samedi 19 octobre 2013

Khu vực từ Hữu Nghị Quan (Nam Quan) đến Bình Nhi Quan.

Cửa ải Hữu Nghị, Hữu Nghị Quan, xưa gọi là Nam Quan hay Trấn Nam Quan, là địa điểm trên đường biên giới Việt-Trung đã gây nhiều tranh luận trong giới học giả Việt Nam trong khoảng thời gian hai bên VN và TQ phân định lại biên giới, bắt đầu từ năm 2000.

Các học giả Hà Mai Phương và Chu Thu Hằng trong tập « Sử Liệu về biên giới Ta và Tàu từ đời nhà Lý cho tới đầu thời Pháp thuộc » mô tả Nam Quan như sau :

« Trấn Nam-Quan -- hay ải Nam-Quan -- thuộc địa-giới châu Bằng-Tường [tỉnh Quang-Tây bên Tàu], đối-diện với các xã Đồng-Đăng và Bảo-Lâm thuộc châu Cao-Lộc [Văn-Uyên cũ], tỉnh Lạng-Sơn của ta. Hai bên cửa ải là núi đá cao ngất. Cửa ải Nam-Quan luôn-luôn khoá kín, chỉ mở khi có việc thông sứ chính-thức giữa hai nước. Theo Bắc-Thành Dư-Địa-chí [của Lê Đại-Cương] ở về phía bên phải cửa Nam-Quan có nhiều ải nhỏ như Ải Bang [ở châu Lộc-Bình], ải Tầm-Bang [ở xã Tam-Lộc], Ải Kiệm [ở xã An-Khoái], ải Na-Chi [ở xã Xuất-Lễ], ải Khấu-Sơn [ở xã Cần-Lua], Ải Du [hay cửa Du-Thôn ở xã Bảo-Lâm] và ở về phía bên trái cửa Nam-Quan có các ải Bố-Sa, Sơn-Tử [ở xã Tiên-Hội], ải Học-Mô [ở xã Hành-Lư], ải Bản Dương, Bản Quyên [ở xã Lạc-Khư], ải Nguyên-Anh, Bình-Công [ở xã Khánh-Môn], ải Bình-Nhi [ở xã Cửu-Dương]; thuộc châu Thất-Tuyền có các ải Bắc-Bố, Khấu-Trung [ở xã Nghĩa-Điền], ải Ba-Tạm, Cảm-Môn [ở xã Cụ-Khánh], ải Na-Mân, Khô-Thịnh [ở xã Nghĩa-Khản], ải Kiều-Lễ, Kiều-Lân [chưa rõ ở xã nào], ải Cốc-Ngoạ [ở xã Bình-Lục], Ải Hoa, Ải Mộ [ở xã Nông-Đồn]. Đối-diện với các ải của ta, bên đất Trung-quốc cũng có những cửa ải của họ. Các cửa ải này có tính-cách phòng-thủ, quân-sự và không dùng trong việc giao-thông giữa hai nước Việt—Trung »

Như thế cách thức tổ chức về hành chánh và quân sự ở các cửa biên giới ngày trước cũng tương tự như hôm nay : bên kia đường biên giới có đồn bót hải quan của TQ canh phòng thì bên này đường biên giới cũng có tương tự đồn bót hải quan của Việt Nam. Đường biên giới hai nước là đường đi giữa hai cửa ải. (Điều cần tìm hiểu là tên gọi các cửa ải của hai bên có trùng nhau hay không ?)

Theo công ước Pháp-Thanh 1887, đoạn biên giới này được phân định trên thực địa, theo biên bản ngày 7 tháng 4 năm 1886.
(Trong quá trình phân định biên giới Pháp-Thanh, chỉ có hai đoạn biên giới được phân định trên thực địa, do ông Bourcier de Saint-Chaffray phụ trách : đoạn từ Nam Quan đến Bình Nhi Quan và đoạn từ Nam Quan đến ải Chí Mã. Đoạn biên giới Nam Quan – Bình Nhi Quan được cắm mốc theo biên bản ngày 21-4-1891, do ông Frandin làm chủ tịch ủy ban. Công trình cắm mốc này chỉ được công nhận theo biên bản tổng hợp ngày 19-6-1894, do ông Galliéni làm chủ tịch ủy ban.)

Có hai bản đồ 1/50.000 được thực hiện (khu vực Bình Nhi – Nam Quan và khu vực Nam Quan – Chí Mã), vẽ mực màu trên nền vải trắng.

Theo HUBG 1999, đoạn biên giới từ cửa Nam Quan đến Bình Nhi Quan nằm trong hai tấm bản đồ số 28 và 29 của bộ bản đồ vừa công bố.

So sánh nội dung các văn bản và các bản đồ của hai kết ước 1887 và 1999, một số ghi nhận về đoạn biên giới này như sau :

1/ Hướng đi đường biên giới theo HUBG 1999 không phù hợp với đường biên giới theo mô tả của các biên bản phân định 1886. 2/ So sánh bản đồ, VN bị mất đất ở nhiều điểm, trong đó có làng Lũng Nghiêu. 3/ Hầu hết các địa danh ngày xưa trong khu vực này, ngoài các tên như Nam Quan, Bình Nhi…, các tên khác đều không còn thấy trên bản đồ.

Hướng đi đường biên giới đoạn từ Nam Quan đến Bình Nhi, được mô tả theo biên bản phân định biên giới Pháp-Thanh ngày 7-4-1886 như sau :

« …từ một điểm được xác định cách cổng Nam Quan 100 thước trên đường từ Nam Quan về Ðồng Ðăng (cột số 18), đường biên giới theo hướng Tây, đi lên đỉnh ngọn núi đá mà trên đó có một đồn binh được đánh dấu là điểm A ở trên sơ đồ kèm theo đây. Đường biên giới, từ điểm này, theo đường sống núi của bức tường núi đá nhìn xuống con đường Ðồng Ðăng, cho đến điểm B đánh dấu trên sơ đồ (cột số 17). Ðiểm B là điểm mà con đường mòn - đường mòn này là một nhánh rẽ của con đường Ðồng Ðăng đi Nam Quan - dẫn đến làng Lũng Nghiêu (Lũng Ngọ 隴午, còn viết là Lộng 弄) cắt bức tường núi đá. Ðường biên giới theo con đường mòn cho đến cổng làng Lũng Nghiêu. Từ cổng, đường biên giới đi lên ngọn rặng núi đá bọc chung quanh làng Lũng Nghiêu để đi đến điểm C (cột số 16). Từ điểm C, đường biên giới đi về hướng Tây cho đến cửa Ki Da (trên bản đồ ghi Khua-Da, có lẽ là Cửa Du, tức ải Du).

…từ cửa Ki Da (cửa Du), đường biên giới đi về hướng tây bắc, qua đỉnh núi được đánh dấu là D, cho đến cửa ải Bố Sa (cột số 15) và cửa ải Hong-Meun (đối diện với của Bố Sa). Các bản, làng Na-Lau, Na-Han, Na-Choc và Na-Ngoa thuộc về Bắc Kỳ. Từ cửa Bố Sa, đường biên giới đi về hướng Bắc, theo đỉnh các ngọn núi cao, cho đến điểm E ghi trên bản đồ, và từ điểm E cho đến hai đồn binh (Hy Tự Tiền Dinh và Hy Tự Tiền Dinh Pháo Ðài) của Tàu đánh dấu là F (cột mốc 14) và G (cột mốc 13). Từ điểm G, đường biên giới nghiêng về hướng Tây Bắc cho đến một đồn binh của Tàu bỏ hoang đánh dấu là H, từ điểm này đến cửa ải Sơn Tự 山寺, (cột số 12) và theo hướng Bắc cho đến đồn binh Kéo-Cho được đánh dấu là I (Sơn Tự Ngoại Sách, cột số 11) và đồn này thuộc Trung Hoa.

... đường biên giới tiếp tục đi về hướng Bắc cho đến ải Thượng Dương 上楊 ; từ cửa Thượng Dương đường biên giới theo hướng Tây Bắc, đi qua cửa ải Bản Quyên, đến điểm đánh dấu J. Từ điểm J đường biên giới theo hướng Ðông Bắc cho đến một đồn binh bỏ hoang được đánh dấu K. Từ đây đường biên giới xuống sông Kì Cùng sau khi qua đồn binh đánh dấu L. Ðường biên giới đến sông tại điểm đánh dấu M và từ điểm này theo sông cho đến khúc ngoặc được đánh dấu N ».
….

Có tất cả 18 cột mốc được cắm trên đoạn biên giới này. Vị trí cột mốc được mô tả theo biên bản 21-4-1891 (công trình Frandin). Tên và số thứ tự cột mốc được xác định theo biên bản 19-6-1894 (công trình Galliéni) như sau :

Cột thứ 18, Trấn Nam Quan ngoại : Trên đường Nam Quan về Ðồng Ðăng (cách cửa 100 thước về hướng Nam)

Cột thứ 17, Khiêu Giá Sơn : Cắm trên đèo nhỏ cắt đường sống núi, trên con đường mòn đến Lũng Nghiêu. Đường mòn này tẻ ra từ con đường Ðồng Ðăng – Nam Quan.

Cột thứ 16, Lộng Diêu Ngoại Sách : Cách làng Lộng Diêu 250 thước về hướng Tây, trên đường mòn đi đến Khua Da.

Cột thứ 15, Bố Sa ngoại sách : cắm tại cửa ải Bố Sa.

Cột thứ 14, Nã Thốt Lĩnh : cắm trên đỉnh núi, cách làng Na-Thot 500 thước về hướng đông nam.

Cột thứ 13, Lục Lê Lĩnh : cắm về phía tây, cách công sự Hi Tự Tiền Dinh Pháo Ðài 100m.

Cột thứ 12, Sơn Tử ngoại sách : cắm tại cửa ả Sơn Tử.

Cột thứ 11, Na Phiêu Lĩnh : cắm về phía đông nam, cách 400m cửa làng Na-Phéo.

Cột thứ 10, Ba Khẩu ngoại sách : cắm về phía tây, cách 150 m công sự Kéo-Chu.

Cột thứ 9, Lăng Thôn ngoại sách : Tại cửa Thuong-Dong.

Cột thứ 8, Ba Mễ ngoại sách.

Cột thứ 7, Quyên Thôn ngoại sách : Tại cửa ải Quyên Thôn.

Cột thứ 6, Phần Quan Lĩnh : Cách 200 thước về phía đông bắc của hợp lưu suối Ban-Quyen và con suối có hướng chảy bắc nam (Phan Quan Linh 6).

Cột thứ 5, Cang Anh ngoại sách : cắm tại một cửa ải cũ, ở cách 500 thước điểm cao (côté 345).

Cột thứ 4, Cổn Ma Lĩnh : Cắm về phía đông của thung lũng Na-Dong, gần con đường đi từ Luc-Bac đến Tra-Kieu.

Cột thứ 3, Bình Công ngoại sách : Cắm trên một ngọn đồi cách 250 thước về phía đông bắc của điểm cao (côté 294).

Cột thứ 2, giác Hoài Lĩnh : Cắm tại một cái đèo rất thấp, cách 1000 thước về phía Nam của công sự Na-Ho.

Cột thứ 1, Bách Tặng Lĩnh : Trên một ngọn đồi nhìn xuống sông Kì Cùng, cách sông 150 thước.



Bản đồ vẽ theo các biên bản cắm mốc ở trên, do các ủy viên cắm mốc in tại nhà in ở Việt Nam năm 1894, được chụp lại (gồm 3 hình) sau đây :

Nam Quan 1

Hình Nam Quan 1.

Nam Quan 2

Hình Nam Quan 2.

Nam Quan 3

Hình Nam Quan 3.

Trên bản đồ này làng Lũng Nghiêu thuộc về Việt Nam.

Bản đồ khu vực Nam Quan đến Bình Nhi theo HUBG 1999 :

Nam Quan 4

Hình Nam Quan 4.

Nam Quan 5

Hình Nam Quan 5.

Để ý đến hướng đi và vị trí các cột mốc theo biên bản cắm mốc, đường biên giới theo công ước 1887 (hình Nam Quan 1) đi qua các cửa ải, các cột mốc cắm tương đối xa nhau (vài km), không quá nhiều đoạn quanh co khúc khuỷu.

Trên bản đồ HUBG 1999 (Nam Quan 5), một số nơi các cột mốc cắm chi chít và san sát với nhau, đường biên giới ngoằn ngoèo, lồi ra lõm vào.

Đường biên giới vẽ màu hồng là đường biên giới theo HUBG 1999. Màu đỏ theo công ước 1887.

So sánh (hai hình Nam Quan 1 và Nam Quan 5), ta thấy các khu vực trong vòng xanh là các khu vực trọng yếu VN mất cho Trung Quốc :

1/ Khu vực trước cửa ải Nam Quan, khoảng 300m so với đường biên giới cũ.

2/ Toàn bộ làng Lũng Nghiêu của VN đã mất cho Trung Quốc.

3/ Đường biên giới tại cửa Bố Sa, tức cửa Tam Thanh hiện nay, đã lấn sang VN khoảng trên 200m.

So sánh bản đồ (Nam Quan 2) và (Nam Quan 5): Các dấu gạch chéo màu đỏ, từ dưới lên trên, tuần tự là cột mốc số 8, 7 và 6. Cột mốc số 6 được cắm “Cách 200 thước về phía đông bắc của hợp lưu suối Ban-Quyen và con suối có hướng chảy bắc nam”. Hợp lưu của hai con suối là nơi gạch chéo màu xanh.

Trên bản đồ HUBG, đường biên giới phần lớn chiều dài của nó là con đường mòn để cảnh sát biên phòng đi tuần. Trong thời Pháp thuộc con đường này thuộc VN.

Điều ghi nhận khác, hầu hết các địa danh của VN ngày xưa đã không còn nhìn thấy trên bản đồ mới. Các phần đất bị lấn sang VN phần nhiều thuộc những vùng ở giữa hai cột mốc, tức ở giữa hai cửa biên giới.

VN mất đất khu vực này là khá quan trọng về diện tích và rất quan trọng cho phần phòng thủ biên giới.

dimanche 6 octobre 2013

Sông Bắc Vong

Bản đồ dưới đây, cắt ra từ tấm số 26 thuộc bộ bản đồ HUBG 1999. Đường đỏ là đường biên giới theo công ước Pháp Thanh 1887. Đường hồng biên giới theo HUBG 1999.

Các cột mốc theo công ước 1887 cắm chung quanh khu vực này là :

Mốc số 26, tên Lũng Mính Ải 隴茗隘. Au pied des rochers sur la rive gauche de la rivière. Tạm dịch: cắm dưới chân núi đá, phía tả ngạn của con sông.

Mốc số 27, Bản Chiêu Sơn 扳昭山. Au pied des rochers, à l’O de l’ancien poste français. Tạm dịch : cắm dưới chân núi đá, phía tây của một công sự cũ của Pháp.

Mốc số 28, Na Hà Ả i那荷隘. Sur le mamelon au N. du barrage (rive droite de la rivière). Tạm dịch : cắm trên đỉnh đồi, phía bắc của rào cản (phía hữu ngạn của dòng sông).

Mốc số 29, Na Bài Sơn 那排山. Sur la rive droite de la rivière au pied d’un petit mamelon, en face des rochers de la rive gauche. Tạm dịch : cắm ở phía bờ hữu ngạn của dòng sông, đối diện với tảng đá ở bờ bên kia.

Mốc số 30, Bản Bản Hà 扳本河. Sur la rive droite à l’O du Cuc Lo au pied des rochers. Cắm ở bờ hữu ngạn, về phía tây Cuc Lo và ở dưới chân núi đá.

Theo biên bản mô tả vị trí cột mốc của công ước 1887, từ mốc số 28, 29, 30, đường biên giới là dòng sông.

Đường biên giới trong khu vực này đã thay đổi, VN mất đất ở hai nơi (trên bản đồ này lãnh thổ VN ở phía bắc, TQ ở phía nam) :

1/ Khu vực gần cột mốc cũ, số 26. Biên giới từ cột 25 đến cột 26 là sông Bắc Vong. Đường biên giới rời sông, nơi khúc quanh rẻ về hướng tây, bắt vào đỉnh ngọn núi phía đông bắc thiên bắc, sau đó theo đường sống núi cho đến mốc số 27.

Đường biên giới mới, là sông Bắc Vong, đến khúc rẻ về hướng tây, thay vì rời sông, lại tiếp tục đi theo sông về hướng tây, sau đó rời sông để bắt lên các ngọn núi ở phía sau đường biên giới cũ như vẽ trên bản đồ.

2/ Khu vực từ mốc cũ số 28 đến mốc số 30, đường biên giới theo công ước 1887 là nhánh suối, phụ lưu của sông Bắc Vong. Đường biên giới mới 1999, không theo nhánh suối, mà lên đỉnh các ngọn đồi phía bắc của con suối này. VN mất đất chiều dài khoảng 5km, chiều rộng khoảng 1km, là một thung lũng dài, nối qua bên TQ.

Sông Bác Vong

Đường đỏ là đường biên giới theo công ước 1887. Đường hồng là biên giới theo HUBG 1999. Phần gạch chéo trên bản đồ là phần đất VN bị mất cho TQ. Lưu ý, trong khu vực này, lãnh thổ của VN ở phía bắc, của TQ ở phía nam.

samedi 5 octobre 2013

Núi Lão Sơn

Trên bản đồ dưới đây, trong vòng màu xanh, là địa danh nổi tiếng Lão Sơn. Nổi tiếng vì trong cuộc chiến biên giới Việt-Trung 1999, trong khi các nơi khác trên biên giới im dần tiếng súng không lâu sau khi quân TQ rút về không điều kiện từ tháng 3 năm 1979, thì khu vực này cuộc chiến kéo dài cho đến những năm 84-85 của thập niên 80. Theo tài liệu của nhà văn Phạm Viết Đào, những trận đánh ở đây đã diễn ra rất đẫm máu, nhiều trung đoàn bộ độ VN đã phải hy sinh để cố dành lại ngọn núi này, nhưng không thành công. Phía Trung Quốc gọi núi này là Lão Sơn.

Núi này quan trọng về chiến lược, tương tự như ngọn núi kế bên (đăng ở bài trước), cả hai tạo thành thế ỹ-giốc để cùng kiểm soát và chế ngự mọi sinh hoạt quân sự trong vùng chung quanh (Hà Giang).

Điều cũng nên ghi nhận, vùng đất này ngày xưa thuộc tổng Tụ Long mà phần lớn diện tích của nó đã chia cho Trung Quốc trong dịp phân định biên giới 1887. Biên giới cũ giữa VN và TQ ở khu vực này là sông Đổ Chú, kế cận Mã Bái Quan, thuộc phủ Khai Hóa. Người Pháp đã nhượng phần đất này của VN cho TQ để đổi lấy quyền lợi về kinh tế. Diện tích đất bị mất cho Trung Quốc gồm khoảng 700km², gồm các xã Tụ Nghĩa (聚義社), Tụ Hoa (聚和社), Tụ Long (Ðô Long 都龍), Mãnh Cang (猛崗), Phân Vũ (奮武), Ðông An (東 安里). Đây là vùng đất rất phong phú về khoáng sản, gồm có những mỏ kim loại quí như đồng, vàng, bạc, thủy ngân, kẽm…

Điều nên biết khác nữa, trong quá khứ (1728), vùng đất Tụ Long đã nhiều lần bị TQ lấn chiếm, và nhiều lần cha ông ta thành công lấy lại.

Vì thế, khi phía TQ đã bỏ nhiều nhân mạng ra để lấn chiếm những vùng đất ở khu vực này, đôi khi chỉ là ngọn núi vô danh, những rẻo đất vớ vẫn, đều phải có lý do. Nào ai biết được tiềm năng kinh tế của những ngọn núi, rẻo đất này quan trọng như thế nào.

Lãnh đạo CSVN ký Hiệp định phân định biên giới 1999 với TQ như thế là hợp pháp hóa chủ quyền của TQ tại các địa điểm này.

Lao Son

Đường đỏ là đường biên giới theo công ước Pháp-Thanh 1887. Đường hồng là đường biên giới theo HUBG 1999. Khu vực Lão Sơn là khu có vòng xanh. Vùng gạch chéo là đất của VN bị mất. Bản đồ tấm số 15.

vendredi 4 octobre 2013

Giải Âm Sơn hay Lão Sơn ?

Vùng đất gạch chéo trên bản đồ có tên là Giải Âm Sơn hay Lão Sơn ?

Điều này không còn quan trọng. Việc quan trọng là nó đã mất cho Trung Quốc.

Việc quan trọng khác, theo tài liệu của nhà văn Phạm Viết Đào, nhiều trung đoàn bộ đội VN đã hy sinh để cố gắng giành lại dãi đất này.

Thanh Thuy

Đường đỏ trên bản đồ là biên giới theo công ước 1887. Đường hồng là biên giới theo HUBG 1999.

Vùng gạch chép trên bản đồ là một ngọn núi, ở kế cận cửa biên giới Thanh Thủy. Nó có giá trị chiến lược quan trọng. Ngọn núi này có thể kiểm soát, không chỉ con sông Thanh Thủy, mà còn tất cả những cửa ngõ, những sinh hoạt của VN ở vùng chung quanh (Hà Giang).

Lãnh đạo CSVN đã đưa quân chiếm đất của TQ (tài liệu CIA, khoảng 50km²), làm cớ cho TQ đánh VN năm 1979. Dĩ nhiên trong cuộc chiến 1979, TQ đã lấy lại vùng đất mà VN chiếm trước đó, mà còn chiếm hàng loạt các vị trí quan trọng về kinh tế và chiến lược khác dọc trên đường biên giới. Những vùng bị chiếm này gọi là « chiến lợi phẩm », không dễ gì mà TQ trả lại cho VN.

Kết quả so sánh bản đồ cho thấy, hiệp định biên giới 1999 đã chính thức hóa chủ quyền của TQ tại các vùng đất này.
Vùng đất, có gạch chéo trên bản đồ, ở kế cận sông Thanh Thủy, là một thí dụ. Các thí dụ khác đã công bố ở bài trước đây.

Dầu vậy, trên bản đồ của nhóm Quĩ Nghiên Cứu Biển Đông, không chỉ sông Thanh Thủy bỏ dòng chảy của nó để chảy sang nơi khác, mà đường biên giới ở đây cũng ở xa về phía bắc.

lundi 30 septembre 2013

Núi Khấu Mai (Khấu Mai Sơn, Khấu Mai Ðỉnh hay Khấu Mai Lĩnh), tấm số 27.


Theo dõi quá trình cắm mốc biên giới, người viết ghi nhận rằng cột mốc có tầm quan trọng hàng đầu đối với quân đội Pháp (sau năm 1892, vấn đề cắm mốc do quân đội phụ trách), là cột mốc cắm tại núi Khấu Mai (Pháp viết là Cao-May hay Khao-moué). Núi này ở phía nam Thủy Khẩu, biên giới giữa Long Châu thuộc TQ và Cao Bằng thuộc VN. Đây là ngọn núi có tầm chiến lược quan trọng (vào thời đó), vì nó kiểm soát con đường dọc biên giới, có nguồn nước, có thể đặt công sự để kiểm soát toàn vùng Long Châu.

Đỉnh ngọn núi này thuộc về VN do việc người Pháp trao đổi toàn bộ tổng Đèo Lương (Đèo Luông) cho Trung Quốc, cộng thêm điều kiện không được đặt công sự quá 25 người trên núi.

Khu vực này được giải quyết năm 1893. Có đến 3 cột mốc được cắm chung quanh núi Khấu Mai : Cột số 14 cắm dưới chân núi, phía đông. Cột 15 cắm trên sườn núi, phía đông. Cột 16 cắm dưới chân núi, phía tây-bắc. Như thế phía Trung Quốc được hưởng một góc nhỏ của trái núi này, theo như bản đồ dưới đây.

Tuy vậy, phía TQ không hài lòng vì tất cả các cuộc chuyển quân của họ đóng tại Long Châu và vùng chung quanh đều lọt vào mắt của công sự Pháp đặt trên núi. Vì vậy họ tìm cách dời cột mốc lên cao hơn.

Do việc lấn đất này, năm 1936, nhà cầm quyền Pháp đã phải làm áp lực với phía TQ để cắm mốc lại.

Ngoài việc đem các cột mốc về vị trí cũ, cột mốc số 14 bis được cắm thêm, theo biên bản ngày 2-3-1936. Theo đó cột 14 bis cách cột 14 là 580m về phía tây-nam, theo hướng đông đông-nam so với cột 15.

Nhưng vấn đề cột mốc số 14 cắm ở sườn núi Khấu Mai vẫn chưa chấm dứt. Theo tin từ các tài liệu của nhóm Lê Đức Anh tố cáo Lê Khả Phiêu bán đất nhượng biển cho TQ. Ta thấy Giang Trạch Dân yêu cầu đưa mốc số 14 lên đỉnh núi, với lý do ngày trước công nhân không đưa cột mốc lên đến đỉnh mà bỏ lại ở sườn núi.

Trong hồ sơ cắm mốc 1887-1897, cột mốc cắm trên sườn núi tại Khấu Mai là trường hợp duy nhất. Tất cả các cột mốc khác đều được cắm trên đỉnh núi.

Điều cũng cần ghi nhận, nếu Pháp nhượng núi này cho TQ, VN không bị mất tổng Đèo Lương (diện tích khoảng 300km²) mà sẽ không có vụ tranh chấp thác Bản Giốc. Vị trí tổng Đèo Lương, trên bản đồ, là phần lõm về phía đông-bắc Cao Bằng, bao gồm thác Bản Giốc với một đoạn dài sông Qui Xuân (Qui Thuận.)

So sánh hai mảnh bản đồ, một mảnh từ tấm 27 của bộ bản đồ theo HUBG 1999, một mảnh từ bản đồ biên giới do Sở Địa dư Đông dương ấn hành. Ta thấy cột mốc biên giới mới được cắm trên núi Khấu Mai. Tương tự với các cột mốc chung quanh.

Khau Mai 2

Hình trên : góc bản đồ SGI. Biên giới 1887 là đường đỏ, biên giới 1999 đường màu hồng.

Khau Mai

Hình trên : góc tấm bản đồ số 27. Biên giới 1887 đường đỏ ; biên giới 1999 đường hồng.

Mất đất vùng này ước lượng vài cây số vuông. Con số thì nhỏ nhưng tầm quan trọng chiến lược cực kỳ lớn. Giang Trạch Dân, chủ tịch nước kiêm TBT đảng CSTQ, đích thân can thiệp cho mọi người thấy tầm quan trọng của ngọn núi này.

samedi 28 septembre 2013

Khảo sát sơ lược bộ bản đồ biên giới Việt-Trung (từ cửa sông Bắc Luân đến Nam Quan)


Bản đồ sẽ nói lên nhiều thông tin hữu ích nếu người xem biết đọc nó. Việc so sánh bản đồ cũng vậy, nó cũng nói lên được nhiều điều. Nhưng kết quả còn tùy thuộc vào kiến thức và mục đích chính trị của người thực hiện.

Bộ bản đồ biên giới Việt-Trung, nhiều người quan tâm đến tình hình đất nước mong mõi từ bấy lâu nay, tình cờ được tiết lộ qua một nguồn tin không chính thức. Một số chi tiết kỹ thuật quan sát được như sau :

Bộ bản đồ bao gồm 35 tấm, tấm số 1 vẽ khu vực biên giới Việt-Trung-Lào, với cột mốc số 1 cắm trên ngọn Khoan La San là giao điểm của ba đường biên giới. Tấm cuối cùng số 35 vẽ khu vực biên giới thuộc cửa sông Bắc Luân, mốc chót mang số 1378 cắm trên bãi Dậu Gót. Tức vẽ theo số thứ tự của cột mốc từ tây sang đông. Bộ bản đồ này được vẽ theo hệ thống tọa độ WGS 84 (World Geodetic System 1984), theo phép chiếu Gauss-Kruger, lấy kinh tuyến trung tâm 105° và múi chiếu 6°, có tỉ lệ 1/50.000. Trên mỗi bản đồ chia theo từng múi kinh tuyến và vĩ tuyến biên độ 1’. Kích thước một ô trên bản đồ, chiều ngang 1717m, dọc 1851m.

Như vậy bộ bản đồ này đúng theo tiêu chuẩn của quốc tế về đường biên giới. Tuy vậy, không biết do vô tình hay hữu ý, phẩm chất của các bản chụp rất tệ hại, các chi tiết trên bản đồ lem nhem, không rõ rệt. Thậm chí số các cột mốc còn không đọc được, các địa danh cũng vậy. Đọc và hiểu nó đã khó, so sánh nó với các bản đồ khác là cả một vấn đề !

Việc so sánh bản đồ là một vấn đề thuộc về kỹ thuật. Phép so sánh theo lối « chồng bản đồ” là việc thường thấy. Tuy nhiên việc so sánh này chỉ có thể đem lại kết quả chính xác nếu hai bản đồ có cùng tỉ lệ, cùng vẽ trên một hệ thống tọa độ, cùng một phép chiếu và cùng múi chiếu. Hiện nay, với các bộ bản đồ được số hóa, người ta có thể so sánh một cách dễ dàng hai bộ bản đồ, bằng phương pháp toán học để biết kết quả, với các nhu liệu thích hợp.

Bộ bản đồ biên giới Việt-Trung vừa công bố có hệ thống tọa độ đính kèm. Nếu muốn so sánh nó với một bộ bản đồ khác để xem kết quả được mất như thế nào, ta có hai phương pháp : 1/ so sánh với một tập hợp tọa độ của đường biên giới cho sẵn, 2/ so sánh với một bộ bản đồ làm chuẩn.

Theo tinh thần Hiệp ước Biên giới 1999, đường biên giới vẽ theo công ước Pháp-Thanh 1887-1895 được hai bên Việt-Trung công nhận có giá trị làm chuẩn. Đường biên giới này là đường biên giới đầu tiên của VN có tính « quốc tế », có giá trị công pháp quốc tế. Bộ bản đồ này được Sở Địa Dư Đông Dương ấn hành, gồm một bộ bản đồ 1/100.000 và một số tấm 1/50.000, vào các năm 1928 và các năm thuộc thập niên 40, 50. Công tác trắc địa cho bộ bản đồ này được thực hiện từ năm 1887 đến năm 1897, tức những năm phân định và phân giới, cắm mốc.

Kỹ thuật cắm mốc thời kỳ này còn thô sơ. Vị trí các cột mốc được mô tả theo vị trí tương đối của nó chứ không theo tọa độ như ngày nay. Một số thí dụ, cột mốc được cắm « trên đỉnh ngọn núi », « trên đỉnh đèo », « bên lề con đường, cách cổng biên giới xxx mét », « cắm trên đường từ A đến B », « tại giao điểm hai con đường từ A đến B và từ C đến D » v.v… Một số mốc đo theo cách thức « tam giác đạc », tức cột mốc cách điểm cố định A bao nhiêu mét (hay dưới một góc β) và B bao nhiêu mét…

Các bản đồ được vẽ thời kỳ này, nhiều tấm không để ý độ sai do độ cong của quả đất, do đó thiếu chính xác. Việc này chỉ được sửa chữa lại theo bộ bản đồ 1948. Dầu vậy, chưa có công tác nào, cho đến khi Pháp rút khỏi VN, bộ bản đồ biên giới này được hệ thống hóa theo hệ thống tọa độ.

Như thế, về kỹ thuật, người ta khó có thể so sánh theo lối chồng bản đồ, hay so sánh hệ thống tọa độ với tọa độ một bản đồ khác, thí dụ, bản đồ biên giới 1999.

Người ta chỉ có thể so sánh hai bộ bản đồ này với một kết quả tương đối chấp nhận được, là so sánh cùng lúc bản đồ và văn bản mô tả đường biên giới. Muốn chính xác hơn, phải ra thực địa để kiểm chứng lại.

Một vài kết quả sơ khởi của tác giả công bố sau đây, sau khi khảo sát các tấm bản đồ từ số 35 đến số 29, tức từ đông sang tây. Do hạn chế về thời gian và một số khó khăn về kỹ thuật, có thể tác giả còn sót ở một số điểm trên các tấm bản đồ này.

1/ Các bãi bồi ở cửa sông Bắc Luân : Khảo sát tấm bản đồ số 35.

Theo tài liệu phân định biên giới, khu vực cửa sông Bắc Luân được xác định có độ dài khoảng 14 km, bắt đầu từ thượng lưu bãi Tục Lãm đến điểm đầu của đường phân định Vịnh Bắc Bộ. Trong vùng này có các cồn đất là bãi Tục Lãm, bãi Tài Xẹt và bãi Dậu Gót. Các bãi đất này chỉ mới được đất phù sa sông Bắc Luân bồi đắp sau khi phân định biên giới (1885-1897). Các bãi này chưa được xác định chủ quyền.

Đường biên giới khu vực cửa sông Bắc Luân được xác định vào ngày 31-12-2008. Số phận của các bãi này được xác định như sau :

Bãi Tục Lãm : VN được ¾, Trung Quốc được 1/4 bãi Tục Lãm
Bãi Dậu Gót : VN được 1/3 và TQ được 2/3 bãi.
Bãi Tài Xẹc : hoàn toàn thuộc về Trung Quốc.

bai tuc lam
Nguồn: báo chí trong nước.

Tuy nhiên, nếu xét lại các nguyên tắc phân chia các cồn, bãi bồi, cù lao… mới thành hình trên sông, hay trên biển của công ước 1887, ta thấy các bãi này thuộc về Việt Nam.

Thật vậy, nội dung công ước qui định, đường biên giới trên sông luôn là dòng chảy chính tàu bè qua lại, hoặc là dòng chảy sâu nhất. Nếu mưa lũ làm đổi dòng, thì cứ theo nguyên tắc này mà áp dụng. Các cồn, bãi… trên sông, ở về phía bên nào thì thuộc về bên đó. Các cù lao trên biển, thì đường kinh tuyến đi qua điểm cực đông đảo Trà Cổ làm tiêu chuẩn. Các cù lao, đảo ở phía đông đường này thuộc Trung Quốc, phía tây thuộc VN.

Cả hai trường hợp, các bãi bồi nói trên, qui định trên sông hay thuộc về biển, chúng cũng thuộc về VN.

Nhìn bản đồ vệ tinh ta thấy đường nước sâu nhất là đường nước màu xanh đậm, là đường tàu bè qua lại, tức là đường biên giới. Các bãi Tục Lãm, Tài Xẹc và bãi Dậu Gót đều ở phía hữu ngạn của dòng chảy sâu nhất (là đường biên giới), tức ở về phía VN. Các bãi này cũng nằm về phía tây đường kinh tuyến đi qua đông điểm đảo Trà Cổ.

2/ Khu vực Trình Tường (văn bản phân giới 1887 gọi là Trịnh Tường) :

Quan sát bản đồ VN vừa công bố, tấm số 32.

Làng Trình Tường không còn tên trên bản đồ. Hình dưới đây là một góc của tấm bản đồ số 32. Đường đỏ là đường biên giới cũ (1887). Đường hồng là đường biên giới mới (1999).

Trình tường 2

Quan sát mảnh bản đồ dưới đây, cắt ra từ bản đồ phân giới của Pháp-Thanh :

Trình tường

Đường biên giới cũ là đường đỏ (1887), biên giới mới là đường hồng (1999).

So sánh hai bản đồ, khu vực đất gạch chéo là đất của VN mất cho Trung Quốc.

Phần văn từ pháp lý : Biên bản phân giới ngày 11-3-1893, đoạn 3, biên giới khu vực liên quan được mô tả :

Đường trung tuyến của sông Đông Mô 洞謨 (Toung Mou), tức sông Tiên Yên, là đường biên giới cho tới phía bắc làng Đông Mô.

Những làng Bồ Nam 蒲楠 (Bou Nam), Khôn Văn 坤文 (Kw’an Ouen), Động Trung 峝中 (Toung Tchoung) thuộc về Trung Hoa ; những làng Na Bô 那簿 (Na Pou), Dinh Kiều 營叫 (Yng Kiao), Bản Sầm 本岑 (Penn Chin), Đông Phê 洞批 (Toung Pi) và Đông Mô 洞謨 (Toung Mou) thuộc về Việt Nam.

Đường biên giới sau đó là sông Na Sa 那沙 (Na-Cha), phụ lưu hữu ngạn sông Tiên Yên, chảy qua phía Đông làng Na Sa và phía Tây làng Đông Xã 洞舍 (Toung-Sié).

Na Sa thuộc về Việt Nam và Đông Xã thuộc về Trung Hoa.

Đường biên giới, cũng là phụ lưu nói trên, sau đó đi đến giao điểm của sông này với con suối mà nguồn của nó cách Trịnh Tường 呈祥 (Tcheng Siang) 500 m ; đường biên giới theo dòng suối này từ giao điểm này cho tới nguồn của nó. Tại đây đường biên giới theo đường thẳng cho tới Bắc Cương Ải 北崗, đi ngang qua các đỉnh 675, 812 và 746 về phía Tây Bắc Trịnh Tường.

Làng Trịnh Tường thuộc về Việt Nam ; các làng Vệ Tàm 衞慙 ( Shu-Tan) và Kiểu Tào 矯曹(Kiao Tsao) thì thuộc về Trung Hoa.


Kết luận :

Toàn bộ khu vực giữa hai nhánh sông (sông Na Sa và suối Trịnh Tường), cũng như làng Trịnh Tường thuộc về Việt Nam nay đã thuộc về Trung Quốc. Ngả ba sông, cột mốc 32 cũ vẫn còn đúng vị trí, tương ứng mốc mới 1312. Từ ngả ba sông này, đường biên giới lý ra phải theo nhánh đông-bắc, nay theo nhánh tây-bắc.

Diện tích đất bị mất khoảng 1’ vuông trên bản đồ. Tạm xem là ô vuông, diện tích bị mất là khoảng 3km².

Điều đáng ghi nhận, đây là lần đầu tiên VN mất trọn một làng cùng với dân số trong làng. Trong dịp phân định, phân giới và cắm mốc biên giới 1887-1897, một số làng thuộc VN cũng bị mất cho TQ với trường hợp tương tự. Do căm thù người Pháp, một số dân làng ở khu vực Hoành Mô (Hải Ninh) không nhìn nhận mình là VN (thực ra là dân Nùng, có cùng nguồn gốc với người Choang bên TQ), do đó những vùng đất này thuộc TQ. Điều này cho thấy, với lối đối xử bạo ngược, mất lòng dân của người cầm quyền, trong khi phía láng giềng giàu mạnh hơn, ưu ái hơn, những người này sẵn sàng bỏ quốc tịch VN để nhập tịch TQ. Đây cũng là một đe dọa, không chỉ vùng biên giới phía bắc, mà còn vùng biên giới tây nam, vùng cao nguyên v.v… nếu lãnh đạo VN vẫn lấy sức mạnh là đường lối cai trị, không có các chính sách hòa giải và khoan dung, việc tương tự như mất đất Trình Tường sẽ còn xảy ra.

Về một số chi tiết kỹ thuật trong bài của hai “học giả” quĩ Nghiên Cứu Biển Đông.


Về phép chiếu Gauss-Krüger :

Tôi có viết trong bài trước về phép chiếu Gauss-Krüger :

“Phép chiếu này giống như phép chiếu thẳng, chỉ khác nhau, thay vì mặt hình trụ tiếp tuyến với đường xích đạo, thì lại tiếp tuyến với một đường vĩ tuyến chọn trước (VN chọn đường 6° thì phải)”. (Thực ra là vĩ tuyến 23°, tại múi chiếu 105°). Hình dưới đây là múi chiếu 11°, theo phép chiếu UTM :



- Về từ ngữ : tiếp xúc – tĩnh từ (tangent) hay tiếp tuyến – danh từ (tangente) ? Tôi nhìn nhận trong trường hợp này sử dụng từ “tiếp xúc” thì chính xác hơn. Tuy nhiên, cách sử dụng từ ngữ ở đây không làm thay đổi bản chất của vấn đề.

- Phép chiếu Gauss-Kruger : tác giả Phan Văn Song đã lầm lẫn giữa hai phép chiếu UTM, như đã dẫn link, với phép chiếu Gauss-Krüger. Tác giả cũng lầm lẫn phép chiếu Gauss-Kruger với phép chiếu nón (conique). Tác giả có vẻ ngạc nhiên khi tôi viết hình trụ thay vì “tiếp xúc” với đường xích đạo thì lại tiếp xúc với một đường vĩ tuyến chọn trước. Tấm hình dưới đây (nguồn American Oxford Atlas, Oxford, 1951) cho ta thấy phép chiếu không nhất thiết hình trụ phải luôn luôn tiếp xúc với đường xích đạo, mà nó có thể tiếp xúc với một đường vĩ tuyến hay một đường nghiêng (oblique) bất kỳ.

Hình 12



Hình dưới đây cho thấy sự liên quan giữa hình trụ chiếu được với các vị trí tương đối của vĩ tuyến. Hình 1 tương ứng với phép chiếu Gauss-Krüger.




- Về trục chiếu: Trở lại phép chiếu thẳng, đường xích đạo (hình tròn), là vòng cung tiếp tuyến với hình trụ. Khi chiếu trên mặt phẳng thì đường này là đường thẳng. Ta gọi nó là trục chiếu. Nếu phép chiếu này lấy đường vĩ tuyến 22°30’ làm đường tiếp tuyến với mặt hình trụ, khi chiếu ra mặt phẳng, đường vĩ tuyến 22°30’ là đường thẳng. Tất cả các vĩ tuyến còn lại, kể cả đường xích đạo, đều là đường cong. Việc trục chiếu không phải là đường xích đạo mà là một vĩ tuyến bất kỳ, phép chiếu này gọi là phép chiếu Gauss-Krüger.

- Bộ bản đồ biên giới Việt-Trung đã chọn phương pháp chiếu Gauss-Krüger nhưng không xác định vĩ tuyến chiếu. Thật ra đây là một sơ suất của tôi, nếu tôi chịu khó nhìn chăm chú hơn trên bản đồ thì sẽ biết trục chiếu là ở đâu. Các bản đồ công bố chỉ vẽ chung quanh đường biên giới, bề rộng hai bên không quá 50km. Như vậy vĩ tuyến chiếu của bản đồ ở khoảng các vĩ tuyến 22° hoặc 23°. Phép vẽ của tôi như vậy là đúng với nguyên tắc của phép vẽ bản đồ của VN và TQ.


Về sai số trên bản đồ: tác giả Dương Danh Huy dẫn ý kiến Ông Phạm Quang Tuấn, viết rằng :

“Việt Nam nằm gần xích đạo, và biên giới Việt-Trung chỉ nằm trong phạm vi 2 độ vĩ độ, cho nên sự thay đổi tỷ lệ theo vĩ độ là rất nhỏ. Theo tính toán của ông Phạm Quang Tuấn thì trong phạm vi đó sự thay đổi của tỷ lệ theo vĩ độ chỉ là 1.3% là tối đa. Đối với những điểm gần nhau (tức là cách nhau dưới 2 độ vĩ độ) thì sự thay đổi tỷ lệ còn nhỏ hơn 1.3% nhiều.”
“(Trương Nhân Tuấn, vì đã không hiểu về bản đồ Mercator và còn làm toán sai. Bản đồ của Mercator của chúng tôi là vùng biên giới VN-TQ thôi, đâu có dài xuống tới Indonesia, mà Trương Nhân Tuấn lại đi so sánh tỷ lệ ở xích đạo với tỷ lệ ở vĩ độ 22 Bắc để kết luận là có sai số 20-25%).”

Hình như hai ông Dương Danh Huy và Phạm Quang Tuấn không biết vị trí của biên giới Việt-Trung ở đâu trên bản đồ.

Theo các dữ kiện tin tưởng được, sai số của phép chiếu thẳng, ở khoảng 20°-45°, là từ 15 đến 25% diện tích.

Bây giờ ta thử kiểm chứng.

Như đã tính trong bài vừa rồi, phép chiếu thẳng đã làm cho bản đồ VN nở ra, theo bề rộng, tại khu vực 22°30’, là khoảng 47,7km. Hình thể địa lý nước VN trải dài từ vĩ tuyến 8°27 đến 23°23. Tức trải dài một cung có biên độ khoảng 15°, tương ứng 1.666km. Để đơn giản tính toán, ta lấy độ “nở ngang” trung bình từ nam chí bắc là 20km. Vậy phép chiếu thẳng làm cho diện tích VN nở ra bề ngang, tính gọn 32.000km. Tức khoảng 10% diện tích.

Nếu tính thêm sai số do độ kéo dài (cách chiếu mercator thẳng thường kéo dài kinh tuyến ở vùng trên 25° để bản đồ được cân đối với việc sai số do bề ngang), ta có thể cộng thêm khoảng 10 đến 15% diện tích.

Bản đồ của các học giả vẽ 10 ô chiều dọc tương ứng 11 ô chiều ngang. Việc này cho thấy phương pháp vẽ của các tác giả không theo một tiêu chuẩn nào. Nó làm cho VN “lùn bớt” 10%. Nhưng cũng làm cho VN nở ra thêm, ngoài hệ quả géodésie đã tính ở trên, cộng thêm 10% (66km) độ nở dài do việc thay đổi tỉ lệ các trục. Tức là bề ngang, VN sẽ nở ra tới 113km.

Vấn đề ở đây, những sai lầm về chính tả của tôi, hay việc cho rằng, trong dấu ngoặc kép : (VN chọn đường 6° thì phải) không làm thay đổi nội dung điều đang bàn luận. Vấn đề bàn luận, là cách vẽ bản đồ và cách so sánh bản đồ của các học giả quĩ NCBD.