế hành động của quốc gia này trong tương lai, việc giải thích cần hạn chế.

Hàm ý cho rằng việc diễn giải công hàm 1958 cũng cần sự hạn chế.

Trường hợp vụ án, các viên chức có thẩm quyền của Pháp đã ra các tuyên bố, theo đó nước Pháp sẽ không thử bom nguyên tử trong khí quyển nữa. Tân Tây Lan và Úc vịn vào các tuyên bố này kiện lên CIJ, yêu cầu Pháp không được thử (khi thấy Pháp lăm le muốn thử nữa).

Ta thấy rõ ràng tuyên bố của các viên chức Pháp có hệ quả hạn chế tự do của nước Pháp trong tương lai. Nhưng kết quả phân xử cho thấy, phía Tân Tây Lan và Úc thắng kiện. Pháp không được quyền thử bom nguyên tử trong bầu khí quyển (nhưng sau đó thì thử dưới lòng đất!).

Tuyên bố của ông Đồng hạn chế hành động nào của VN trong tương lai ? Không có điều nào cả !
Vấn đề tranh chấp chủ quyền HS giữa VN và TQ bắt đầu từ năm 1909. Còn tranh chấp TS thì sau Thế chiến II. Nhà cầm quyền VNDCCH không thể vịn lý do “không biết” để mà tuyên bố “công nhận” đòi hỏi của TQ.

TS NHT ghi lại nội dung của điều 7[xi] của bản Nguyên tắc Hướng dẫn về Tuyên bố Đơn phương của Quốc gia được  Ủy ban Công pháp Quốc tế thuộc LHQ. Người viết đã từng tham khảo và tạm dịch (từ tiếng Pháp) như sau:

Một tuyên bố đơn phương chỉ có khả năng ràng buộc quốc gia (đã phát biểu) khi nội dung (của bản tuyên bố) có một mục đích rõ ràng và cụ thể. Trong trường hợp có nghi ngờ về mức độ cam kết của tuyên bố, thì văn bản phải được giải thích một cách hạn chế.

Trở lại vụ án “Thử bom nguyên tử” 1974 giữa Tân Tây Lan và Pháp trước CIJ, Tòa cũng nhấn mạnh :

Một tuyên bố đơn phương chỉ có thể tạo nghĩa vụ pháp lý đối với quốc gia tuyên bố khi mà nó có mục tiêu rõ rệt và cụ thể[xii].

Các tuyên bố của các lãnh đạo Pháp đã có mục tiêu rõ rệt và cụ thể. Vì vậy nó tạo nghĩa vụ pháp lý, buộc nước Pháp phải giữ lời.

Tương tự, tuyên bố của Phạm Văn Đồng cũng rất rõ rệt và cụ thể: nhìn nhận và tán thành tuyên bố về lãnh thổ cũng như việc mở rộng 12 hải lý lãnh hải của TQ. Vì vậy nó sẽ tạo nghĩa vụ pháp lý, buộc VN phải giữ lời. Có nghĩa là VN phải tôn trọng lãnh hải 12 hải lý của TQ ở mọi nơi có liệt kê trong bản tuyên bố của TQ. Tức kể cả ở HS và TS.

TS NHT cũng dẫn vụ án giữa Mã Lai và Singapour về chủ quyền các đảo Branca/Pulau Batu Puteh, Middle Rocks và South Ledge, CIJ[xiii], ngày 23-5-2008 nhằm biện hộ cho công hàm 1958 :

The declaration by PM Pham Van Dong did not have a constitutive character for giving up territory. In the case concerning sovereignty over Pedra Branca/Pulau Batu Puteh, Middle Rocks, and South Ledge (Malaysia/Singapore) regarding the Singapore argument that the Johor Authority recognized Singapore sovereignty over those islands, the Court took a position not to consider the Johor reply as having a constitutive character in the sense that it had a conclusive legal effect on Johor. The text of PM Pham Van Dong does not have any constitutive character regarding South Vietnamese territory. Consequently, it had no conclusive legal effect on the fate of the Paracels and Spratlys.

Tạm dịch: Tuyên bố của Phạm Văn Đồng không có giá trị thiết định cho việc từ bỏ lãnh thổ. Trong vấn đề tranh chấp chủ quyền  tại các đảo Pedra Branca / Pulau Batu Puteh, Middle Rocks et South Ledge (Malaisie / Singapour), liên quan đến lý lẽ của phía Singapour, (nước này) cho rằng lãnh đạo của Johor đã nhìn nhận chủ quyền của Singapour tại các đảo. Lập trường của Tòa thì không xem lá thư của Johor có giá trị thiết định trong chiều hướng (lá thư này) có hiệu quả pháp lý đối với Johor. Văn thư của ông Đồng không có giá trị thiết định đối với những vấn đề lãnh thổ của miền Nam. Do đó, không có một hiệu quả pháp lý nào trên vấn đề HS và TS.

TS NHT, cũng như nhóm Quĩ Nghiên cứu biển Đông, dẫn thí dụ về quan điểm của Tòa đối với lá thư của Bộ trưởng Ngoại giao Johor trong vụ án dẫn trên nhưng việc trích dẫn này không phù hợp, nếu không nói là thiếu thành thật.

Trong vụ án CIJ xử vụ tranh chấp giữa Mã Lai và Singapour về chủ quyền các đảo Pedra Branca/Pulau Batu Puteh, Middle Rocks và South Ledge, việc giải thích hiệu lực công hàm 1953 của Johor chiếm một thời lượng lớn, từ đoạn 192 đến đoạn 230 trong biên bản ghi chép phiên xử.
Đoạn trích dẫn của TS NHT về hiệu quả lá thư của Johor là đoạn 227, nguyên văn như sau:

 227. Pour ce qui est du premier argument, la Cour ne considère pas la réponse du Johor comme revêtant un caractère constitutif au sens où elle aurait eu pour celui-ci un effet juridique décisif. Il s’agit plutôt d’une réponse à une demande de renseignements. Ainsi qu’il apparaîtra plus loin, cet argument est, compte tenu des circonstances, étroitement lié au troisième.

Tạm dịch : về lý lẽ thứ nhất, Tòa không cho rằng lá thư trả lời của Johor bao gồm một giá trị thiết định trong chiều hướng nó đem lại cho lý lẽ này một hiệu quả pháp lý quyết định. Đúng ra đây là câu trả lời cho một câu hỏi tham khảo. Cũng như nó sẽ trở lại ở phần sau, lý lẽ này, với hoàn cảnh như vậy, có liên hệ chặt chẽ với (lý lẽ) thứ ba.

TS NHT đã trích dẫn không đầy đủ, sau đó diễn giải ý nghĩa xa rời bối cảnh.

Ở đây Tòa không hề cho rằng lá thư của nhà nước Johor không có hiệu lực pháp lý, mà chỉ cho rằng nó không có một hiệu quả pháp lý quyết định cho lý lẽ thứ nhất. Vấn đề là lý lẽ thứ nhất đó là gì ?
Tòa cũng cho rằng lý lẽ này quan hệ chặt chẽ với (cái) thứ ba. (Cái) thứ ba đó là cái gì ?

Muốn biết lý lẽ thứ nhất và « cái » thứ ba là gì, ta phải xem đoạn 226 :

226. Pour conclure son examen de la correspondance de 1953, la Cour relèvera trois aspects connexes de l’argumentation développée par les conseils de Singapour à partir de celle-ci. Premièrement, Singapour a présenté la réponse du Johor comme une «déclaration de non-revendication expresse» ou «officielle» du titre sur Pedra Branca/Pulau Batu Puteh; deuxièmement, elle a invoqué la notion d’estoppel ; troisièmement, elle a fait valoir que la réponse du Johor équivalait à un engagement unilatéral obligatoire.

Tạm dịch : Để kết luận việc khảo sát của Tòa về lá thư 1953, Tòa đưa ra ba phương diện liên hệ đến lý lẽ được khai triển bởi các Ủy viên Singapour ở lá thư này. Thứ nhất, Singapour đã trình bày thư trả lời của Johor như là một « tuyên bố minh thị từ bỏ chủ quyền », hay « chính thức », về danh nghĩa ở đảo Pedra Branca/Pulau Batu Puteh ; thứ hai, viện dẫn khái niệm Estoppel ; thứ ba, lập luận rằng thư trả lời của Johor tương đương với một cam kết đơn phương bắt buộc.

Như vậy, đoạn trích dẫn của TS NHT chỉ liên quan đến khía cạnh thứ nhất : Singapour đã trình bày thư trả lời của Johor như là một « tuyên bố minh thị từ bỏ chủ quyền », hay « chính thức », về danh nghĩa ở đảo Pedra Branca/Pulau Batu Puteh. Tức là, theo Tòa, lá thư không có giá trị thiết định để việc « tuyên bố minh thị từ bỏ chủ quyền » có hiệu quả pháp lý quyết định.

Điều này không có nghĩa, lá thư không có giá trị pháp lý nào khác. Tòa còn có ý kiến riêng của tòa, có điều các học giả VN « quên » không nhắc mà thôi.

Tòa cho rằng lá thư này là một câu trả lời của Johor cho câu hỏi của Singapour. Câu hỏi của Singapour đại khái là : Đảo Pedra Branca/Pulau Batu Puteh có thuộc chủ quyền của Johor không ?
Bộ trưởng Ngoại giao lâm thời Johor trả lời : Đảo Pedra Branca/Pulau Batu Puteh không thuộc sở hữu của Johor.

Đoạn 275, ý kiến của Tòa về lá thư :

« Il s’agit de la déclaration, faite dans des termes clairs en 1953 par le secrétaire d’Etat par intérim de l’Etat du Johor, selon laquelle le Johor ne revendiquait pas la propriété de Pedra Branca/Pulau Batu Puteh. Cette déclaration revêt une importance capitale ».

Tạm dịch : Về tuyên bố 1953 của Ngoại trưởng lâm thời Johor, thể hiện bằng những lời lẽ cụ thể, theo đó Johor không tranh dành chủ quyền đảo Pedra Branca/Pulau Batu Puteh. Tuyên bố này mang một tầm quan trọng quyết định.

Cuối cùng Tòa phán đảo Pedra Branca/Pulau Batu thuộc về Singapour, mặc dầu hồ sơ phía Mã Lai đã lập rất công phu, bao gồm nhiều văn kiện lịch sử quan trọng, chứng minh được rằng Mã Lai có chủ quyền lịch sử tại đảo tranh chấp.

Mã Lai bị mất chủ quyền lịch sử ở đảo này vì nhiều lý do, ngoài lý do « effectivité », Singapour đã hành sử các quyền chủ quyền một cách hòa bình và liên tục tại đảo này, còn có lá thư của Johor là một yếu tố quyết định « importance capitale ». 

Trở lại tuyên bố 1958 của ông Đồng, thật vậy, nội dung lá thư không hề nói đến chủ quyền HS và TS. Nhưng lá thư này có thể diễn giải tương tự như trường hợp lá thư của Johor, đó là « ý kiến » của VNDCCH về một quyết định của TQ.

Ngoài ra Công hàm 1958 có tính cách pháp lý ràng buộc của một tuyên bố « công nhận[xiv] », trong khi lá thư Johor chỉ là một « câu trả lời cho một câu hỏi tham khảo - une réponse à une demande de renseignements. »

3/ Vấn đề « thẩm quyền lãnh thổ » :

Trở lại câu : « Người ta không thể từ bỏ lãnh thổ mà người ta không có thẩm quyền » mà các học giả VN dẫn tới dẫn lui trong các bài viết. Như đã viết ở trên, điều cần phải làm cho minh bạch là vào thời điểm 1958, VNDCCH có là một “quốc gia” như các học giả VN đã nói hay không? Nếu có, quốc gia này có  “thẩm quyền quốc gia - compétence étatique” ở HS và TS hay không ?.

Câu trả lời là vào khoảng 1958, VNDCCH không hề là một « quốc gia », theo định nghĩa của Quốc tế Công pháp, đơn giản vì VNDCCH không phải là « đối tượng » của Quốc tế Công pháp.

Nếu hiểu theo nghĩa rộng, VNDCCH và VNCH chỉ là « quốc gia từng phần – Etat partiel » trong một « quốc gia tổng thể - Etat global[xv] ».

Trong thời kỳ 1954-1975, Việt Nam là một đất nước bị phân chia (état divisé – divided state). Trường hợp Ấn Độ và Pakistan, hoặc Pakistan và Bangladesh, cũng là các nước bị phân chia nhưng tình trạng pháp lý của các quốc gia[xvi] này hoàn toàn khác với Việt Nam.

Theo định nghĩa[xvii], quốc gia bị phân chia (état divisé) là quốc gia, lúc trước khi bị phân chia đã là một « quốc gia – Etat », được cộng đồng quốc tế nhìn nhận, và lập trường chính trị chung của các bên (sau khi bị phân chia) là mong muốn thống nhất lại đất nước trong tương lai. Đường ranh phân chia chỉ có giá trị tạm thời, không được nhìn nhận là đường biên giới.

Cộng đồng quốc tế đã nhìn nhận Việt Nam là một quốc gia, thành hình từ rất lâu, đã tuyên bố độc lập từ thế kỷ thứ X. Sau hiệp định Genève 1954, VN bị phân chia bằng vĩ tuyến 17 thành hai vùng lãnh thổ. Đường phân chia này chỉ có giá trị tạm thời (nhằm về tập kết quân sự). Cũng theo qui định của Hiệp định này, việc thống nhất VN sẽ thể hiện bằng một cuộc bầu cử, trễ nhất là năm 1956. Việc bầu cử, do nhiều lý do, đã không diễn ra. Hai miền, từ những năm của thập niên 60, trên thực tế đã hành sử như là « quốc gia ». Nhưng lập trường chính trị của hai bên vẫn là ý muốn thống nhất lại đất nước. Cả hai miền đều quyết định không gia nhập Liên hiệp quốc[xviii].

Như vậy Việt Nam là một quốc gia bị phân chia (état divisé – divided state), tương tự trường hợp của Đại Hàn và Đức, ý muốn của họ là trong tương lai thống nhất lại đất nước[xix].

Trường hợp Ấn Độ và Pakistan, sau khi được Anh trả độc lập, đã quyết định phân chia đất nước thành hai vùng lãnh thổ và việc phân chia có tính cách vĩnh viễn. Hai vùng lãnh thổ trở thành hai quốc gia : Ấn Độ và Pakistan, với một đường biên giới được xác định và cả hai đều gia nhập vào Liên Hiệp quốc. Trường hợp Bangladesh ly khai khỏi Pakistan để trở thành một quốc gia độc lập, được quốc tế nhìn nhận. Các trường hợp phân chia này hoàn toàn khác với tình trạng của quốc gia Việt Nam.

Về thái độ của các nước trên thế giới, có thể phân chia thành 2 nhóm khác nhau, có quan niệm đối chọi nhau về tư cách pháp nhân của « quốc gia Việt Nam » trong giai đoạn 1954-1975.

Nhóm 1 : công nhận nhà nước VNCH là chính thống, đại diện cho quốc gia Việt Nam (từ Nam Quan đến Cà Mau). Các nước tiêu biểu của nhóm này bao gồm các nước tư bản, thuộc khối tự do như Mỹ, Pháp, Anh… khoảng 56 quốc gia. Nhà nước VNCH cũng được nhìn nhận là đại diện chính thức của Quốc gia VN tại các định chế quốc tế thuộc LHQ.

Nhóm 2 : công nhận nhà nước VNDCCH là chính thống, đại diện cho Quốc gia VN (từ Lạng Sơn đến Cà Mau). Các nước tiêu biểu của nhóm này bao gồm các nước thuộc khối cộng sản, như Liên Xô, Trung Quốc…

Ngoại lệ Ấn Độ, không công nhận bên nào là đại diện chính thống của quốc gia Việt Nam[xx].
Như thế, lập trường áp đảo là chỉ có 1 quốc gia VN, hoặc do nhà nước VNDCCH đại diện, hoặc do VNCH đại diện.

Điều cần nói, Hoa Kỳ cũng đã từng nhìn nhận Việt Nam là một quốc gia « tạm thời bị phân chia, giống như trường hợp của Đại Hàn và Đức ». Việc này trình bày trong « Biên bản ghi nhớ » của bộ Ngoại giao ngày 4-3-1966[xxi]. Hoa Kỳ cũng nhìn nhận và tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam theo tinh thần Hiệp định Paris 1973. Tức nhìn nhận VN là một quốc gia duy nhứt.

Điều đáng ghi nhận khác, liên tục nhiều năm, cho đến năm 1960, nhà cầm quyền miền Bắc vẫn còn lên tiếng, vào tháng 7, yêu cầu miền Nam tuân thủ hiệp định Genève, trưng cầu dân ý thống nhất đất nước.

Như thế thì lý lẽ nào để cho rằng, vào thời điểm 1958, VNDCCH và VNCH là hai quốc gia ?

VNCH và VNDCCH là hai nhà nước thù nghịch nhau vì lý do ý thức hệ (tương tự Đại Hàn và Đức) nhưng cùng thuộc về một nước VN duy nhất. Vif cùng chủ trương một nước VN duy nhất, hai nhà nước, chính thống hay không chính thống, đều có tư cách và trách nhiệm như nhau về các vấn đề chủ quyền lãnh thổ.

Nhóm Quĩ Nghiên cứu Biển Đông, qua bài viết ở đây, có dẫn tên một số học giả như James Crawford, Robert Jennings, Nguyễn Quốc Định, Jules Basdevant, Paul Reuter, Louis Henkin, Grigory Tunkin, cho rằng VNCH và VNDCCH là « hai quốc gia » riêng biệt. Điều đáng tiếc là không thấy nhóm nghiên cứu này nói rõ hơn là các học giả đó viết trong sách nào ? trang mấy ? Riêng tác giả James Crawford, thì trong cuốn The Creation the States in International Law mà tôi có tham khảo, từ trang 472 đến trang 477 cho rằng Việt Nam là một quốc gia bị phân chia.

Nhưng cũng đặt thử giả thuyết, năm 1958 VNDCCH và VNCH là hai « quốc gia », cho đẹp lòng các học giả VN. Hệ quả sẽ ra sao về các vấn đề lịch sử và pháp lý ?

Khi đã là « Quốc gia », VNDCCH sẽ phải là đối tượng của Quốc tế Công pháp. Các hành vi, các tuyên bố của VNDCCH trước quốc tế, từ 1954 đến 1975, sẽ là một vấn đề thuộc phạm vi « quốc tế ». Công hàm 1958 vì vậy trở thành một vấn đề thuộc công pháp quốc tế. Dĩ nhiên nước VNDCCH sẽ là nước thứ ba, không liên can gì đến việc tranh chấp HS và TS giữa TQ và nước VNCH.

Còn chiến tranh VN, tức cuộc nội chiến nồi da xáo thịt, tên « xung kích XHCN » sừng sỏ đánh tên đại diện « tiền đồn thế giới tự do » VNCH, qua sự ủy nhiệm của các « quan thầy quốc tế ». Là hai quốc gia, quan điểm của miền Bắc, cuộc chiến tranh « Giải phóng, Thống nhất đất nước », sẽ phải đổi lại là chiến tranh « chinh phục, mở rộng bờ cõi ». Quan điểm của VNCH, chiến tranh chống kẻ xâm lăng, dân tộc « Nam kỳ » « mất nước », bị dân tộc Bắc Kỳ đô hộ. Quan điểm quốc tế, cuộc chiến tranh này vi phạm các nguyên tắc của Hiến chương LHQ, các nước có bổn phận can thiệp để bảo vệ VNCH (như trường hợp Koweit bị Irak xâm lăng qua cuộc chiến Vùng Vịnh lần 1). Lúc đó sự can thiệp (nếu có) của Hoa Kỳ sẽ chính đáng, (chứ không bị thế giới lên án như chiến tranh VN).

Đặt giả thuyết này để thấy rằng quan điểm hai nhà nước VNDCCH và VNCH là hai « quốc gia » là một điều rất sai, sai lầm về mặt lịch sử và tai hại về mặt pháp lý.

Vì vậy, cố gắng biện luận rằng VNDCCH và VNCH là hai quốc gia (với những bằng chứng ngụy tạo), sau đó dẫn lời (một cách không đầy đủ) củaMonique Chemillier-Gendreau : “người ta không thể cho cái mà người ta không có thẩm quyền”… đều chỉ là ngụy biện. Các học giả này không ai chứng minh rằng VHDCCH và VNCH là hai quốc gia độc lập, có chủ quyền, lãnh thổ được phân định, theo như tiêu chuẩn của Quốc tế công pháp. (Và đây là điều thật may mắn cho tiền đồ của dân tộc VN !)

Thái độ ngụy biện, hay việc thiếu thành thật trong việc trích dẫn, không hề giúp VN giành lại HS và TS, mà ngược lại, nó chỉ cho người ta thấy sự yếu kém của học giả VN và càng củng cố thêm cho lý lẽ của phía TQ.

4/ Vấn đề kế thừa :

TS Nguyễn Hồng Thao, cũng như nhiều học giả VN, khi trích dẫn câu « người ta không thể từ bỏ cái mà người ta không có chủ quyền », mặc nhiên thừa nhận hai quần đảo HS và TS không thuộc chủ quyền của « quốc gia » VNDCCH.

Như vậy, sau 1976, từ bao giờ HS và TS của « quốc gia » VNCH trở lại thuộc chủ quyền của CHXHCNVH ? Trở lại bằng cách nào ? Kế thừa từ Cộng hòa Miền nam VN hay kế thừa VNCH ? Kế thừa ở đây là kế thừa « Quốc gia – Etat » (vì đã nhìn nhận VNDCCH và VNCH là hai quốc gia) chứ không phải kế thừa chính quyền (Gouvernement). Thủ tục kế thừa đã thể hiện ra sao ?

Không thấy ai đưa ra lời giải thích rành mạch.

Nhóm Quĩ nghiên cứu Biển Đông, trong bài viết ở đây, đề nghị nhà nước CSVN hôm nay « nhìn nhận » VNCH « từng là một quốc gia » (sic !).

Vấn đề « nhìn nhận » một vùng lãnh thổ có phải là một quốc gia hay không là tùy thuộc theo nhiều tiêu chuẩn pháp lý do LHQ đặt ra, chứ không tùy thuộc vào sự việc được sự nhìn nhận của nước khác. Mặt khác, người ta không thể « nhìn nhận » tư cách pháp nhân cho một thực thể nào đó đã không còn hiện hữu.

Vấn đề là làm thế nào « kế thừa » VNCH chứ không phải « nhìn nhận » VNCH đã từng như là một quốc gia !

Như thế lập luận « có hai quốc gia VN trong khoảng 1956-1975 » là điều nguy hiểm cho VN tương lai. Nó không hề hóa giải được hệ quả công hàm 1958 của ông Phạm Văn Đồng mà nó chỉ có khả năng xóa bỏ mọi chứng cớ pháp lý quan hệ giữa VN hôm nay (CHXHCNVN) và các đảo HS và TS.

Cũng nói về lý lẽ của phía TQ, trả lời khi VN đòi đưa HS vào bàn thuơng thuyết : khi nào VN chứng minh được miền Nam (tức VNCH) không thuộc nước Việt Nam thì họ sẽ ngồi xuống đàm phán với VN về quần đảo HS.

Phía VN « ngọng » ! Vì danh không chánh thì ngôn không thuận !

Đối với TS, quan niệm của TQ, VNDCCH đã chiếm trái phép các đảo TS của TQ.

Các học giả VN, người đi sau « copy » người đi trước, không ai thấy có nhu cầu xem xét lại, rập khuôn vào cùng một lập luận, cùng mắc phải một sai lầm, « đóng đinh » VN cứng đơ trên cây « thánh giá », bất khả tranh biện với TQ.

Vấn đề « kế thừa » và « liên tục » quốc gia của VN đã được nhiều tác giả đề cập, cụ thể qua tập « State Succession and Membership in International Organisations – Legal Theories versus Political Pragmatism »[xxii] của tác giả Conrad G. Buhler (trang 69-113) hoặc Luận án của bà Mme Joële Nguyên Duy-Tân, tóm lược qua bài « La représentation du VietNam dans les institutions spécialisées »[xxiii].

Các tập tài liệu này đã đưa ra những tài liệu pháp lý, cho thấy CHXHCNVN là một quốc gia mới. Nhà nước CHXHCNVN là nhà nước tiếp nối của VNDCCH[xxiv]. Nhà nước này từ chối kế thừa bất kỳ danh nghĩa nào thuộc về VNCH.

Những nhà lãnh đạo CSVN làm như thế là đúng với cái « logic » của họ.

Bà Joële Nguyên Duy-Tân có đặt vấn đề :

« La R.D.V.N. avait toujours nié théoriquement l'existence d'un Etat au Sud, en particulier celui de la R.V.N. La R.S.V.N. peut-elle succéder à une entité inexistante pour elle?

Tạm dịch : VNDCCH luôn cương quyết phủ nhận sự hiện hữu của một quốc gia ở miền Nam, tức VNCH. CHXHCNVN có thể kế thừa một thực thể mà họ đã quan niệm là không hiện hữu ?

Tài liệu thuộc Bộ Ngoại giao Pháp, ngày 9-9-1978, cho thấy CHXHCNVN từ chối kế thừa di sản của thực dân Pháp (chuyển sang VNCH) :

A la suite de la disparition de la République du Sud VN, le nouveau gouvernement de VN n’a pas fait la déclaration indiquant qu’il entendait succéder aux traités des 16 Septembre 1954 et 16 Aout 1955, conclus entre la République française et l’ancien gouvernement Sud Vietnam. Il en résulte, conformément au principes du droit international actuel en matière de question du succestion d’Etat, que ces traités n’engagent plus le gouvernement actuel de VN et qu’il sont devenus caduc.[xxv]

Tạm dịch : Tiếp theo sự biến mất của Cộng hòa miền Nam, chính phủ VN mới đã không ra tuyên bố cho biết họ kế thừa các hiệp ước 16-9-1954 và 16-8-1955, ký kết giữa Cộng hòa Pháp và chính phủ miền Nam VN cũ. Vì vậy, chiếu theo các nguyên tắc của luật quốc tế hiện thời về vấn đề kế thừa quốc gia, các hiệp ước này không còn ràng buộc chính phủ VN hiện thời và chúng trở thành vô giá trị. 

Một loạt các hành động khác, như CHXHCNVN ký kết vào hiệp ước « Không phổ biến vũ khí nguyên tử » với tư cách một quốc gia mới, từ chối kế thừa VNCH[xxvi]

Hoa Kỳ cũng xác nhận VNCH là một quốc gia bị gián đoạn[xxvii] :

The Republic of Viet Nam, both of a state and government, had ceased to exist in law or fact and the United States had not recognized any government as the sovereigh authority in the territory formerly known as South Viet nam

Tạm dịch: Việt Nam cộng hòa, quốc gia và chính quyền, đã ngừng hiện hữu trên phương diện pháp lý và thực tế. Hoa Kỳ không công nhận bất kỳ nhà nước nào trên vùng lãnh thổ trước kia mang tên Nam Việt Nam.

TS NHT lập luận CHXHCNVN kế thừa HS và TS từ CHMNVH. Vậy thì nhà nước CHMNVN đã thụ đắc danh nghĩa chủ quyền tại HS và TS khi nào ? Từ nhà Nguyễn, chính quyền thực dân Pháp hay VNCH ?

Tuyên bố của bộ Ngoại giao Pháp 9-9-1978 dẫn trên cho thấy lập luận của TS NHT về kế thừa HS và TS là không có cơ sở.

Như vậy, lập luận VNDCCH và VNCH là « hai quốc gia » đã đưa VN vào bế tắc.

Trong khi lập luận « hiệp định Genève 1954 phân chia VN thành hai quốc gia » nguyên thủy là lập trường của Hoa Kỳ.

Hoa Kỳ là một « tác nhân » trong cuộc chiến VN. Vì lo ngại xảy ra một « chiến tranh Cao Ly thứ 2 » với Trung Cộng, đồng thời bảo đảm việc can thiệp vào VN phải phù hợp với các nguyên tắc về chiến tranh theo qui định của quốc tế « jus ad bellum » và « jus in bello »[xxviii], HK muốn biến miền Nam thành một « tiền đồn chống cộng » vững chắc. Do đó nước này có ý muốn thành lập ở miền Nam một « quốc gia » đúng nghĩa.

Nội dung bức thư[xxix] của Eisenhower gởi ông Diệm này 1-10-1954 : chúng tôi sẽ giúp cho VNCH xây dựng thành một « quốc gia » phú cường, có khả  năng chống lại mọi loạn lạc bên trong cũng như những gây hấn bên ngoài.

Tháng 12 năm 1961, trả lời thư ông Diệm, TT Kennedy hứa hẹn[xxx] : « Chúng tôi sẵn sàng giúp chính quyền VNCH để bảo vệ người dân trong nước, để giữ vững nền độc lập của đất nước ».

Hoa Kỳ muốn xây dựng miền Nam VNCH trở thành một « quốc gia » hùng mạnh, có tính chính thống, duy nhất đại diện quốc gia VN. Cuộc chiến VN sẽ cuộc chiến « xâm lược », vì miền Bắc vi phạm hiệp định Genève, xâm lược miền Nam. Từ đó Hoa Kỳ mới có lý do vịn vào để đổ quân vào VN, tương tự như chiến tranh Cao Ly. Nhưng VNCH không trở thành một quốc gia « chính thống » và « hùng mạnh », vì song song đó, các nước XHCN cũng giúp VNDCCH trở thành một quốc gia « chính thống » và « hùng mạnh » khác. Cuộc chiến mà Hoa Kỳ lo ngại (trường hợp Bắc Hàn xua quân đánh Nam Hàn) đã không xảy ra, vì lãnh đạo CSVN đã áp dụng phương sách của Mao Trạch Đông, dùng « du kích chiến », nuôi dưỡng con bài MTGPMN đồng thời mở mặt trận chính trị tuyên truyền, bôi nhọ việc can thiệp của HK vào VN và kích động những trí thức ở miền Nam trở thành « phản chiến ».

Cuộc chiến « hao mòn » này đã làm cho HK hụt hơi, như chiến tranh Afghanistan hiện nay, trong khi dư luận trong và ngoài nước chống lại cuộc chiến. Cuối thập niên 60 HK thay đổi quan niệm về VN, đồng thời công nhận hai thực thể chính trị khác, cũng « đại diện cho VN », là VNDCCH và CHMNCH. Lập trường của Hoa Kỳ thay đổi, kéo chính phủ VNCH xuống ngang hàng với MTGPMN, chuẩn bị tư thế « đồng minh tháo chạy ». Những hứa hẹn của Eisenhower, Kennedy (và Nixon sau này) trở thành vô ý nghĩa. Tình trạng pháp lý của quốc gia Việt Nam do đó lại càng rắc rối hơn.

Vấn đề kế thừa của VN, đáng lẽ chỉ là « kế thừa chính quyền - succession gouvernement » lại trở thành « kế thừa quốc gia – succession d’état ».

Kế thừa chính quyền thuộc phạm vi « nội bộ » của quốc gia, « trong nhà đóng cửa dạy nhau » trong khi kế thừa quốc gia thuộc phạm vi quốc tế. Chuyện nội bộ có thể thay đổi hay sửa chữa nhưng chuyện thuộc phạm vi quốc tế thì sẽ rất khó khăn. Vấn đề là việc hòa giải quốc gia phải được thể hiện nghiêm túc.

Các học giả VN cùng quyết định « vung đao tự thiến ». Mất nước do đó trước hết là do mình.

5/ Giải pháp nào ?

Nội dung Nguyên tắc hướng dẫn của LHQ về « Acquiescement – sự đồng thuận » đã ghi ở trên : « Những tuyên bố phát biểu một cách công khai và bày tỏ ý muốn tôn trọng (những gì đã tuyên bố) có thể có tác dụng tạo ra các nghĩa vụ pháp lý...  Khi các điều kiện được hội đủ, Quốc gia liên hệ có thể xem xét và dựa vào tuyên bố này làm căn cứ, để đòi hỏi các nghĩa vụ đó phải được tôn trọng ». 

Các điều kiện đã hội đủ : CHXHCNVN là nhà nước tiếp nối nhà nước VNDCCH, có đầy đủ thẩm quyền quốc gia về lãnh thổ, trên phương diện thực tế cũng như trên phương diện pháp lý. TQ có thể bất cứ lúc nào, dựa vào tuyên bố 1958, đòi hỏi VN tôn trọng.

Đứng trước đòi hỏi này, VN ở vào thế yếu về cả hai mặt : pháp lý và tương quan lực lượng. Trong khi quan niệm của TQ ngày càng cứng rắn: những gì thuộc chủ quyền lãnh thổ quốc gia đều thuộc lào “lợi ích cốt lõi” của TQ.

Các giải pháp có thể xảy ra như sau:

1-   Trung Quốc có thể sử dụng vũ lực để giải quyết vấn đề chủ quyền. VN sẽ đứng vào thế yếu vì vừa không đủ sức bảo vệ cũng như không có đồng minh tin cậy giúp đỡ.

2-   Việt Nam cố gắng giải quyết vấn đề thông qua thuơng lượng, phù hợp với “luật quốc tế” về việc không thực hiện được các tuyên bố đơn phương[xxxi] (công hàm 1958). Nhưng việc thuơng lượng cho thấy VN khó đạt được giải pháp mà người dân dễ dàng chấp thuận. VN cố gắng tập trung vào việc “hải phận 12 hải lý” ở các đảo, cho rằng các đảo HS và TS là các đảo nhỏ. Trong khi TQ đi hai bước: đường chữ U và hiệu quả Kinh tế độc quyền ZEE (200 hải lý) của các đảo. Nếu VN bác được đường chữ U thì cũng khó bác bỏ vùng ZEE các đảo, bởi vì chính VN cũng đã từng chủ trương như vậy. Sai lầm lớn của VN là anh có tư cách nào cấm người ta khi anh cũng chủ trương y như vậy? Cho dầu VN có từ bỏ tuyên bố năm 1977 về ZEE cho các đảo, cũng không thể ngăn cản được TQ. Đòi hỏi này không hề vi phạm Luật quốc tế về Biển 1982.

3-   Mong muốn của VN hiện nay là giữ nguyên trạng. Để đạt được điều này VN nhượng bộ cho TQ quyền lợi chiến lược ở các lãnh vực kinh tế, văn hóa, quân sự v.v… với hy vọng TQ sẽ ký kết hiệp ước “COC” với ASEAN. Nhưng việc nhượng bộ chiến lược, thể hiện qua một loạt hiệp ước vừa ký kết, sẽ đẩy VN đi nhanh vào vòng lệ thuộc TQ. Chưa nói đến các hiệp ước vừa ký kết phải được xếp vào loại “bất bình đẳng”. Bất kỳ kiệp ước nào ký kết giữa hai quốc gia cũng đều ảnh hưởng đến sự độc lập (la souveraineté) của quốc gia. Các hiệp ước vừa ký, cho thấy VN không khác TQ trong thời kỳ bị liệt cường phân xé, hậu bán thế kỷ 19, phải ký các hiệp ước nhượng bộ cho nước ngoài những điều khoản không chấp nhận được.

4-    Vấn đề “hòa giải dân tộc” để kế thừa danh nghĩa VNCH tại HS và TS cho thấy sẽ không có có hội thực hiện. Các vụ bắt bớ sinh viên Phương Uyên, Nguyên Kha vì tội “rải truyền đơn cờ vàng ba sọc âm mưu chống chế độ…” cho thấy nhà nước CSVN vẫn bất dung mọi dấu hiệu thuộc về chế độ VNCH. Hiện nay, VN cố thực hiện nghị quyết 36, “hồi chánh” các viên chức VNCH cũ, cho vào dự hội thảo, cho lên truyền hình… để tuyên truyền chủ trương của nhà nước CSVN. Lãnh đạo CSVN muốn dùng các “học giả” VN hốt những thang thuốc có hiệu quả ru ngủ, đánh lạc hướng mọi sự thật cần phải biết về HS và TS.

Sắp tới, xương máu người dân VN có thể sẽ phải đổ xuống để bảo vệ chủ quyền của VN tại biển Đông. Nguyên nhân là do lãnh đạo CSVN không giữ lời hứa của họ với TQ. Dĩ nhiên có những giải pháp hòa bình khác, thay vì chiến tranh, 1954-1975, cuộc chiến biên giới 1979, cuộc chiến Kampuchia… Lãnh đạo CSVN luôn lựa chọn các giải pháp tồi tệ nhất. Lãnh đạo CSVN sẽ tiếp tục đưa nhân dân VN “lên giàn lửa thiêu”, kích động tinh thần dân tộc trong tầng lớp dân chúng, đẩy mũi dùi chống đối về phía một địch thủ khác, để bảo vệ chế độ.

Từ xưa đến nay sĩ phu VN luôn phò chính thống. Vì lẽ sống của họ phụ thuộc vào quyền lực của người lãnh đạo. Điều này có thể thông cảm, do trường hợp giảm khinh. Nhưng sĩ phu VN hải ngoại không thể vì chút quyền lợi nhỏ nhoi mà bán rẻ lương tâm của mình. Không bảo toàn được lãnh thổ, máu xương người dân đổ xuống, trách nhiệm là do người lãnh đạo. Nhưng phần trách nhiệm về lịch sử, về đạo đức và lương tri, là do sĩ phu nhận lãnh, mà nhóm người hải ngoại lãnh phần nhiều.

5-   Việc đưa vấn đề tranh chấp ra một trọng tài quốc tế phân giải sẽ không có hy vọng xảy ra, khi mà CSVN còn nắm quyền lãnh đạo. VN hiện nay còn không dám lên tiếng công khai ủng hộ Phi trong vụ kiện TQ, huống chi lên tiếng thách thức TQ giải quyết tranh chấp bằng các phương tiện của công lý quốc tế. Trong khi sĩ phu vẫn còn đang dắt díu, người sau nắm chéo áo người trước, lầm lũi đi theo “tấm chỉ đường của trí tuệ”, mà không biết sẽ đưa về đâu ?.

VN có nhiều hy vọng thắng kiện, nếu và chỉ nếu, chính quyền VN (hiện tại hay trong tương lai) kế thừa danh nghĩa của VNCH. Mà việc kế thừa chỉ có thể thực hiện bằng phương pháp “hòa giải quốc gia”.

Việc “hòa giải quốc gia”, trên bình diện chính trị, chỉ có thể thực hiện nếu tương quan lực lượng hai bên “ngang cơ” với nhau. Nhưng khi việc “hòa giải quốc gia” là một phạm trù thuộc đạo đức, tương quan lực lượng là tương quan giữa “cái đúng, cái sai”, giữa “đạo lý và phi đạo lý”… Như vậy, lực lượng vô minh vẫn áp đảo trong xã hội.

Những tuyên bố về HS và TS, như Luật biển 2012 của VN, tuyên bố của Nguyễn Tấn Dũng… đều không có giá trị pháp lý trên phương diện quốc tế công pháp. Việc không dùng tiếng “ngụy” chỉ người VNCH cũ, như có học giả vừa nói, không hề là dấu hiệu của việc “hòa giải”, hay thể hiện hành vi kế thừa VNCH.

6-   Việc nhóm Quĩ Nghiên cứu Biển Đông cố gắng chứng minh VNCH và VNDCCH là hai quốc gia đem lại hệ quả khẳng định tính chính đáng cho các ý kiến  “tái lập lại” hay “phục hồi” nước VNCH đã hiện hữu trước đây. Đây cũng là một “giải pháp” trong nhiều giải pháp để lấy lại danh nghĩa chủ quyền ở HS và TS. Có điều giả phải trả quá đắt: đất nước phải phân chia lần nữa.





[i] Ngoài TS Nguyễn Hồng Thao và hầu hết cảc nhà nghiên cứu trong nước, còn có các ông Thái Văn Cầu, Tạ Văn Tài cùng một số nhân vật khác ở nước ngoài.
[ii] Monique Chemillier-Gendreau – La Souveraineté sur les Archipels Paracels et Spratleys – NXB Harmattan 1996, page 123.
[iii] Nguyễn Hồng Thao, bài đã dẫn link.
[iv] Monique Chemillier-Gendreau, sdd, tr 123.
[v] Nguyen Quoc Dinh, Patrick Daillier, Mathias Forteau, Alain Pellet - Doit International Public, L.G.D.J, 8e Edition, đoạn 242, tr 405
[vi] Doit International Public , sdd, đoạn 242, tr 405.
[vii] Doit International Public , sdd, đoạn 237, tr 396.
[viii] Doit International Public , sdd, đoạn 237, tr 396-397.
[ix] Jean Barale, L’ acquiescement dans la jurisprudence internationale, In: Annuaire français de droit international, volume 11, 1965. pp. 389-427. http://www.persee.fr/web/revues/home/prescript/article/afdi_0066-3085_1965_num_11_1_1827
[x] Texte adopté par la Commission du droit international à sa cinquante-huitième session, en 2006, et soumis à l’Assemblée générale dans le cadre de son rapport sur les travaux de ladite session (A/61/10). Le rapport, qui contient également des commentaires sur le projet d’articles, sera reproduit dans l’Annuaire de la Commission du droit international, 2006, vol. II(2).
[xi] Texte adopté par la Commission du droit international… tài liệu đã dẫn.
[xii] Essais nucléaires (Australie c. France; Nouvelle-Zélande c. France), C.I.J. Recueil 1974, p. 267, par. 43, p. 269, par. 51 et p. 472, par. 46, p. 474, par. 53
[xiii] Souveraineté sur Pedra Branca/Pulau Batu Puteh, Middle Rocks et South Ledge (Malaisie/Singapour), arrêt, C.I.J. Recueil 2008, p. 12. ISSN 0074-4441 ; ISBN 978-92-1-071046-6
[xiv] Doit International Public , sdd, ghi chú 5. Đoạn 239, tr 400.
[xv] Gilbert Caty, Les Statut Juridique des Etats Divisés,  Ed. A. Pedone 1969.
[xvi] Quốc gia theo định nghĩa của Quốc tế Công pháp : Doit International Public , sdd, tr 449-469.
[xvii] Gilbert Caty, sdd, tr.15.
[xviii] Việc gia nhập LHQ chưa chắc là một yếu tố để chứng minh lãnh thổ đó là một quốc gia nếu ta xét trường hợp của Ukraine và Bielorussis. Thật vậy, hai xứ này, trong thời kỳ thuộc Liên bang Xô viết, đã gia nhập LHQ (từ khi LHQ mới thành lập). Hai « quốc gia » này thực ra chỉ là một phần « lãnh thổ » của URSS mà thôi.
[xix] Đây là lập trường của nhiều học giả trên thế giới. Một số thí dụ : Gilbert Caty, in Les Statut Juridique des Etats Divisés ; James Crawford, in The Creation the States in International Law, tr 472-477. Conrad G. Buhler, in State Succession and Membership in International Organisations – Legal Theories versus Political Pragmatism,  tr94-103…
[xx] Conrad G. Buhler, sdd, tr 77.
[xxi] State Department, 4-3-1966, « The legality of US participation in the Defense of Vietnam” dẫn từ Gilbert Caty, Les Statut Juridique des Etats Divisés, sdd, tr 12.
[xxii] Conrad G. Buhler, State Succession and Membership in International Organisations – Legal Theories versus Political Pragmatism , tr 68-113.
[xxiii] Nguyen Duy Tan Joële. La représentation du Viet-Nam dans les institutions spécialisées. In: Annuaire français de droit international, volume 22, 1976. pp. 405-419. doi : 10.3406/afdi.1976.1996 http://www.persee.fr/web/revues/home/prescript/article/afdi_0066-3085_1976_num_22_1_1996
[xxiv] Tuyên bố CHXHCNVN gởi chính phủ Thụy Sỹ, dẫn từ Conrad G. Buhler, sdd, tr 104 : The S.R.V will continue the participation of the DRV and the RSV in the four “Geneva convention of 1949” concerning the protection of war civil victims with the same observations as those set forth by the DRV and the SRV. Ta thấy VN đã sử dụng chữ “tiếp tục” thay vì “kế thừa” VNDCCH.
[xxv] Conrad G. Buhler, State Succession and Membership in International Organisations – Legal Theories versus Political Pragmatism, tr 107.
[xxvi] Conrad G. Buhler, sdd, tr. 87.
[xxvii] Conrad G. Buhler, sdd, tr 107.
[xxviii] Đương nhiên, các « qui tắc » về chiến tranh này đều do họ đặt ra, dự tính có khi từ 30-40 năm trước, nếu chúng ta tin theo tài liệu của Cf. Major J. B. Kelly, « Legal Aspects of Military Operations in Counterinsurgency », Military Law Review, juillet 1963
[xxix] Isoart Paul. Les conflits du Viêtnam. Positions juridiques des États-Unis. In: Annuaire français de droit international, volume 12, 1966. pp. 50-88. http://www.persee.fr/web/revues/home/prescript/article/afdi_0066-3085_1966_num_12_1_1870
[xxx] Isoart Paul, như trên.
[xxxi] Doit International Public , sdd, đoạn 239, tr 402. 

vendredi 6 septembre 2013

Đôi điều với Tiến Sĩ Trần Công Trục về vấn đề biên giới.

Hai bài phỏng vấn TS Trần Công Trục ở đây và ở đây, nội dung ngoài việc đề cập đến một số dữ kiện biên giới, còn có quan điểm riêng của TS Trục về các lãnh vực khác, liên quan đến lãnh thổ và hải phận của VN với các nước láng giềng. Theo ý kiến cá nhân của tôi, với tư cách một người thường xuyên quan tâm đến tình hình của đất nước, có tham khảo khá tường tận các hồ sơ phân định biên giới giữa hai bên Pháp-Thanh trong thời kỳ 1885-1897, hồ sơ phân định biên giới Pháp-Thái 1904 và hồ sơ biên giới nội địa Đông Dương (các hồ sơ gốc) tại Trung tâm Văn khố Hải ngoại (CAOM - Centre des archives d’outre-mer) tại Aix-en-Provence, Pháp quốc, tôi cho rằng những ý kiến của Trực có cái đúng, có cái sai, có cái nửa sai nửa đúng. Các ý kiến khác của ông, có điểm tôi chia sẻ nhưng một số điểm khác tôi không chia sẻ. Bài viết này nhằm trình bày những ý kiến của tôi về các cái (mà tôi thấy) đúng, sai, vừa đúng vừa sai, hay các ý kiến mà tôi chia sẻ cũng như không chia sẻ.

1/ Theo tôi, TS Trục đã không sai khi phê bình về lãnh đạo CSVN đã sử dụng chiêu bài « biên giới, lãnh thổ » để « chơi nhau », hạ bệ lẫn nhau tranh giành quyền lực. TS Trục cho rằng :

« có những cá nhân vì tranh giành lợi ích này lợi ích khác, để hại nhau thì cái nguy hiểm nhất và dễ “hạ” nhau nhất là sử dụng vấn đề biên giới lãnh thổ, tung tin ông này ông kia nhân nhượng vô nguyên tắc với TQ, “cắt đất”, “bán đất” cho TQ nhằm tư lợi cho mình ».

Điều này khẳng định giả thuyết đưa ra từ một bài viết của Nguyễn Chí Trung (thư ký Lê Khả Phiêu) từ đầu thập niên 2000, cho biết quí ông Đổ Mười, Lê Đức Anh và Võ Văn Kiệt đã sử dụng vấn đề biên giới, lãnh thổ như là vũ khí để hạ bệ ông Phiêu. Tài liệu viết như sau :

Ngày 3-1 đến 11-1-2001 Đại Hội đảng toàn quân, cố vấn tấn công đợt 2.
Trong đại hội này LĐ Anh đột ngột buộc LK Phiêu 10 tội:
1.- Bán đất, bán biển cho Trung Quốc.
2.- Lộ bí mật ý đồ chiến lược với Giang Trạch Dân.
...
LĐ Anh nêu vụ Phiêu đi thăm TQ đối thoại với Giang Trạch Dân là phạm tội bán đất , bán biển, là lộ bí mật chiến lược của đảng, là độc đoán. Đi về không báo cáo với Bộ chính trị, không cho Nguyễn Mạnh Cầm cùng dự họp là biểu hiện sự thậm thụt sao đó... 

Ông Lê Khả Phiêu bị hạ bệ oan ức. Trong khi những người « bán nước » thực sự là những kẻ đi Thành Đô « chầu » lãnh đạo TQ đầu thập niên 90, trong đó có cả ông Phạm Văn Đồng. Chi tiết mật ước ký ở Thành Đô, trao đổi giữa VN và TQ để TQ ưng thuận việc « bình thường hóa ngoại giao » chưa được công bố, nhưng có nhiều tiếng đồn cho thấy VN nhượng bộ TQ về vấn đề Biển Đông. Ông Trục thấy vụ này thế nào ? Người ta đồn vậy là đúng hay sai ? 

Mà lãnh đạo CSVN không chỉ dùng lãnh thổ để « hạ » lẫn nhau nhằm tranh giành quyền lực như ông Trục đã nói.

Trong quá khứ, nhiều lần họ đã sử dụng lãnh thổ như là một phương tiện để phục vụ cho mục tiêu bá quyền của nước lớn, cho cá nhân hoặc cho bè phái ý thức hệ… gây ra ba cuộc chiến tranh vô ích, làm tổn hại đến quyền lợi của đất nước và dân tộc Việt Nam.
Công hàm 1958 của ông Phạm Văn Đồng. Vì nhu cầu cấp bách cần sự trợ giúp vũ khí, đạn dược của Trung quốc để đánh miền Nam, ông Hồ Chí Minh đã nhìn nhận chủ quyền của TQ tại HS và TS qua công hàm 1958 do ông Phạm Văn Đồng ký. Hệ quả của nó, hôm nay VN có thể mất, không chỉ chủ quyền hai quần đảo HS và TS, mà còn phần lớn khu vực biển thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền của VN.

Về cuộc chiến biên giới Việt-Trung đầu năm 1979. Theo tài liệu của CIA về vấn đề tranh chấp biên giới do Vũ Quí Hạo Nhiên tóm lược, ta thấy thực ra phía VN đã « thay đổi nguyên trạng đường biên giới », lấn 60km² về phía TQ đồng thời làm công sự phòng thủ, khiến TQ có cớ gây trận chiến biên giới 1979. Tài liệu viết :

Phía Trung Quốc giận dữ vì Hà Nội đã cả gan thay đổi status quo tại biên giới, và cho rằng nếu im lặng chấp nhận những thay đổi này thì sẽ trở thành tưởng thưởng cho Hà Nội và sẽ dẫn đến nhiều vi phạm khác tại biên giới…
Cụ thể, hành động của Hà Nội xây dựng tuyến phòng thủ (phía Hà Nội tuyên bố là để bảo vệ chống sự xâm nhập của biên phòng và gián điệp Trung Quốc) làm thay đổi luật chơi của cuộc tranh chấp chính trị…
Tổng cộng vùng đất Việt Nam “chiếm đóng” không phải là lớn – khoảng 60 km vuông. Nhưng việc Việt Nam tự cho là có thể tùy tiện tự nhận bất kỳ một chút đất nào của Trung Quốc là điều phía Trung Quốc không chấp nhận được. Và, mặc dù chỉ có khoảng 300 người Trung Quốc bị chết và bị thương, chính sự thách thức công khai của phía Việt Nam đã khiến bất kỳ một chút tổn thất nào cũng không chấp nhận được [đối với Trung Quốc]…

Nếu tài liệu này nói đúng, ta có thể kết luận rằng cuộc chiến biên giới 1979 phía VN có chuẩn bị trước, nếu không nói VN đã chuẩn bị một « kịch bản » để dụ cho TQ vào tròng. Ta cũng không quên cùng thời điểm, VN mở đầu cuộc « khủng bố » người Việt gốc Hoa, ra chính sách tập trung những người này, từ nam ra bắc, tịch thu toàn bộ gia sản của họ, bắt họ « hồi tịch » (trong đó nhiều người sinh ra và lớn lên ở VN từ nhiều đời, không biết nói tiếng Hoa), sau đó buộc họ rời khỏi VN với hai bàn tay trắng. Việc làm này lãnh đạo VN đã phạm tội ác chống nhân loại, trái với mọi nguyên tắc về các quyền được sống của con người theo qui định của Hiến chương LHQ.

TQ có đủ lý do chính đáng để can thiệp : « bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ » và « bảo vệ sinh mạng và quyền lợi của kiều dân bị đe dọa ». TQ « cho VN một bài học ».

Câu hỏi đặt ra : Ai chủ trương các việc đó để TQ có cớ đánh VN ? VN được gì và lãnh đạo VN được gì ?

Qua cuộc chiến, các tỉnh biên giới miền bắc tan hoang. Phía VN hy sinh có đến 30.000 người. Cộng với cuộc chiến Campuchia phía nam, VN bị thế giới lên án và cô lập. VN « chảy máu » xém chết, kinh tế kiệt quệ, gần trở về thời đồ đá cuối thập niên 80. VN lọt hẵn vào vòng ảnh hưởng của Liên Xô trong lúc nhóm Lê Duẩn nắm hết quyền lãnh đạo.
Cái VN « được » là « thanh lọc » được các thành phần « chống đối », còn gọi là « đạo quân thứ 5 ». Nhưng xét lại, thì thấy vơ đũa cả nắm. Hầu hết thành phần người Hoa ở VN có nguồn gốc ở Quảng Đông, Phúc Kiến, Đài Loan… là thành phần chống cộng, bỏ xứ từ lâu, thân Quốc Dân đảng. Thành phần này không thể là « đạo quân thứ 5 » của Bắc Kinh, mà họ là thành tố năng động của không chỉ kinh tế miền nam, mà còn của cả khu vực, (dĩ nhiên ngoại trừ một thiểu số nhỏ « Trung Cộng » kiểm soát được). Trục xuất nhóm người này VN vẫy tay « adieu » với nền kinh tế phồn thịnh. Điều trớ trêu, hiện nay, ông Trương Tấn Sang vừa ký kết với lãnh đạo Bắc Kinh một loạt hiệp ước mà tôi gọi là bất bình đẳng, mở cửa biên giới các tỉnh miền bắc, cho phép người Hoa vào các tỉnh biên giới hợp tác đầu tư. Bất bình đẳng vì việc này chỉ xảy ra một chiều, chỉ có người hoa vô VN kiểm soát và khuynh đảo kinh tế của VN chứ người VN không thể vào lục địa để làm các việc tương tự. Ngoài ra còn mở cửa rộng cho hàng chục « đạo quân thứ 5 », chính thức đến từ Hoa lục, nằm phục ở VN chờ ngày hữu dụng. Tức là các chính sách về người Hoa mà ông Diệm làm từ trước (bắt nhập tịch VN, hạn chế các nghề nghiệp…), hay cái « được » của cuộc chiến 1979, bỗng chốc trở thành zéro.

Về cuộc chiến với nước láng giềng Campuchia. Đáng lẽ cuộc chiến này cũng không xảy ra nếu lãnh đạo VN không hứa hẹn về lãnh thổ với Sihanouk cũng như với các lãnh đạo của Khmer đỏ.

Năm 1954 (sau đó nhắc lại ngày 8-6-1967), lãnh đạo CSVN đã tuyên bố « tôn trọng đường biên giới hiện trạng của Campuchia » với Sihanouk. « Đường biên giới hiện trạng » này là bộ bản đồ Indochine 1/100.000 trước năm 1958. Đồng thời, theo một nguồn tin khác, lãnh đạo MTGPMN cũng hứa hẹn trả lại đảo Phú Quốc và Thổ Chu cho Campuchia để Sihanouk cho phép đặt bản doanh trên đất Miên.

Vấn đề tranh chấp biên giới Việt Nam – Campuchia là một vấn đề thuộc về lịch sử, bắt đầu từ năm 1949, sau khi quốc hội Pháp quyết định trả lại Nam kỳ cho VN thay vì cho Cam Bốt, mặc dầu những vận động hành lang (suýt thành công) của Sihanouk. Việc này khiến Sihanouk hận người Pháp suốt đời !

Điều nên biết, đường biên giới Việt-Trung (theo công ước Pháp-Thanh 1887) hay đường biên giới Thái-Miên (1904) là các đường biên giới « quốc tế », được phân định theo các qui tắc của công pháp quốc tế, được quốc tế nhìn nhận, trong khi đường biên giới Việt-Miên không phải là đường biên giới « quốc tế ». Đường biên giới này chỉ là đường biên giới « nội địa », có giá trị hành chánh do thực dân Pháp tự động phân định. Trước 1975, VNCH kế thừa lãnh thổ của thực dân Pháp để lại, áp dụng thực tiễn và tập quán quốc tế, theo nguyên tắc « uti possidetis » mà quốc tế thừa nhận, khẳng định chủ quyền lãnh thổ của VN và không nhìn nhận đường biên giới « hiện trạng » của Sihanouk đòi hỏi. Ý nghĩa nguyên tắc « uti possidetis » là « trước (khi độc lập) anh làm chủ nó thì bây giờ anh tiếp tục làm chủ nó ». Tức là, sau khi được trả độc lập, đất nơi nào do VN quản lý thì VN sẽ tiếp tục quản lý (như các đảo Phú Quốc, Thổ Chu…) cũng như các vùng đất tranh chấp dọc đường biên giới (mà hiện nay có thể đã trả lại cho Campuchia vì phải tôn trọng « đường biên giới hiện trạng » mà Sihanouk đòi hỏi).

Vấn đề lãnh thổ, biên giới VN – Campuchia phức tạp, phải viết thành sách mới đầy đủ. Đại khái, lập trường của VNCH về lãnh thổ và hải phận đối với các nước láng giềng xem ra « mạnh » hơn lập trường của VN hiện nay. Không phải « mạnh » về sức vóc mà mạnh về tư thế pháp lý. VNCH không bị ràng buộc ở bất kỳ điều gì. Trong khi VN hiện nay phải tôn trọng những gì mình đã tuyên bố. Cam kết 1954 (hiệp định Genève), sau đó khẳng định lại năm 1967, là những tuyên bố công khai, (tương tự công hàm 1958 của Phạm Văn Đồng), nhìn nhận đường biên giới hiện trạng của Campuchia, có hiệu lực rằng buộc pháp lý.
VN không thủ tín, chiến tranh vì vậy xảy ra.

Cuộc chiến này, cùng với cuộc chiến biên giới phía bắc, không biết bao nhiêu xương máu thanh niên Việt Nam đã đổ xuống. Đất nước VN kiệt quệ, đến 3 thập niên sau chưa gượng lại được. Các cuộc chiến này đáng lẽ đã không xảy ra.

Lãnh đạo VN đã hứa hẹn những điều không thể thực hiện được. Mà cuộc chiến 1978 với Campuchia vẫn chưa giải quyết được tất cả các vấn đề. Hiện nay lãnh tụ đảng phái chính trị Campuchia, được TQ ủng hộ, lên tiếng đòi lại đất đai, hô hào dân chúng bài Việt, đòi đuổi những người Việt đang sinh sống bên Miên về nước. Các việc đe dọa sự yên ổn của các kiều dân Việt sống hợp pháp ở Campuchia là hành động kỳ thị chủng tộc, có khuynh hướng dân tộc chủ nghĩa, vi phạm các tiêu chuẩn quốc tế. Hiện nay VN vẫn chưa gởi công hàm phản đối.

Về vấn đề biên giới, nếu các lãnh đạo chính trị Campuchia dựa lên các lời hứa của lãnh đạo VN hay các tuyên bố chính thức của VN để đòi lại lãnh thổ đất đai, đòi hỏi này sẽ là chính đáng, nếu một đường biên giới được quốc tế nhìn nhận giữa hai bên vẫn chưa được thực hiện.

Như thế, ngoài việc sử dụng lãnh thổ, đất đai để hạ bệ nhau, tranh giành quyền lực, thì việc lãnh đạo VN hứa hẹn lãnh thổ cho TQ (tại HS và TS) hay với Campuchia, cho thấy sẽ còn đem lại cho VN trong tương lai nhiều phiền phức. Chiến tranh có thể xảy ra nếu VN không giữ lời hứa. Mà nếu giữ lời hứa thì thiệt hại cho đất nước không biết bao nhiêu mà kể.

Nhân dịp TS Trục nói ra, tôi đề cập lại các vấn đề này để mọi người cùng suy gẫm : Làm thế nào để hóa giải các hứa hẹn, các tuyên bố có giá trị ràng buộc của lãnh đạo VN trước quốc tế ? Khi mà các hứa hẹn, các tuyên bố này chưa hóa giải hiệu lực, VN không nhiều hy vọng giữ được toàn vẹn lãnh thổ (kể cả khi phải nhờ đến chiến tranh).

2/ Về ý kiến sử dụng các tài liệu lịch sử như là một bằng chứng có giá trị pháp lý, tôi hoàn toàn chia sẻ với TS Trục.

Nhắc lại để nhớ, khoảng năm 2001 thì phải, tin tức trong nước dồn dập tung ra nào là VN mất ải Nam quan, mất thác Bản Giốc... làm báo chí xôn xao. Học giả các nơi lục sử liệu viết bài biên khảo về Ải Nam Quan, về thác Bản Giốc... Cá nhân tôi cũng bị cuốn vào cơn lũ thông tin này. Dĩ nhiên, cũng như bao người VN khác, vấn đề đất đai lãnh thổ là điều thiêng liêng, không ai có thể tự tiện cắt nhượng cho ngoại bang. Để đi tìm sự thật, có lẽ tôi là người đầu tiên đã vào văn khố Pháp lục lọi hồ sơ cũ, tìm hồ sơ phân định biên giới 1885-1897 giữa Pháp và nhà Thanh, sau đó công bố những tài liệu liên quan đến các vùng đất tranh chấp. Tuy nhiên, đôi khi sự thật pháp lý cũng phải nhường chỗ cho tình cảm yêu nước dạt dào. Tôi có bằng chứng chỉ ra rằng ải Nam Quan thuộc về đất Tàu, đường biên giới cách đó 100m, nhưng điều này ít ai tin. Đến nay nhiều người vẫn tưởng rằng Nam Quan thuộc VN, vì sách vở lịch sử VN viết như thế. Có thể sau này mọi việc sẽ đâu vào đấy, tình cảm mà, không thể trách cứ ai được.

Những năm tháng gần đây, lại dấy lên phong trào truy tầm bản đồ cổ và thư tịch cổ, chứng minh rằng HS và TS không thuộc TQ. Nhưng các việc đó sẽ không nói lên được điều gì, nếu ta chịu khó đọc các tài liệu pháp lý, các bản án mẫu của Tòa quốc tế phân xử các tranh chấp về biên giới giữa các nước. Thực ra, bản bồ tự nó không hề có giá trị như một « bằng chứng ». Nhiều lần tôi đã cảnh báo việc này (ở đây và ở đây).

Tuy nhiên, trong bài phỏng vấn TS Trục nói :

Tôi đã đọc kỹ bài viết này của ông Mai Thái Lĩnh. Đây là một trường hợp điển hình về việc nhầm lẫn giữa chủ quyền lịch sử, bằng chứng lịch sử, quan điểm lịch sử với các chứng lý lịch sử có giá trị pháp lý trong việc giải quyết các vấn đề tranh chấp lãnh thổ theo luật pháp quốc tế.

Gần đây những vấn đề về quan điểm về chủ quyền lịch sử, bằng chứng lịch sử đã trở thành vấn đề nếu như chúng ta không nhìn nhận một cách khách quan, thực tế, cầu thị, có căn cứ sẽ dẫn đến tình trạng hết sức phức tạp, không chỉ những vấn đề tranh chấp lãnh thổ trên đất liền mà cả đối với các hải đảo và các vùng biển. 

Tôi cho rằng TS Trục chỉ muốn mượn bài viết của tác giả Mai Thái Lĩnh nhằm gởi gấm đến một số « học giả » trong nước, đến những tờ báo trong và ngoài nước đã đăng những bài viết sử dụng những tài liệu lịch sử để khẳng định chủ quyền của VN tại HS và TS hay tại biên giới Việt-Miên.

Ý kiến của TS Trục chung quanh vấn đề « chủ quyền lịch sử », qua tấm bản đồ chữ U của TQ, hay việc các nhà chính trị Campuchia sử dụng lá bài biên giới lãnh thổ, khơi động tinh thần kỳ thị chủng tộc với Việt Nam để kiếm phiếu. Điều tiếc là không thấy TS Trục phản biện « quyền lịch sử » của TQ như thế nào ? Cũng không thấy phản biện lại các lý lẽ của Sam Rainsy ra sao ? Tôi cho rằng sẽ hết sức gượng ép khi so sánh ý nghĩa « chủ quyền lịch sử » và giá trị của các dữ kiện lịch sử với nội dung bài viết của tác giả Mai Thái Lĩnh. Theo tôi, không có điểm nào trong bài viết của MTL mà TS Trục có thể dựa vào đó để dàn trải ý kiến của mình. Tôi thì có bài viết ngắn ở đây về « chủ quyền lịch sử của TQ ở biển Đông ».

Nhận định của TS Trục về bài viết của MTL :

Trong tài liệu này, ông Mai Thái Lĩnh căn cứ vào sách giáo khoa, vào lịch sử, văn chương, bưu ảnh, bản đồ cho đến cả ghi chép cá nhân của một người trong đoàn đàm phán Pháp - Thanh. Tất cả các tài liệu này, như đã phân tích ở trên rõ ràng nó nằm ngoài phạm vi nguyên tắc pháp lý mà 2 bên Việt Nam và TQ có thể thống nhất và đã thống nhất với nhau làCông ước Pháp - Thanh 1887, 1895 và các văn kiện bản đồ phân giới cắm mốc đi kèm, do đó những tài liệu ông Lĩnh đưa ra chỉ có tính chất tham khảo và không thể dùng làm chứng cứ để khẳng định chủ quyền của anh hay của tôi. Phía TQ cũng có các tài liệu tương tự như vậy, và ta không chấp nhận.

Có thể TS Trục đọc không kỹ bài của ông MTL. Bài viết này có lấy một số tài liệu của tôi (có cái thì dẫn nguồn, có cái thì không), cũng như một số tài liệu lịch sử trong nước, đồng thời dựa lên một tấm bản đồ (do Hoa Kỳ sản xuất). Dĩ nhiên tấm bản đồ này cũng như các tài liệu lịch sử khác có một giá trị nhứt định về « thông tin », hữu ích cho việc soi sáng một vấn đề từ nhiều phía. Còn các tài liệu trích dẫn của tôi là các tài liệu phân định biên giới (chụp hình từ tài liệu gốc). Đó là hình chụp biên bản phân giới, hai bản chữ Phápchữ Hán, mô tả vị trí mốc 53, cùng đính kèm bản đồ của Sở địa dư Đông dương ấn hành. Các tài liệu này thuộc bộ phận của công ước Pháp-Thanh 1887 mà TS Trục đã nhắc nó như là mẫu mực để phân định lại biên giới.

TS Trục không thể phủ nhận các tài liệu này khi chưa đưa ra được các tài liệu « có giá trị pháp lý » cao hơn để phản biện. (Sẽ nói cụ thể hơn các chi tiết liên quan đến thác Bản Giốc ở phần dưới.)

Hay là TS Trục muốn qua bài viết của ông MT Lĩnh để đáp trả bài trả lời phỏng vấn trên BBC vừa qua của một học giả VN ? Nếu vậy thì tôi hoàn toàn chia sẻ, nếu nói thẳng như Tây « con chó là con chó, con mèo là con mèo ». Thật vậy, ta không thể tranh biện về chủ quyền, lãnh thổ với nước ngoài mà chỉ đưa ra các « bản đồ », các « bằng chứng » lịch sử hết sức chung chung như vậy. Vấn đề tranh chấp giữa VN và TQ, hay Việt-Miên, không chỉ liên quan lãnh vực lịch sử, mà còn liên quan đến các lãnh vực pháp lý, về địa lý – kinh tế - chính trị - chiến lược. Các học giả VN hình như chỉ muốn dùng lịch sử để giải quyết cho tất cả.

TS Trục đặt vấn đề hôm nay là kịp lúc, nhưng nội dung trình bày qua hai bài phỏng vấn, có lẽ không mấy ai nắm được điều muốn gởi gấm.  

Tôi cũng nghĩ TS Trục muốn dựa vào bài viết của MTL để « tính toán sổ sách » với những người đã từng « chửi ông đã bán đất cha ông cho Trung Quốc ».

Theo tôi, TS Trần Công Trục, cũng như TS Nguyễn Hồng Thao, những người từng lãnh trách nhiệm « trưởng ban biên giới », là những người đáng được mọi người trân trọng. Tranh luận là một chuyện, nhưng quan hệ giữa « con người », tôi nghĩ mọi người nên dành cho nhị vị này một cách đối xử xứng đáng. Quí vị này nhận lãnh một chức vụ cực kỳ khó khăn, đòi hỏi kiến thức cao về lịch sử và pháp lý, nhưng không được phần thưởng tương xứng. Đây là một phần vụ, có thể là duy nhất, người lãnh đạo có thể cấp bậc ngang hàng thứ trưởng, như trong thực tế không « chấm mút » được cái gì, trong khi những thẩm định sai lầm, nếu có, có thể bị tai tiếng, thậm chí bị trừng phạt nặng nề. Tôi cho rằng quí vị là những người có công với đất nước, qua các đóng góp trong công trình phân giới cắm mốc, cũng như những đóng góp quan trọng về văn hóa. Không ai có thẩm quyền phê phán quí vị « bán nước » cả. Thực ra, ở các địa điểm tranh chấp, các quyết định tối hậu đều do lãnh đạo cấp cao. Khu vực Bản giốc và bãi Tục Lãm, quí vị trình bày các chứng cớ lịch sử và pháp lý, còn quyết định là do TT Nguyễn Tấn Dũng.

3/ Vấn đề « lưỡi gỗ ».

TS Trục nói :

Nhóm thứ 2 thì chúng ta đều biết, có những đối tượng, thế lực muốn lật đổ, bôi nhọ chính thể này. Hiện nay ngoài những vấn đề về kinh tế, tôn giáo, xã hội thì câu chuyện về chủ quyền lãnh thổ chính là “mảnh đất màu mỡ” để các đối tượng này có thể lợi dụng.

Tôi hết sức thất vọng khi TS Trục sử dụng « lưỡi gỗ » để phê bình những người bất đồng chính kiến. TS Trục đã không đưa ra được bằng chứng nào cho thấy không bị mất đất, lại còn phê bình những người nói đến việc này là « bôi nhọ » VN. Nào thấy TS Trục đưa ra các bản đồ vùng Nam Quan, Bản Giốc, Tục Lãm của công ước Pháp Thanh 1887 để so sánh với bản đồ theo tinh thần hiệp ước vừa ký ?

Theo tôi, mọi mặt về kinh tế, tôn giáo, xã hội... bộ mặt VN đã đen tối đến mức có người muốn « bôi nhọ » thêm cũng không còn chỗ để bôi.

Xã hội VN là một xã hội theo khuôn khổ XHCN. Nhưng có còn cái gì là XHCN ? Nhà thương, trường học phải trả phí. An sinh xã hội là con số zéro. Trong khi xã hội VN lại mang những khuyết tật chỉ có ở các nước tư bản man rợ nhứt. Không cần báo chí nước ngoài, TS Trục hãy đọc các báo trong nước, của công an để biết về tình hình xã hội, hay các trang báo đặc biệt về kinh tế để biết tình trạng bi đát của VN hôm nay.

Về tôn giáo, chính những báo cáo của các tổ chức ONG (ở các vùng Tây bắc, Tây nguyên, đồng bằng sông Cửu Long...) cho thấy vấn đề tín ngưỡng ở VN bị đàn áp nặng nề. Các vấn đề khác về nhân quyền, báo cáo đã nhiều đến mức không còn nơi để chứa đựng.

TS Trục có lẽ phải biết, toàn vùng Tây bắc (nơi có huyện Mường Nhé, thuộc Phong Thổ...), toàn vùng hữu ngạn sông Hồng, đáng lẽ thuộc về TQ theo công ước 1887. Công ước 1895 kịp thời lấy lại các vùng đất này, do sự thần phục của các tù trưởng dân tộc ở đây với chính quyền Pháp. Lớp người dân tộc này bị đàn áp, bị bạc đãi, bị hất hủi bên lề xã hội VN. Đối với họ, tổ quốc Việt Nam sao tàn ác và xa lạ. Họ sẵn sàng từ bỏ tổ quốc này để nhận lấy một tổ quốc khác bao dung và ân cần với họ hơn.

TS Trục có lẽ cũng không quên rằng vùng cao nguyên Darlac chỉ mới sát nhập vào VN thôi, qua các quyết định của nhà cầm quyền Pháp (dưới danh nghĩa trao đổi vùng Trấn Ninh về Lào). Những người dân tộc ở đây cũng lần hồi trở thành người lạ, bị xua đuổi ngay trên chính mảnh đất của mình. Họ đứng bên lề mọi thành quả phát triển quốc gia, họ sống trên đất của tổ tiên họ mà như đang sống tầm gởi ở một chốn nào. Những người dân tộc này cũng không thể yêu mến tổ quốc VN, một tổ quốc đã cướp đi những gì quí báu nhứt của cuộc đời : đất đai. Họ không có gì quyến luyến với tổ quốc này và sẵn sàng chối bỏ nó.

TS Trục cũng không thể không biết Nam kỳ chỉ được quốc hội Pháp trả cho VN năm 1949, trong khi khuynh hướng trả cho Cam Bốt (do nhóm Gaston Defferre cầm đầu) cũng gây áp lực đáng kể. Còn vương quốc Chăm thì cũng mới bị diệt vài thế kỷ nay. Một điều cần nhớ rằng những người Miên người sinh sống ở miền Nam hay người Chàm ở miền Trung, họ không phải là dân « thiểu số » mà họ là dân « bản địa ». Họ có các quyền « lịch sử » của họ.

Nói như thế để biết cái « mong manh » của đất nước VN. Nó có thể tan vỡ bất cứ lúc nào.
Vấn đề biên giới lãnh thổ không phải là mảnh đất « màu mỡ » để bọn « phản động hải ngoại » sử dụng chống phá nhà nước như TS Trục nói đâu ! Người yêu nước nào lại không quan tâm đến vấn đề chủ quyền lãnh thổ ? Đâu phải chỉ có những người theo cộng sản mới là yêu nước ? Đâu phải người nào lên tiếng về lãnh thổ, chủ quyền biển đảo là chống nhà nước ? Chính thái độ vô trách nhiệm của lãnh đạo CSVN, hay những tuyên bố bừa bãi, lưỡi gỗ của các viên chức nhà nước (như thứ trưởng ngoại giao Nguyễn Thanh Sơn mới đây)... mới là nguy cơ tiềm ẩn làm cho chất keo đoàn kết tan rã.

Nhiều người tiên đoán rằng tương lai TQ sẽ tan vỡ ra thành nhiều mảnh, thành nhiều quốc gia độc lập khác nhau. Giả thuyết này có thể đúng, và nó cũng sẽ đúng hơn cho VN nếu chính sách hòa giải quốc gia vẫn chưa áp dụng để giải tỏa mọi mâu thuẫn về dân tộc, về tôn giáo, về hệ quả của các phong trào NVGP, XLCD, CCRD… trong quá khứ.

4/ Về các bãi bồi ở cửa sông Bắc Luân và đường biên giới ở Nam quan.

Tôi hoàn toàn đồng ý với TS Trục ở việc này :

Công ước Pháp - Thanh 1887, 1895 là cơ sở pháp lý rõ ràng nhất, hiện đại nhất từ trước đến nay, có thể dùng làm cơ sở để tiếp tục đàm phán, tiến tới hoạch định, đàm phán và xác lập đường biên giới chính thức, cụ thể, chính xác theo tiêu chuẩn quốc tế.

Các khu vực bãi bồi ở cửa sông Bắc Luân, khu vực Nam Quan, Thác Bản Giốc, TS Trục cho rằng :

các khu vực được xếp loại C là những vùng tranh chấp pháp lý, về mặt thực tế quản lý có tất cả 164 khu vực loại C với tổng diện tích hơn 200 km vuông.

... các khu vực loại C thì là khu vực tranh chấp, quan điểm và cơ sở pháp lý khác nhau. 2 bên ngồi lại và đem tất cả tài liệu căn cứ pháp lý ra chứng minh, thu hẹp dần dần những vùng tranh chấp, còn lại những vùng mấu chốt nhất 2 bên không thuyết phục được nhau thì lúc bấy giờ phải tính đến những nguyên tắc để giải quyết tiếp. Điển hình của các khu vực C chính là Hữu Nghị Quan (tức Ải Nam Quan), Thác Bản Giốc và bãi Tục Lãm.

Tôi không cho rằng đường biên giới khu vực Nam Quan, thác Bản Giốc và các bãi bồi ở cửa sông Bắc Luân lại có những khác biệt quan điểm pháp lý giữa đôi bên.

Khu vực Nam quan, hồ sơ phân định biên giới 1887 đề cập tới lui nhiều lần.

Biên bản phân giới của Công ước Pháp-Thanh xác định đường biên giới khu vực Nam Quan bằng cột mốc số 18. Cột mốc này cách cổng Nam Quan 100m về phía nam.

Biên bản không thể viết cụ thể hơn.

Đường biên giới được nhà nước phân định lại không đi qua cột mốc 18 mà đi qua cột cây số zéro (của quốc lộ), mang số 1116. (« Bị vong lục » của VN viết rằng cột mốc 18 bị TQ ủi nát từ năm 1955). Trong khi cột mốc 19, theo công ước Pháp-Thanh, lẽ ra phải cắm trên đỉnh núi lại cắm dưới chân núi, mang số 1118.

Xem hình vị trí các mốc mới ở đây. Hình của báo chí trong nước.

Bản đồ khu vực Nam Quan do Sở Địa dư Đông dương in, ở đây. Bản đồ khu vực Nam Quan năm 1892 ở đây. Nguồn CAOM.

Tôi không ra thực địa, không biết cột km Zéro cách cổng Nam Quan là bao nhiêu mét ? Nhiều người đi tham khảo về nói rằng ít ra cổng Nam Quan cách cột cây số zéro ít ra là 300 mét. Nếu vậy thì VN bị thiệt 200m. Đó là chưa nói ở cột mốc 19 (cắm trên núi nay dời xuống cắm dưới chân núi, mà không biết núi này có phải là ngọn núi ngày xưa hay không ?).

Về các bãi bồi ở cửa sông Bắc Luân. Đây là các bãi mới bồi, thành hình sau khi công ước 1887 được ký kết. Liên quan đến việc phân chia các bãi bồi, chiếu theo các công ước Pháp Thanh 1887 và 1895, có hai phương cách để phân chia : bãi bồi trên sông hay bãi bồi trên biển (đảo, cù lao).

Nếu các bãi bồi thuộc sông, việc xác định chủ quyền các bãi bồi, lý ra chỉ cần xác định đường biên giới trên sông là đủ.

Theo tinh thần các công ước Pháp Thanh 1887, đường biên giới trong trường hợp này là dòng chảy chính, hay là dòng chảy sâu nhất. Cù lao ở gần bờ nào thì thuộc chủ quyền của nước đó.

Tôi không ra thực địa, nhưng nếu xem trên Google Earth thì thấy được dòng chảy chính, cũng là đường sâu nhứt (có màu xanh đậm hơn các nơi khác), tức là đường biên giới, đường này ở phía bắc các bãi mới bồi. Tức các bãi này phải thuộc VN mới đúng.

Giả sử rằng các bãi bồi này được tính theo cù lao trên biển, thì chúng cũng thuộc chủ quyền của VN. Công ước Pháp-Thanh 1887 qui định đường biên giới vùng này là đường kinh tuyến đi qua điểm cực đông của đảo Trà Cổ. Xem trên Google Earth thì rõ ràng các cù lao này ở về phía tây của đương kinh tuyến, tức chúng phải thuộc VN.

Xem thêm bài viết chi tiết ở đây. Như thế, cũng không có vấn đề về pháp lý ở khu vực này.
Vậy mà TS Trục nói :

Những người vẫn còn đang theo đuổi “chủ quyền lịch sử, quan điểm lịch sử và bằng chứng lịch sử” để chỉ trích Việt Nam bán đất cho TQ ở thác Bản Giốc, Hữu Nghị Quan hay sông Bắc Luân, thử hỏi họ có thể chấp nhận được quan điểm vô lý của một số người Campuchia như Sam Rainsy khi đòi “chủ quyền” đối với đảo Phú Quốc, đảo Thổ Chu, thậm chí là cả Nam Bộ của Việt Nam hay không? Tôi tin là hoàn toàn không.

TS Trục không đưa ra được bất kỳ bằng chứng nào để chứng minh rằng VN không bị thiệt hại ở các vùng Nam Quan hay bãi Tục Lãm (và thác Bản Giốc nói bên dưới). TS Trục đã sai ít nhất ở 3 điểm :

Một, TS Trục không thể so sánh biên giới Việt-Trung, một đường biên giới quốc tế (theo công ước 1887) với biên giới Việt-Miên, chỉ là đường biên giới nội địa Đông Dương, không có giá trị quốc tế.

Hai, việc đòi hỏi đất đai của Sam Rainsy sẽ không vô lý nếu nó đặt căn bản từ những tuyên bố của CSVN (1954 và 1967) và hứa hẹn của lãnh đạo CSVN.

Ba, việc phân định lại vùng cửa sông Bắc Luân, vùng Nam quan và thác Bản Giốc là không công bằng. Việc phân định này phía VN đều thiệt hại.

Có đến 164 địa điểm tranh chấp, TS Trục nói ra 3 điểm. Điều đáng buồn là cả ba điểm VN đều thiệt hai cả ba. Tôi nghĩ rằng, TS Trục thay vì dùng « lưỡi gỗ » chỉ trích bọn « phản động », bênh vực cái chế độ mà người dân đã chán ngán đến tận cổ, nên dành thời giờ của mình nghiên cứu làm thế nào hủy bỏ hiệu lực các tuyên bố, các hứa hẹn của các lãnh đạo VN trong quá khứ về vấn đề lãnh thổ với các nước láng giềng.

5/ Về thác Bản Giốc.

Sự thật cần được thiết lập lại ở thác Bản Giốc.

Theo tài liệu phân định biên giới, biên bản phân giới ký tại Long Châu ngày 19 tháng 6 năm 1894 giữa Ðại Tá Galliéni và Commandant Famin, đại diện chính phủ Pháp và ông Thái Hy Bân, Tri Phủ Long Châu, đại diện nhà Thanh, cột mốc 53, bản tiếng Pháp tên Pan-Ngo, cắm tại « bên lề một con đường  ở phía tây-tam và trên phần nối dài của một khu rừng nhỏ », « au bord du chemin et au SO et sur le prolongement d’un petit bois ». Bản tiếng Hoa ghi tên Bách Nga khẩu, mô tả cột mốc cắm dưới chân núi.

Ta thấy nội dung hai bản văn không « ăn khớp » với nhau.

Theo các tài liệu của Pháp Bulletin du service Géologique de l’Indochine, Volume XI, Fascicule I, Etudes Géologiques sur le Nord-Est Du Tonkin, (Feuilles de Bảo-Lạc, Cao-Bằng, Hà-Lang, Bắc-Kạn, Thất-Khê và Long-Châu), Réné Bourrret; Ha-Noi - Hải-Phòng Imprimerie d’Extrême d’Orient – 1922. (trang 32-33-34), thác Bản Giốc thuộc VN. Khuyến cáo của các nhân viên sở địa chất Đông dương là nên khai thác kinh tế ngọn thác này vì cái đẹp của cảnh trí thiên nhiên của khu vực.

Trong khi tài liệu của Cd Famin, cuốn Au Tonkin et sur la frontière du Kwang-si, thì có lúc ghi nhận thác Bản Giốc cách biên giới 2 km (trang 12), có lúc thì ghi thác Bản Giốc ở trên đường biên giới (trang 143).

Với những dữ liệu không rõ ràng và mâu thuẩn như vậy, thời gian tôi mất cho việc xác định vị trí và chủ quyền thác Bản Giốc mất gần một năm, đọc và tham khảo không biết bao nhiêu là tài liệu.

Lại còn nghe trả lời phỏng vấn của ông Lê Công Phụng, ông này lại cho rằng cột 53 được cắm trên một cái cồn nhỏ ở giữa suối.

Sau đó lại nhận được tài liệu « Tình hình Trung Quốc lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam từ năm 1954 đến nay. » của VN. Hầu như tất cả những người VN đều bị thuyết phục nội dung của « Bị vong lục », viết ra để tố cáo TQ lấn đất. Theo đó thác Bản Giốc thuộc về VN :

Tại khu vực cột mốc 53 (xã Ðàm Thủy, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng) trên sông Qui Thuận có thác Bản Giốc, từ lâu là của Việt Nam và chính quyền Bắc Kinh cũng đã công nhận sự thật đó. Ngày 29 tháng 2 năm 1976, phía Trung Quốc đã huy động trên 2.000 người kể cả lực lượng vũ trang lập thành hàng rào bố phòng dày dặc bao quanh toàn bộ khu vực thác Bản Giốc thuộc lãnh thổ Việt Nam, cho công nhân cấp tốc xây dựng một đập kiên cố bằng bê tông cốt sắt ngang qua nhánh sông biên giới, làm việc đã rồi, xâm phạm lãnh thổ Việt Nam trên cồn Pò-Thoong và ngang nhiên nhận cồn nầy là của Trung Quốc.

Trong khi từ đầu tôi đã tham khảo và chụp hình được bản đồ SGI vùng thác Bản Giốc, nhưng lại tưởng rằng cái chấm ghi « Ban Giot » trên bản đồ là thác Bản Giốc (và ở đây), trong khi đó là đồn Bản Giốc. Vì thế, những bài viết hay bài phỏng vấn, tôi tổng hợp tài liệu để cho rằng thác Bản Giốc cách biên giới 2km.

Sau này, khi xem xét lại các tài liệu, mới thấy rằng thác Bản Giốc nằm trên đường biên giới, đúng như vẽ trên các bản đồ hay bản Nhật ký của Trung Úy Détrie về đoạn biên giới từ Lũng Ban đến Ðèo Lương (28 tháng 6 năm 1894) : thác Bản Giốc ở hạ lưu cột mốc 53.

La frontière regagne ensuite le pied des rochers en face du village de Ban-Mong (54) longe le pied de ces rochers et au pied du blockhaus chinois de Pia-Mu, suit la lisière d’un petit bois et coupe le chemin de Hang-Dong-Quan (53) pour atteindre la rivière qu’elle suivra jusqu’à Ly-Ban. Le chemin qui de la borne 53 conduit à Dốc-Khánh (57) à travers de très belles rizières devra être l’objet d’une surveillance constante.
A partir de la belle cascade de 50m qui se trouve un peu en aval de la borne 53, le sông Qui-Xuân coule resserré entre des mamelons élevés ».

Sự thật về thác Bản Giốc là như vậy. Vấn đề là, chủ quyền cồn Pò Thoong thì thuộc nước nào ?

Xét tất cả các bản đồ SGI, ta thấy cồn Pò Thoong đã hiện hữu trước khi phân định biên giới. Theo qui tắc phân định biên giới, văn bản có giá trị cao hơn bản đồ. Nếu văn bản không mô tả cồn Pò Thoong thuộc nước nào, thì bản đồ phân định sẽ xác định chủ quyền. (Trường hợp nếu bản đồ không xác định, thì phải truy lục hồ sơ lúc bàn thảo).

Trong trường hợp này, văn bản có hiệu lực thứ tự 1, bản đồ hiệu lực 2, nhật ký của Trung Úy Détrie, là người cắm mốc trong khu vực, có giá trị thứ tự 3.

Ta thấy đường biên giới trên các bản đồ luôn đi về phía bắc cồn Pò Thoong, chứ không đi ngang qua cồn. Nhứt là bản đồ ở đây. Như vậy, theo tinh thần các bản đồ, cồn này thuộc chủ quyền của VN.

Tóm lại, về thác Bản Giốc, TS Trục nói có phần đúng, có phần sai. Theo tôi, việc phải phân chia cồn Pò Thoong cho TQ là điều không hợp lý.




lundi 2 septembre 2013

Ý nghĩa ngày 2-9-1945.

Ngày 2 tháng 9 năm 1945 được mọi người VN biết đến như là ngày ông Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập trước quảng trường Ba Đình, khai sinh nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Tuy nhiên thế giới biết đến ngày này là ngày quân đội Nhật ký văn kiện đầu hàng trên chiến hạm Missouri của Hoa Kỳ, chính thức chấm dứt Thế chiến II.

Ngày 2 tháng 9 được ông Hồ (và ban tham mưu ?) lựa chọn là một sự khôn khéo rất mực về chính trị. Cả thế giới và khu vực, người dân VN, đều vui mừng vì quân Nhật đầu hàng, chiến tranh từ nay chấm dứt. Lề lối cai trị khắc nghiệt và sự tàn ác của quân Nhật không còn. Thoát được gông cùm của Nhật, niềm vui quá lớn, người ta không quan tâm nhiều đến tuyên ngôn độc lập của ông Hồ, cũng như sự ra đời của nước VNDCCH.

Người dân VN thì ngây thơ tưởng rằng mình đã dành lại được chủ quyền, nước VN được độc lập từ nay.

Nhưng vấn đề « dành lại chủ quyền » và sự « độc lập » của một quốc gia không đơn thuần như vậy. Cái nào cũng có luật lệ của cái đó.

Việt Nam lọt vào ách cai trị của thực dân Pháp, chính thức từ năm 1884. Nam kỳ là nhượng địa của Pháp. Bắc kỳ là thuộc địa. Trung kỳ là đất bảo hộ. Nhà Nguyễn và triều đình tại Huế trị vì ở đất Trung kỳ như là một tấm bình phong, một « thủ tục giấy tờ » của Pháp trước trường quốc tế. Tất cả các mặt, kinh tế, chính trị, quân sự, hành chính… các nước Đông Dương đều nằm trong tay người Pháp. Trước pháp luật quốc tế, chủ quyền VN thuộc Pháp.

Nền cai trị của Pháp liên tục cho đến ngày 10 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chánh, hất Pháp ra khỏi Đông Dương. Trên phương diện « luật pháp quốc tế », chủ quyền VN từ tay Pháp chuyển sang tay Nhật.

Người Nhật tiếp xúc với Bảo Đại đề nghị trả lại độc lập cho VN. Dĩ nhiên ông này đồng ý. Ngày 12 tháng 3 năm 1945 Bảo Đại tuyên bố VN độc lập, lấy quốc hiệu là « Đế Quốc Việt Nam », bãi bỏ các hiệp ước bảo hộ đã ký trước đây với Pháp. Ngày 17-4-1945 chính phủ Trần Trọng Kim thành lập. Nhưng chỉ vài tháng sau, 16 tháng 8 năm 1945, Nhật tuyên bố đầu hàng Đồng Minh. Văn kiện đầu hàng được ký ngày 2 tháng 9 năm 1945.

Trên phương diện « luật quốc tế », tuyên bố VN độc lập của Bảo Đại không có giá trị. Đơn giản vì phe chiến thắng Đồng Minh không nhìn nhận tính chính thống của các nhà nước do Nhật đặt ra tại các vùng lãnh thổ mà họ chiếm được trong thời gian trước 1945. Thí dụ, Mãn Châu quốc của hoàng đế Phổ nghi. Sau khi Nhật đầu hàng, các vùng lãnh thổ do Nhật chiếm trước đó sẽ do phe Đồng minh quyết định số phận. VN không ngoại lệ.

Trong khoảng thời gian hỗn loạn đó, ngày 19 tháng 8 năm 1945 Mặt trận Việt Minh làm « cách mạng », tuyên bố trước quốc dân đánh Pháp đuổi Nhật, « dành lại nền độc lập và chủ quyền cho đất nước ». Một chính phủ « lâm thời » được Hồ Chí Minh thành lập tại Hà Nội. Ngày 25 tháng 8 Bảo Đại giao ấn, quốc gia gọi là « Đế Quốc Việt Nam » kết thúc và quốc gia « Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa » ra đời.

Việc « dành lại chính quyền từ tay Nhật » là không đúng. Không có cuộc cách mạng nào hết cả. Khi tuyên bố đầu hàng, Nhật phải tuân thủ các điều kiện do phe chiến thắng đặt ra, trong đó có việc phải giao lại cho Đồng minh toàn bộ thẩm quyền của đế quốc Nhật tại các vùng lãnh thổ mà nước này chiếm được.

Ông Hồ không thể hô hào « làm cách mạng, đánh Pháp đuổi Nhật, cướp chính quyền » từ tay Nhật. Ông Hồ không thể « cướp » cái mà Nhật không còn nữa. Và cũng không thể « đánh » cái đã không còn nữa.

Nguyên tắc của « cách mạng » là đánh đổ cái (chính quyền) cũ để lập nên cái mới. Thời điểm này, vì VN là một vùng lãnh thổ bị Nhật chiếm từ tay Pháp, do đó thuộc quyền quản lý của phe Đồng minh. VN đánh đổ Đồng minh khi nào mà « dành lại chính quyền » ?

Ấn kiếm Bảo Đại, biểu tượng tính chính thống của Đế quốc VN, cũng không có giá trị pháp lý, vì quốc gia của Bảo Đại lập ra, thân Nhật, không được quốc tế nhìn nhận (như Mãn Châu Quốc).


Bây giờ có lẽ nhiều người mới hiểu ra vì sao TT Truman của HK đã không trả lời nhiều lá thư của ông Hồ gởi năm 1946. Nhà nước của ông Hồ lập nên, VNDCCH, không có tư cách pháp nhân vì không được thành lập trên các nguyên tắc phù hợp với tập quán và luật lệ quốc tế. Vì vậy HK cũng như cộng đồng các nước trên thế giới, không công nhận nhà nước này.

Đôi điều với ông Đằng về lời hô hào lập đảng « Dân chủ xã hội ».

Cũng như từ ngữ « dân chủ », « dân chủ xã hội » là học từ chính trị, thường xuyên được diễn giải qua lăng kính (hay được thể hiện dưới) chủ nghĩa chính trị, do đó có ý nghĩa rất khác nhau.

Tại VN hiện nay, người ta thường lấy mô hình « dân chủ xã hội » ở các nước Bắc Âu như Phần Lan, Thụy Điển, Na Uy… để làm kiểu mẫu cho sự phát triển quốc gia, nhằm thay thế mô hình xã hội « xã hội chủ nghĩa » của Mác-Lênin. Có lẽ GS Phan Đình Diệu là một trong những người đầu tiên ở VN đã mạnh bạo đề cao mô hình « dân chủ xã hội » từ đầu thập niên 90, sau khi chứng kiến sự sụp đổ của các chế độ cộng sản LX và Đông âu.

Cũng như « dân chủ » - « dân chủ nhân dân » qua lăng kính Mác-Lê – hoàn toàn khác với « dân chủ » của thế giới tự do, « dân chủ xã hội » của Mác-Lê hoàn toàn khác với « dân chủ xã hội » của các nước Bắc Âu.

Một cách đơn giản để phân biện đâu là dân chủ xã hội của tư bản và đâu là dân chủ xã hội của Mác là vai trò của nhà nước trong sinh hoạt kinh tế. Tức khác biệt giữa sự can thiệp chừng mực của Keynes trong các nước tư bản với sự áp đặt (truất hữu) thô bạo của Mác trong các xã hội xã hội chủ nghĩa.
Sự sai biệt này, trước đây GS Phan Đình Diệu đã thấy và nhắc : dân chủ thì phải đa nguyên vì đa nguyên luôn là điều kiện cần của dân chủ.

« Dân chủ xã hội » ở các nước Bắc Âu được xây dựng trên căn bản xã hội đa nguyên : dân chủ tự do. (Người ta còn gọi là capitalisme social – chủ nghĩa tư bản xã hội). Ta còn gọi các nhà nước này là « nhà nước phúc lợi ».

Hầu hết các nước Tây Âu giàu mạnh như Pháp, Đức, Anh, Ý… đều là các nhà nước phúc lợi, có một liều lượng ít nhiều « dân chủ xã hội ». Các chính sách về kinh tế và xã hội các nước này tương tự như nhau : mức thuế rất cao đánh lên tài sản và mức thu nhập cá nhân nhưng đổi lại, một nền giáo dục ép buộc và miễn phí, an sinh xã hội, quĩ hưu trí, quĩ gia đình… bảo đảm cho mọi thành viên trong xã hội. Một đứa trẻ sinh ra « phải » học cho hết cấp phổ thông, có « quyền » học lên đại học, hoàn toàn miễn phí. Người bệnh có « quyền » được chăm sóc chu đáo, được « quyền » nghỉ bệnh có lương. Sản phụ được « quyền » nghỉ ăn lương để nuôi con. Tất cả những đứa trẻ sinh ra, cho đến tuổi trưởng thành, đều được « quyền » hưởng phúc lợi, sinh ra từ thành quả phát triển của đất nước, dưới hình thức tiền trợ cấp gia đình. Công nhân có « quyền » nghỉ thường niên có lương, khi thất nghiệp có « quyền » hưởng tiền trợ cấp thất nghiệp. Khi đến tuổi về hưu, có đi làm hay không có đi làm, đều có « quyền » hưởng tiền hưu bỗng do đóng góp lúc đi làm, hay tiền trợ cấp từ quĩ xã hội…

Như thế, mức phúc lợi của người dân tùy thuộc vào số thuế thâu vào, tức mức độ phát triển kinh tế của quốc gia. Dân chúng các nước Bắc Âu có mức phúc lợi lớn hơn các nước Tây Âu vì nhiều yếu tố : dân số thấp nhưng phong phú tài nguyên thiên nhiên. (Yếu tố địa chính trị, trái độn giữa hai khối tư bản – cộng sản, các nước này « trung lập » trong chiến tranh lạnh, cũng là yếu tố quan trọng ảnh hưởng lên văn hóa).

Chỉ sau khi khủng hoảng kinh tế từ vài năm nay (từ năm 2005), mức phúc lợi của người dân các xứ Tây Âu bị giảm sút đáng kể. Nhưng dầu vậy, ở các mặt giáo dục, an sinh xã hội, hưu trí… vẫn còn ở mức chấp nhận được.

Như vậy, « dân chủ xã hội » ở các nước Bắc Âu (và Tây Âu) được xây dựng trên một xã hội đã có sẵn một nền kinh tế năng động, (một nguồn tài nguyên dồi dào), một nền chính trị dân chủ tự do (đa nguyên). Nếu tính « bổ đồng », thời gian để xây dựng lên một nhà nước « phúc lợi » như vậy phải là 30 năm. Mà trong thời gian phát triển, các nước này thường xuyên đứng đầu trên thế giới về các mặt kinh tế, văn hóa, khoa học, kỹ thuật…

Xây dựng lên một nhà nước phúc lợi khó biết bao nhiêu, nhưng « bọn tư bản dẩy chết » chúng xây dựng được.

Thế giới cộng sản đã xây dựng « dân chủ xã hội », « một thế giới không còn người bóc lột người », như thế nào ? Ở đây người ta lấy cái « nghèo » chia đều cho mọi người, xem đó là « công bằng xã hội ». Đây không phải là « công bằng » mà là « cào bằng », là đập phá chứ không phải là « xây dựng ». Đập phá, cào bằng ai làm cũng được, càng ngu dốt thì càng làm tốt thôi. Nhưng xây dựng thì rất khó, vì nó cần kiến thức, cần chuyên môn, cần vốn liếng…

Xây dựng một đất nước đã khó, một nhà nước phúc lợi càng khó thiên nan, vạn nan.

Ông Lê Hiếu Đằng, trong những ngày trên giường bệnh, nhắc đến « dân chủ xã hội » như là một lối thoát cho chính trị VN. Ông hô hào các đảng viên bỏ đảng, tuyên bố thành lập đảng « dân chủ xã hội ».

Tôi cảm nhận những khắc khoải, những thao thức của ông Đằng, trước cái bất công, cái nghèo đói của đại đa số người dân trong xã hội VN hiện nay. Dĩ nhiên, đứng trước một thảm cảnh như vậy, ai có lương tri cũng mong muốn người dân thoát cảnh bất công, nghèo khổ. « Dân chủ xã hội » chợt nghĩ đến như là một phản xạ tự nhiên. Nhất là những người như ông Đằng, theo cộng sản vì tưởng rằng « chủ nghĩa cộng sản » sẽ xây dựng được một VN tốt đẹp (như là các nước Bắc Âu).

Đây là một sai lầm chết người. Biết bao nhiêu xương máu VN đổ xuống tưởng rằng chỉ để thực hiện điều đó.

Tôi cũng có những giây phút khắc khoải và phản xạ như ông Đằng, mặc dầu sống tại nước ngoài. Tôi đã từng lên án trường phái « tân tự do – néolibéralisme » đã làm kinh tế thế giới khủng hoảng nặng nề. Khi chỉ số phát triển của quốc gia giảm, dĩ nhiên mức thuế thâu vào sụt giảm, mức phúc lợi của người dân do đó giảm theo. Ở một số nước như Tây Ban Nha, Hy Lạp… cuộc khủng hoảng kinh tế đã đưa đất nước vào vòng phá sản, đưa hàng chục triệu người không có công ăn việc làm, trong khi mức phúc lợi giảm, đôi khi truất mất.

Nhân danh cái gì, cho ai mà chúng đổ rác trên đầu trên cổ của đại đa số dân nghèo ?

Làm sao không uất ức ? Vì thế, trong dòng máu của tôi cũng chảy một phần « dân chủ xã hội », một lý tưởng về nhà nước phúc lợi.

Ở các nước Tây Âu, một xã hội dân chủ tự do, người ta có thể điều chỉnh lại, đặt ra các luật lệ khắc khe hơn để những con thú « tân tự do » không còn tác yêu tác quái như trước nữa. Những « phúc lợi » mà người dân đã đạt được, trong nhất thời bị bớt đi, nhưng không thể mất được.

Nhưng khi nói « dân chủ xã hội » cho VN thì tôi nghe không ổn, ông Đằng ơi !. « chỉ là mơ thôi… », lời bài hát của ai trong tình cảnh nào đó, xem ra cũng hợp.

Ông lấy gì để xây dựng một nhà nước dân chủ xã hội (như các xứ Bắc Âu) mà không thông qua dân chủ đa nguyên (như lời GS Phan Đình Diệu) ? Ở đây người ta xây dựng nhà nước phúc lợi bằng tiền thuế, bằng sự năng động của nền kinh tế quốc dân. Trong khi nhà nước XHCN của VN, kinh tế quốc doanh là chủ đạo, thực tế cho thấy nó không phát triển sinh lời để đóng góp vào phúc lợi cho toàn dân. Ngược lại, nền kinh tế nhà nước này đã trở thành gánh nặng cho đất nước.

VN đi theo mô hình TQ. Một nước phát triển chỉ về kinh tế, như Trung Quốc, sẽ dây dựng lên một thứ chủ nghĩa tư bản quyền lực man rợ, chỉ tạo ra bất công xã hội, không bao giờ xây dựng được một nhà nước phúc lợi.

Ước mơ nào cũng đẹp, nhưng đó là điều hướng tới. Muốn xây dựng một « nhà nước phúc lợi » như các xứ Bắc Âu, tôi e VN phải mất nhanh thì vài chục năm, chậm thì vài thế kỷ.

Tình trạng bệ rạc của VN hiện nay, nhà thuơng, trường học… lần hồi phải trả phí, trong khi việc miễn phí là điều căn bản của mọi quốc gia bất kể sắc thái chính trị. Tài nguyên khai thác cạn kiệt trong khi cơ sở hạ tầng không xây dựng được. Những công trình quan trọng đều có vốn, hay « viện trợ » của nước ngoài. Con người lý ra là đối tượng phục vụ của nhà nước, của bất kỳ quốc gia nào, thì ở VN con người trở thành « nguồn lực » để nhà nước « xuất khẩu lao động ». Ở các xứ tiên tiến, khi chỉ số thất nghiệp tăng thêm phần trăm nào thì chính phủ đang lãnh đạo mất lòng dân thêm phần trăm ấy.
Một chế độ như vậy, một đảng lãnh đạo như vậy, đưa đất nước từ thảm cảnh này đến thảm cảnh khác, đến nay mới quyết định « tính sổ với đảng » cũng là hơi chậm, phải không ông Đằng ?

Nhưng có còn hơn không, dầu trễ nhưng cũng hơn là « không bao giờ ».

Tôi thắc mắc về ngôn từ « dân chủ xã hội » nhưng tôi hoan nghênh việc ông hô hào lập đảng khác. Tôi thấy nhiều người lên tiếng phê bình ông lập đảng, lề phải và lề trái. Tôi không thấy ai đưa lời thuyết phục. « Lề phải » thì khỏi nói. Lý lẽ quá tệ. Có điều họ có súng trong tay. Họ nói thế nào cũng là « chân lý ».

Tôi lạc quan xem việc hô hào lập đảng của ông Đằng như là bước đầu của sinh hoạt dân chủ, đa nguyên chính trị ở VN. Ai chống thì chống, tôi ủng hộ, nếu « dân chủ xã hội » ở đây là một « ước mơ » để hướng đến.

Làm chính trị thì đối tượng là làm cho dân giảu, nước mạnh, mọi người được an lành, hạnh phúc. Vấn đề là làm thế nào ?

Đảng CSVN đã từ thất bại này sang thất bại khác, nhưng sai thì sửa, quyền lãnh đạo nhất định không buông, mà quyền này chỉ tập trung vào một nhóm nhỏ có thực quyền trong đảng.

Đảng CSVN đã phản bội lại lý tưởng của các đảng viên có lý tưởng, như ông Đằng. Việc ông Đằng, cũng như nhiều đảng viên có lý tưởng khác, chưa bỏ thẻ đảng, sẽ là một dấu hỏi lớn cho những người quan tâm.

Sẽ mất thì giờ biết bao nhiêu, nếu « dân chủ xã hội » mà ông Đằng nói lại đặt lên nền tảng Mác-Lênin. Nếu vậy suy nghĩ chi lôi thôi, giao quách cho đảng CSVN, họ có nhiều « kinh nghiệm » hơn. Đất nước mấy lần được « cào bằng », không phải hay sao ?.

Sự minh bạch trong ngôn từ là điều cần thiết để được mọi người ủng hộ. Ông Đằng nói đi, cương lĩnh thế nào, xây dựng đất nước ra sao ? xã hội tổ chức ra sao ? các mặt văn hóa, kinh tế, giáo dục, quốc phòng, ngoại giao ?

Lề trái cũng nên ngồi yên, đánh tá lả trước khi nghe người ta nói phải trái là không đúng, phải không ?