mardi 13 mai 2014

Biểu tình : cờ vàng hay cờ đỏ ?

Vấn đề đặt ra, trước hết, biểu tình có nên « phất cờ » hay không ? sau đó hãy nói cờ vàng hay cờ đỏ. 

Biểu tình, xuống đường, mít tinh… là một « quyền » căn bản của mọi người dân trong một xã hội dân chủ, được qui định rõ rệt theo bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền. Nó không phải, và không bao giờ là một « quyền » của nhà nước, thuộc về nhà nước, hay do nhà nước ban bố.

Biểu tình để làm gì ? 

Hầu như không có ngoại lệ, các cuộc biểu tình (xuống đường hay mít tinh, biểu tình đứng, biểu tình ngồi, tuyệt thực...) là hành vi của công chúng nhằm phản đối một sự việc bất công, hay thể hiện một sự bất bình, chống đối nào đó của người dân đối với người lãnh đạo (có thể là chủ xí nghiệp, nhà nước…). Đó là phương pháp của người dân sử dụng khi luật pháp không còn hữu hiệu để bảo vệ quyền lợi của mình, hay của chung một nhóm người. Nội dung cuộc biểu tình (xuống đường, mít tinh…) được thể hiện trên những biểu ngữ, những tờ rơi (truyền đơn), qua những khẩu hiệu hô to của những người trong cuộc… Một số « lá cờ » cũng được trương lên nhân dịp này, nhưng không phải là cờ « quốc gia », mà là cờ của các tổ chức, đảng phái tham gia (hay chủ xướng) cuộc biểu tình. 

Vì biểu tình là một « quyền » của mọi người dân trong xã hội do đó nhà nước phải có « bổn phận » bảo vệ quyền này được thể hiện trong an ninh và trật tự.

« Biểu tình » không phải là « quyền » của nhà nước. Không một nhà nước nào đứng ra « biểu tình » để phản đối một vấn đề gì đó trong quan hệ quốc tế. Nhưng người dân có thể tổ chức biểu tình để ủng hộ nhà nước về một đường lối chính trị, một dự luật được ban bố… có liên quan tới họ. (Tức là, người dân VN có thể biểu tình ủng hộ nhà nước, trong vụ dàn khoan 981, nếu nhà nước có lời yêu cầu.)

Nhưng trong một xã hội độc tài toàn trị, bưng bít như xã hội VN, đã bị tuyên truyền một chiều từ hơn ½ thế kỷ, bất kỳ cuộc xuống đường, mít tinh, biểu tình… của người dân đều chỉ thể hiện việc người dân « ủng hộ » đường lối, chính sách của đảng và nhà nước. Trên môi miệng của mỗi người dân VN luôn có câu : nhờ ơn đảng và nhà nước tôi mới được như hôm nay… Bất kỳ cuộc xuống đường, mính tinh, biểu tình… nào ở VN thảy đều cờ xí rợp trời, âm thanh vang dội… để tung hô đảng và nhà nước. 

Trong vấn đề TQ đặt dàn khoan 981 ở ngoài khơi đảo Lý Sơn, các cuộc biểu tình (ở Sài Gòn, Hà Nội…) là các cuộc biểu tình tự phát (cực kỳ hiếm hoi) của người dân, nhằm phản đối sự ngang ngược của chính quyền Bắc Kinh (và trong chừng mực, phản đối sự bất lực của nhà nước CSVN). Họ không treo cờ mà chỉ giơ cao biểu ngữ chống sự ngang ngược của nhà cầm quyền Bắc Kinh. Một số đòi hỏi thả tự do cho những người đã bị nhà nước CSVN bắt giam một cách phi lý. Một số giơ khẩu hiểu đòi hỏi VN phải thay đổi thể chế. Đây là một cuộc biểu tình đúng nghĩa, (đúng phẩm chất xã hội dân sự), thể hiện sự hiểu biết và can đảm của những người tổ chức. 

Đảng và nhà nước CSVN có thừa khả năng (và thời cơ) để tổ chức các cuộc biểu tình uy lực gấp ngàn lần, nếu họ muốn. Nhưng đảng và nhà nưóc CSVN đã không muốn. Đảng CSVN, thông qua các tổ chức ngoại vi, cũng cờ xí, biểu ngữ, cũng tổ chức « mít tinh » chống TQ. Nhưng họ chỉ chống những người dân khác biểu tình, nhằm giảm bớt « hào khí », hay nhằm « cướp công » các cuộc biểu tình này. Diễn biến xảy ra trước tòa Quốc hội cũ tại Sài Gòn cho ta thấy rõ ràng sự việc.

Vấn đề có nên treo cờ hay không trong các cuộc biểu tình đáng lẽ chấm dứt ở đây. Dân chúng các nước người ta không có thói quen phất cờ khi biểu tình!


Nhưng lịch sử VN không chỉ đơn thuần theo lối viết của nhà cầm quyền trong nước. Nó có những ngoại lệ, hiện hữu từ năm 1975 đến nay, lần hồi trở thành một « thực tế chính trị », thể hiện sự chia rẽ sâu sắc giữa người dân với người dân Việt Nam, sự đối chọi căng thẳng giữa đảng CSVN và người dân bất đồng chính kiến.

Lá cờ vàng là lá cờ của « quốc gia Việt Nam Cộng Hòa », đã hiện hữu trong một thời gian tại miền nam, chế độ này chấm dứt (giải thể) vào ngày 30-4-1975. Vấn đề là, dưới sự bất tài của đảng CSVN lãnh đạo đất nước từ bao nhiêu thập niên qua, đã làm cho lá cờ vàng sống lại, đại diện cho một quá khứ (tốt đẹp hơn bây giờ).

Mặt khác, trong vấn đề tranh chấp chủ quyền HS và TS cùng hải phận Biển Đông, mọi lý lẽ của VN đưa ra hôm nay đều không thuyết phục, vì nhà nước tiền nhiệm VNDCCH đã nhượng HS và TS cho TQ rồi ! Mặt khác, mọi lý lẽ nhằm chứng minh HS và TS thuộc chủ quyền của VN đều đến từ các lập luận của VNCH. 

Do đó, việc « phất cờ vàng » trong các cuộc biểu tình chống TQ lại hợp lý, vì nó không biểu tượng « quốc gia », mà thể hiện ý chí, biểu tượng một chính nghĩa chủ quyền của VN tại HS và TS.

Dầu vậy, mọi người có quyền quyết định của cá nhân mình, có cầm cờ hay không, cầm cờ đỏ hay cờ vàng.

Lập trường của tôi là quyền lợi của đất nước và dân tộc VN trên hết. 

Lá cờ đỏ sao vàng là lá cờ của VNDCCH, cho dầu thể hiện của máu xương hàng triệu người hy sinh, thì cũng là lá cờ của nhà nước đã từ bỏ chủ quyền của VN tại HS và TS. 

Tôi sẽ không cầm lấy nó. Nếu VN được dân chủ hóa, tôi sẽ đề nghị thay nó.

Nếu có dịp xuống đường, biểu tình, tôi sẽ phất cờ vàng. Khi mà nhà nước CSVN chưa kế thừa di sản chính trị VNCH, thì chỉ đứng dưới lá cờ này, dùng danh nghĩa của thực thể chính trị (quá cố) này, các đòi hỏi về chủ quyền HS và TS mới có căn bản pháp lý.

samedi 10 mai 2014

Lỗi tại ai ?


Việt Nam mất nước, mất lãnh thổ vùng biên giới, mất đảo mất biển ở Biển Đông, một mặt là do tham vọng bành trướng của Trung Quốc, nhưng mặt khác, quan trọng hơn, là do thái độ nô tài của trí thức Việt Nam. 

Thái độ này đặc biệt được phóng đại lên, được truyền tải hết mức trên những cơ quan truyền thông VN, cá nhân cũng như thuộc cơ quan trong nước và nước ngoài, từ hơn thập niên nay. Dưới hiệu quả của nó, người dân Việt Nam được ru ngủ với những bài viết, những trang phóng sự, những bài phỏng vấn… mà nội dung chỉ là những thứ cóp nhặt của người khác, còn không là bóp méo dữ kiện lịch sử, diển giải sai lầm tài liệu pháp lý. Nó chỉ có giá trị của những liều thuốc an thần.

Tham vọng bành trướng của Trung Quốc, người Việt qua các thế hệ đã từng trãi, đã có kinh nghiệm, do đó luôn có các phương pháp hữu hiệu để phòng ngừa. Tham vọng chiếm hữu các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và vùng biển chung quanh của Trung Quốc không phải là một âm mưu, nó đã là một thực tế từ lâu.

Vùng Trường Sa, từ « không có tranh chấp » trở thành « có tranh chấp ». Vùng Hoàng Sa, từ « vùng có tranh chấp » trở thành vùng thuộc chủ quyền của Trung Quốc. Đây là một quá trình tiệm tiến, thành hình sau hàng chục năm. Trong nước hình như không ai biết đến sự đổi thay này. Quả nhiên, đó là « công lao » của học giả nô tài, là do hiệu quả của những liều thuốc an thần.

Bây giờ, khi mà phía Trung Quốc đưa giàn khoan vào vùng biển của VN để khai thác, ta mới thấy sự lúng túng của phía VN, từ lãnh đạo cấp cao nhà nước cho tới tầng lớp trí thức nô tài. Riêng người dân thì, không chừng, vẫn còn đang gật gờ dưới hiệu quả của những thang thuốc ngủ.

Không mấy ai thấy và hiểu được những sự thật éo le được che đậy phía dưới tấm bình phong 4 tốt và 16 chữ vàng. Khi có người nhắc đến bất kỳ điều nào có thể đe dọa đến vẹn toàn lãnh thổ của VN, người đó nhất định là Tàu, là phản động, là phản quốc, là tay sai đế quốc Mỹ...

Lẽ thường, lãnh đạo nghe học giả để có cái nhìn chiến lược. Rốt cục cả nước chỉ toàn nghe những dối gian hay những « lời chim chóc » ! Cái nhìn chiến lược cũng bị méo mó.

Những lời thật đã nói lên. Dĩ nhiên, do « thật », thì nếu không mất lòng thì cũng rất khó nghe. Rốt cục có mấy ai nghe ?

Bây giờ mất nước đã là sự thật. Nếu xét nguyên nhân, ai là thủ phạm, thì lãnh đạo CSVN là những người trọng tội hàng đầu. Tiếp theo là tầng lớp trí thức nô tài, những người sẵn sàng hóa trắng thành đen, biến không thành có để bảo vệ chủ. Sau cùng, thành phần đồng lõa, là các cơ quan truyền thông, các trang web « độc lập » có công đưa những liều thuốc an thần đó đến từng nhà, từng người, làm như 700 tờ báo và hàng trăm đài radio, truyền hình trong nước làm việc chưa đủ hiệu quả.

Việt Nam cô đơn hơn bao giờ hết. Tranh chấp Hoàng Sa không hề được ghi trong DOC (Tuyên bố ứng xử giữa TQ và các nước ASEAN). Các nước ASEAN đứng ngoài, không có ý kiến về vụ này là hợp lý. Còn Hoa Kỳ, từ thập niên 90 đã có tuyên bố « không có ý kiến » về tranh chấp chủ quyền các đảo ở biển Đông, chỉ yêu cầu tôn trọng quyền tự do qua lại và các bên tôn trọng Luật Biển 1982. Việc TQ đặt giàn khoan 981 có vi phạm Luật Biển 1982 không ? Theo tôi là không. Mỹ cũng không thể tuyên bố đi quá những gì đã cam kết trong quá khứ. Còn Nga, họ chỉ mong cho hai bên Việt-Trung sớm đánh nhau để bán thêm vũ khí.

Vì vậy, mất nước trước hết do mình. Sau đó mới là giặc.

jeudi 8 mai 2014

Tiến thoái lưỡng nan.

Vấn đề đã không bi đát nếu ngày xưa MTGPMN và VNDCCH ký tên vào bản tuyên bố của VNCH lên án Trung Cộng xâm lăng Hoàng Sa năm 1974. Quần đảo Hoàng Sa và vùng biển chung quanh nếu vậy đã là « vùng có tranh chấp ».  

Người ta thường nghe tới « vùng tranh chấp » nhưng có lẽ ít người biết lợi hại của nó như thế nào.

Phía Trung Quốc, trước năm 1932, họ có tuyên bố đại khái lãnh thổ cực nam của họ là quần đảo Hoàng Sa. (Trước năm 1909, trong sách sử của họ thì ghi lãnh thổ vùng cực nam của họ là mũi Tam Nha, đảo Hải Nam). Nhưng lần hồi họ « bung » ra, hết lên tiếng đòi chủ quyền chỗ này, rồi đòi chỗ kia. Họ lên tiếng đòi Trường Sa chỉ sau khi Thế chiến thứ II chấm dứt. Mỗi lần họ lên tiếng như vậy là họ biến một vùng « không có tranh chấp » thành một vùng « có tranh chấp ».

Họ thành công là do đảng CSVN thiếu những lãnh đạo có tầm nhìn chiến lược (và không có người thực tâm yêu nước).

Trong quá khứ, lãnh đạo CSVN đã lần lượt nhìn nhận những đòi hỏi của TQ, ít ra la 4 lần : 1/ Ông Ung Văn Khiêm năm 1956, cho rằng « chiếu theo lịch sử của VN thì Tây Sa và Nam Sa thuộc TQ. 2/ Công hàm 1958 của Phạm Văn Đồng nhìn nhận lãnh hải 12 hải lý của TQ (bao gồm Tây Sa và Nam Sa). 3/ Nhìn nhận vùng biển của TQ vì phản đối sự hiện diện của Đệ VII hạm đội Mỹ tại vùng biển Hoàng Sa năm 1965 (trên nhật báo Nhân Dân). 4/ Nhìn nhận có « ba vùng biển tranh chấp » với TQ vào đầu thập niên 90.

Và khi nhìn nhận « có tranh chấp » là nhìn nhận sự hiện diện chính đáng của TQ tại các vùng biển đó. Và khi nhìn nhận tính chính đáng sự hiện diện của bên kia, giải pháp thường là « khai thác chung ».

Vùng biển Trường Sa, theo khuynh hướng « tát nước theo mưa » của các học giả VN qua các bài viết trong quá khứ, rất có thể sẽ được giải quyết theo chiều hướng cộng đồng khai thác với TQ.

Còn vùng biển Hoàng Sa, VN hiện nay không có bất kỳ một bằng chứng nào để chứng minh rằng vùng lãnh thổ đó thuộc VN, ngoại trừ phải dùng đến các bằng chứng cũng như danh nghĩa chủ quyền của Việt Nam Cộng Hòa ngày xưa.

VN cũng không có bất kỳ một thỏa thuận nào với TQ, hay một lời bảo lưu nào để cho rằng vùng biển Hoàng Sa là vùng biển có tranh chấp, ngoại trừ các tuyên bố và tờ Bạch Thư do phía VNCH lập ra (mà MTGPMN và CNDCCH không có ký vào).

Vấn đề là lãnh đạo CSVN chưa hề có tuyên bố kế thừa, cũng như chưa hề có một động thái trước quốc tế nhằm kế thừa danh nghĩa VNCH tại HS và TS.

Khi không chứng minh được vùng lãnh thổ đó (Hoàng Sa) là lãnh thổ của mình, cũng không chứng minh được vùng biển đó « có tranh chấp », sự việc gọi là « tự vệ chính đáng », theo định nghĩa của công pháp quốc tế, sẽ không hiện hữu.

Phía TQ chắc chắn sẽ không có một nhượng bộ nào ở giàn khoan 981. Phía VN nổ súng trước là có nguy cơ chiến tranh mà phía VN là bên gây sự.

Dàn khoan này sẽ đặt ở đây, sẽ khai thác các mỏ có dầu hay khí đốt, nếu có. Sản phẩm của nó sẽ được ống dẫn về đảo đến Hải Nam. Vài tháng sau, công tác khoan mỏ hoàn tất, nó sẽ di chuyển hướng về phía tây, tức phía bờ biển VN, để khoan tiếp. Đó là cách « đánh dấu chủ quyền » của TQ tại vùng biển này. Tiên đoán sẽ là đường trung tuyến giữa các đảo Hoàng Sa (có thể tính từ đảo Tri Tôn) với bờ biển VN.

Và phía TQ, theo thời gian và thứ tự địa lý, họ sẽ làm y như vậy ở vùng biển Trường Sa.

Ta đã thấy hiện nay VN lâm vào thế tiến thoái lưỡng nan. Đánh thì không dám đánh, vì sợ mất hết. Không đánh cũng không xong, vì mang tiếng trước nhân dân là hèn hạ, bán nước.

Vấn đề này tôi đã dự đoán cách đây cả chục năm, đã từng đề nghị phương pháp « kế thừa VNCH » để có danh nghĩa chủ quyền (de jure – trên giấy tờ) ở Hoàng Sa, nhằm đưa khu vực biển này vào thế « vùng biển có tranh chấp ». Bây giờ nước đến chân rồi thì nhảy đi đâu ?

Chỉ còn một nước ba bảy cũng liều là cố gắng làm ầm vụ này lên, sao cho tình hình khu vực thật căng thẳng để tạo chú ý ở quốc tế, sau đó đưa ra một tòa án quốc tế. Đưa ra tòa không phải để được tòa xử mà để đưa VN và một tư thế thoải mái hơn : khu vực biển Hoàng Sa là một khu vực có tranh chấp. Từ đó đi tìm một giải pháp (mất ít nhất) cho VN.


Nhưng điều quan trọng vẫn là tương lai : vùng biển Trường Sa. Nếu không dự liệu trước thì cũng sẽ lâm vào tình trạng ngày hôm nay.

mercredi 7 mai 2014

Kiện cái gì ở Hoàng Sa (2) ?

Nhiều người cho rằng đã đến lúc « chín mùi » để đưa vụ Hoàng Sa ra Tòa Án quốc tế. Thời điểm gọi là « chín mùi » thực ra đã qua từ rất lâu.

Ở Hoàng Sa người ta có thể kiện Trung Quốc ở các việc (ra một trọng tài quốc tế) : 1/ Về hành vi cưỡng chiếm bằng vũ lực của Trung Quốc. 2/ Kiện để giải quyết một tranh chấp về lãnh thổ.

Trước 1975, VNCH không có tư cách pháp nhân (quốc gia), không có ghế đại diện tại LHQ, nên không thể triệu tập Hội đồng Bảo An LHQ để tố cáo hành vi xâm lăng của TQ. VNCH cũng không được sự đồng thuận của MTGPMN (và VNDCCH) khi yêu cầu những thành phần này ký vào văn bản lên án hành vi xâm lăng của TQ. Một mình VNCH không đủ tư cách đại diện cho quốc gia Việt Nam (từ Lạng Sơn đến Cà Mau). Không đạt được sự đồng thuận từ hai lực lượng chính trị này, việc đưa ra một tòa án quốc tế là một ảo tưởng.

Sau năm 1976, VN thống nhứt, CHXHCNVN được gia nhập LHQ năm sau. VN bấy giờ có đầy đủ tư cách để kiện TQ ra một trọng tài quốc tế về việc nước này xâm lăng Hoàng Sa. Lãnh đạo CSVN đã quyết định không thực hiện việc này. Và họ cũng không có một kế hoạch nào để lấy lại Hoàng Sa. Tức là, cho chừng mực nào đó, lãnh đạo CSVN muốn giao Hoàng Sa cho Trung Quốc.

Điều thậm tệ đến vào năm 1988, khi TQ đưa quân chiếm đá Gạc Ma cùng một số đá, bãi chìm khác tại Trường Sa.

Đá Gạc Ma chỉ là một rạng san hô, không phải là đảo, phụ thuộc vào đảo chính là đảo Sinh Tồn. Cụm đảo Sinh Tồn, cùng một số cụm đảo khác ở Trường Sa, đã được nhà nước bảo hộ Pháp tuyên bố chiếm hữu, dựng mốc đánh dấu chủ quyền đồng thời gởi thông báo cho các cường quốc khác về việc chiếm hữu này. Công việc tuyên bố chủ quyền và chiếm hữu các đảo TS đã diễn ra tốt đẹp, không gặp sự phản đối nào, kết thúc vào năm 1933.

Theo tập quán quốc tế, TQ hay bất kỳ một nước nào khác không thể chiếm đá Gạc Ma, cho dầu trên đây không có người trấn giữ. Đảo Sinh Tồn thuộc VN thì các đá, cồn, bãi, đảo phụ… đều phụ thuộc vào đảo chính là đảo Sinh Tồn (theo án lệ đảo Palmas của Tòa Trọng tài 1928).

Sự việc xảy ra, TQ cho quân đánh chiếm đá Gạc Ma cùng một số đá khác. VN đã không có phản ứng thích hợp đối với hành vi xâm lăng này của TQ. VN lúc này có đầy đủ tư cách pháp nhân, có thẩm quyền triệu tập Hội đồng Bảo an LHQ để phản đối TQ, hay có đủ thẩm quyền để kiện TQ ra trước một tòa án quốc tế. Lãnh đạo VN đã chọn thái độ ngu xuẩn nhứt, là không làm gì cả (ngoài việc cho phát ngôn nhân… phun nước bọt).

Phía VN phun nước bọt (và tiếp tục phun cho đến nay), phía TQ sau khi chiếm thì xây dựng, và tiếp tục xây dựng, đá Gạc Ma (và các đá khác) trở thành một đảo (nhân tạo). Đá Gạc Ma nay mai sẽ trở thành một đảo lớn, có đường bay cho phi cơ quân sự. Trong chừng mực, đảo Sinh Tồn đã trở thành một đảo phụ của Gạc Ma. Tức là, trên phương diện địa lý, đảo Sinh Tồn phụ thuộc vào « đảo » Gạc Ma. Ưu thế pháp lý của VN (mà VN không biết sử dụng) đã chuyển nhẹ nhàng sang Trung Quốc.

Vừa rồi TQ có đưa giàn khoan đặt kế cận đảo Tri Tôn (cách đảo 18 hải lý), theo hướng tây-nam, cách đảo Lý Sơn của VN khoảng 119 hải lý. Vấn đề Hoàng Sa « nóng » lên lại. Nhưng các học giả của VN (và vài học giả quốc tế) hình như có vấn đề về mắt, không thấy quần đảo Hoàng Sa với đảo Tri Tôn nằm chình ình, mà chỉ thấy « đường lưỡi bò » !

Bên BBC có dẫn lời học giả Ian Storey, thuộc Viện Nghiên cứu Đông Nam Á ở Singapore như vầy :

Việc TQ cho đặt giàn khoan trên thềm lục địa của VN là chỉ dấu rằng Trung Quốc đang khẳng định quyền thăm dò và khai thác tài nguyên trong đường chín đoạn của mình cho dù nguồn tài nguyên đó có nằm trong EEZ của quốc gia khác hay không.

Xin thưa rằng vị trí giàn khoan cách đảo Lý Sơn của VN là 119 hải lý, nhưng nó chỉ cách đảo Tri Tôn (thuộc quần đảo Hoàng Sa) có 18 hải lý.

Nếu đảo Tri Tôn được hưởng qui chế « đảo » theo định nghĩa của Luật biển, tức là có lãnh hải 12 hải lý, (vùng tiếp cận lãnh hải 12 hải lý) và vùng Kinh tế độc quyền 200 hải lý. Nếu nó không được nhìn nhận là đảo, thì nó cũng có lãnh hải (và vùng tiếp cận lãnh hải) 24 hải lý.

Vấn đề ở đây sẽ là việc chồng lấn vùng biển giữa hai đảo (Lý Sơn và Tri Tôn) chứ không liên quan gì đến đường 9 đoạn chữ U.

Tức là không hề có vụ « đường chín đoạn » như ý kiến của TS Ian Storey, mà là vấn đề tranh chấp về chủ quyền Hoàng Sa giữa VN và TQ.

Có học giả VN lên tiếng rằng đảo Tri Tôn là « bãi ngầm » nên nó không có hiệu lực biển. Điều này hoàn toàn sai. Có thể đảo Tri Tôn chưa thể là đảo để được hưởng qui chế của « đảo » theo điều 121 của Luật Biển 1982. Nhưng chắc chắn một điều là nó không phải là « bãi chìm ». Mặt khác, nếu tính hiệu lực các đảo khác ở HS, thì vị trí của giàn khoan 981 cũng ở vùng chồng lấn giữa các đảo này và bờ biển VN.

Nhưng việc bàn luận đảo Tri Tôn là đảo hay bãi chìm là lạc đề. Vì cấu trúc địa lý này có là cái gì thì nó cũng thuộc quần đảo Hoàng Sa mà quần đảo này của Việt Nam từ bao đời nay rồi !

Như thế, đối phó với việc TQ đưa giàn khoan vào khai thác mà chỉ nói về « đường lưỡi bò », nói hiệu lực các đảo, là lạc đề, nếu không nói là cố ý đánh lạc hướng dư luận, hướng mũi căm thù của nhân dân VN về hướng TQ. Đây là thái độ không lương thiện. Trọng tâm của vấn đề : Hoàng Sa là của VN và làm thế nào để lấy lại Hoàng Sa.

Luật pháp quốc tế không nhìn nhận tính chính đáng của việc thụ đắc lãnh thổ bằng vũ lực. Chủ quyền của Trung Quốc trên quần đảo Hoàng Sa, theo quốc tế công pháp, là không được nhìn nhận. Tức là việc cho khai thác tại khu vực đảo Tri Tôn là xâm phạm lãnh thổ của VN.

Vậy Việt Nam có thể  đứng ra kiện Trung Quốc về việc này ?

Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam có tư cách pháp nhân của một « quốc gia », là đối tượng của công pháp quốc tế. Nhưng thực thể này không có tư cách pháp nhân để kiện Trung Quốc ở Hoàng Sa.

Lý do : 1/ Trung Quốc chiếm Hoàng Sa trên tay của VNCH chứ không phải trên tay CHXHCNVN. 2/ VNDCCH lúc đó không lên tiếng phản đối việc TQ xâm lăng, cũng không ký tên vào bản tuyên bố lên án TQ của VNCH, VN hôm nay đã mất tố quyền.

CHXHCNVN chỉ có thể đứng tên kiện TQ ở vấn đề Hoàng Sa khi và chỉ khi kế thừa di sản VNCH một cách hợp pháp.

Kế thừa bằng cách nào ?

Tôi đã nói đi nói lại vấn đề này ít ra từ 15 năm nay. Kế thừa qua hai bước : 1/ hòa giải quốc gia (hay hòa giải dân tộc, tùy cách gọi – réconciliation nationale), 2/ Dân chủ hóa chế độ.

Hòa giải quốc gia để kế thừa danh nghĩa VNCH. Dân chủ hóa chế độ để đoạn tuyện với quá khứ VNDCCH (cùng với công hàm 1958, tuyên bố của Ung Văn Khiêm…).

Chỉ khi có danh nghĩa chủ quyền ở Hoàng Sa, danh chánh thì ngôn (và hành) mới thuận, VN hôm nay có thể kiện TQ về vấn đề chủ quyền Hoàng Sa.

Nhiều người cũng đã nói đến vấn đề « tự vệ ». Nhưng việc tự vệ chỉ chính đáng khi VN chứng minh được Hoàng Sa thuộc chủ quyền của VN.

VN đệ đơn kiện TQ ra tòa CIJ, hô hào triệu tập Hội đồng Bảo An LHQ, hô hào triệu tập Đại hội đồng LHQ… về hành vi bành trướng, xâm lấn của TQ, thì việc « tự vệ » của VN mới mang màu sắc « chính đáng », được sự hỗ trợ của dư luận thế giới.

Nếu VN kiện TQ ra Tòa án về Luật Biển về « hiệu lực các đảo », trong chiều hướng giảm thiểu hiệu lực các đảo HS, điều này cũng khả thi, nhưng trong chừng mực nào đó chính thức công nhận chủ quyền của TQ tại HS.


VN vẫn có lối thoát ở Hoàng Sa, có điều trí thức VN, lãnh đạo hôm nay có dám đặt quyền lợi của đất nước lên trên quyền lợi của cá nhân và đảng phái hay không ?

dimanche 20 avril 2014

Pháp quyền hay pháp trị ?

Thuật ngữ « Etat de droit » trong tiếng Pháp nguyên thủy bắt nguồn từ khái niệm  « Rechtsstaat », xuất hiện vào khoảng đầu thế kỷ 20 ở Đức, có ý nghĩa là một « hệ thống định chế (thiết lập quốc gia) mà trong đó mọi quyền lực đều phải tuân theo pháp luật ». Ta có một khái niệm tương đương (xuất hiện từ thế kỷ 17) « Rule of law » trong xã hội Anh-Mỹ.

Việt Nam trước sau có đến hai cụm từ « pháp quyền » và « pháp trị », là từ Hán-Việt, « nhà nước pháp quyền » hay « nhà nước pháp trị », để dịch thuật ngữ này.

Tại miền Nam trước 1975, cả hai thuật ngữ « pháp quyền » và « nhà nước pháp trị » đã được sử dụng với hai ý nghĩa luật học rất khác nhau. Các sách Luật, do các giáo sư thuộc Đại học Luật phiên dịch ra tiếng Việt, đều dịch « Etat de droit » là « nhà nước pháp trị. Còn « juridiction » các tự điển Pháp-Việt dịch « pháp quyền », tức quyền xét xử. (Các tự điển Pháp-Hoa trong cùng thời kỳ cũng đều dịch như vậy : juridiction - pháp quyền).

(Trường Luật ở miền Nam trước 75 nguyên thủy là trường « Cao đẳng Luật học » ở Hà Nội (do Pháp lập vào đầu thế kỷ 20). Trường này phụ thuộc vào trường Luật Paris. Sau 1954, Việt Nam chia đôi đất nước, trường « di cư » vào nam, độc lập với Paris, trở thành « Luật khoa đại học đường » trực thuộc Viện Đại Học Sài Gòn, với ba phân khoa chính là tư pháp, công pháp và kinh tế.)

Các tự điển Pháp Việt xuất bản sau này thì dịch « juridiction » là « quyền tài phán ».

Điều ghi nhận : chữ « quyền » ở các trường hợp trên là « droit, right », như « nhân quyền », « phụ nữ quyền »… chứ không phải là « quyền » của « quyền lực » (pouvoir, power). Cũng không phải là « luật » (loi, law) trong « hệ thống luật » (ở các định nghĩa về « pháp quyền » của các tự điển Việt Nam sau năm 1992).

Thuật ngữ « pháp trị » đã trở thành quen thuộc với giới luật gia và học giả miền Nam cho tới năm 1975. Một số tác giả hậu duệ, (kế thừa), hay xuất thân từ VNCH cũ vẫn còn thói quen sử dụng từ « nhà nước pháp trị » cho đến hôm nay.

Trong cùng thời gian, ở miền Bắc, phân khoa Luật bị « khai tử » trong danh sách các phân khoa đại học. Trường « Cao đẳng Luật học » đổi tên thành trường Chính trị xã hội. Nhưng một thời gian sau thì trường này cũng bị xóa sổ.

Không có một tài liệu nào cho thấy miền Bắc sử dụng từ « pháp quyền » hay một từ tương đương để dịch khái niệm về nhà nước gọi là « Etat de droit » hay « Rule of law ». Khái niệm này không hề có ở miền bắc Việt Nam. Điều này cũng đúng cho tất cả các nước thuộc khối cộng sản cũ.

Chỉ đến thập niên 90 từ ngữ « nhà nước pháp quyền » mới xuất hiện trong các bài viết chính trị. Nó chính thức được đưa vào bản Hiến pháp (sữa đổi) năm 2001.  

Câu hỏi đặt ra, dịch cách nào là đúng, nhà nước « pháp trị » hay nhà nước « pháp quyền » ?

Nhắc lại một số trường hợp khác biệt về nhận thức và diễn đạt của hai bên Nam và Bắc Việt Nam trong thời kỳ chiến tranh : khi miền Nam gọi là lính « thủy quân lục chiến » thì miền Bắc gọi là « lính thủy đánh bộ », miền Nam gọi máy bay « trực thăng » thì miền Bắc « máy bay lên thẳng », miền Nam viết « phản ảnh » thì miền Bắc viết « phản ánh », miền Nam gọi là « nhà hộ sinh » thì miền Bắc gọi là « xưởng đẻ » v.v…
Ta thấy cách nói nào cũng đúng.

Nhưng ở trường hợp « pháp quyền » và « pháp trị » vấn đề hoàn toàn khác. Có hai lãnh vực cần xem xét.

1/ Vấn đề ngôn từ :

1.1 Cách dịch tương đương :

Nền văn minh Trung Hoa, (mà Việt Nam ảnh hưởng một cách sâu sắc), không hề có khái niệm về quyền lực quốc gia như là « hệ thống định chế mà trong đó mọi quyền lực quốc gia đều phải tuân theo pháp luật », theo như định nghĩa của « Rule of law  – Etat de droit ». Các dân tộc Trung Hoa và Việt Nam chưa từng có kinh nghiệm sống trong một xã hội dân chủ tự do (démocratie libérale) mà chỉ trong thể chế chính trị này « Etat de droit - Rule of law » mới có thể xây dựng.

Như vậy, ngôn ngữ Trung Hoa (Hán) và Việt không có từ ngữ nào tương đương để dịch « Rule of law  – Etat de droit ».

(Ta có trong ngôn ngữ Việt Nam những từ ngữ tương đương để dịch một số từ đặc biệt tiếng Pháp. Thí dụ « L’Académie française » thì dịch là « Pháp quốc Hàn lâm viện », còn gọi là « viện Hàn lâm Pháp ». « Hàn lâm » nghĩa nguyên tiếng Hán là « rừng bút », là tên một định chế học thuật VN thời xưa. Tương ứng với một định chế học thuật Pháp, có tên là (khu vườn Akadêmos ). « Académie » là một danh từ riêng, làm sao dịch nghĩa được ? TQ dịch là « Pháp quốc Học thuật viện »).

1.2 Cách dịch theo ngữ nghĩa :

Về thuật ngữ « Rule of law - Etat de droit », tự điển tiếng Hoa dịch là “pháp quy 法規” và “pháp trị 法治”.
Việt Nam hiện nay dịch « Rule of law - Etat de droit » là “pháp quyền”. Cả hai từ “pháp” và “quyền” đều có gốc Hán.

Mạnh Tử có nói: “Nam nữ thụ thụ bất thân, lễ dã, tẩu nịch viên chi dĩ thủ, quyền dã 男女授受不親, 禮也嫂溺援之以手,權也 ». Nam nữ trao và nhận không được trực tiếp gần gũi với nhau, đó là lễ; chị dâu bị đắm chìm đưa tay ra vớt, đó là “quyền”.

Chữ  “quyền” bắt nguồn từ “lễ” của Khổng giáo.

Chữ « quyền » trong tiếng Hán chỉ có một cách viết duy nhất, vừa chỉ cho quyền (droit, right) trong quyền lợi, hay quyền (pouvoir, power) trong quyền lực, hay luật (loi, law) trong « hệ thống luật ». Các chữ “quyền” trong quyền lực, chính quyền, nhân quyền, tam quyền phân lập… đều có cùng một cách viết.

Như thế dùng chữ “quyền”, với đặc tính “lễ” (nhân trị), để dịch một thuật ngữ liên quan đến “pháp lý” (pháp trị), « Rule of law - Etat de droit », là không chính xác.

Chủ trương của Khổng giáo là “nhân trị” và “đức trị” chứ không là pháp trị.

Như thế, dịch chính xác theo ngữ nghĩa thì « Rule of law - Etat de droit » phải dịch là nhà nước “pháp trị” chứ không thể là nhà nước “pháp quyền”.

Cũng có giải thích cho rằng dùng từ “pháp quyền” vì Trung Hoa thời thuợng cổ đã có quan niệm về “pháp trị”. Thật vậy, phái “Pháp gia” phản biện chủ trương “nhân trị” của Khổng, đưa ra thuyết “pháp trị”, lấy luật pháp để cai trị. Nhưng “pháp trị” ở đây là pháp luật để cho ông vua sử dụng để cai trị người dân. Tức pháp luật là công cụ của người lãnh đạo. Người lãnh đạo là luật, còn không thì ở trên luật. Đây là chế độ “dụng pháp trị” “rule by law”. Trong khi đặc điểm của một nhà nước pháp trị là luật pháp phải độc lập với chính quyền và tất cả mọi người, kể cả người lãnh đạo, đều ở dưới và chịu sự chi phối của pháp luật.

2/ Vấn đề áp dụng “pháp quyền” hay “pháp trị” trong nhà nước.

Nếu ta xét đến hiến pháp của các nước dân chủ tiêu biểu như Mỹ, Pháp, Đức… ta không hề thấy qui định nhà nước phải theo một thể chế chính trị nào cả mà chỉ ghi là phải tôn trọng ý nguyện của người dân. Cũng không thấy ghi là “nhà nước pháp trị” hay “nhà nước pháp quyền”, mà chỉ qui định mọi người đều bình đẳng trước pháp luật.

Các điều này không hề thấy ở các chế độ độc tài.

Như đã viết trên, các quốc gia xây dựng nhà nước trên nền tảng lý thuyết Mác-Lê không hề có khái niệm về một nhà nước pháp trị. Chỉ sau khi khối XHCN sụp đổ, các nước như Trung Quốc và Việt Nam bắt đầu bàn về một « Rule of law - Etat de droit ». Điều này cần thiết vì lãnh đạo tại đây thấy cần thiết phải gia nhập “sân chơi” WTO để phát triển đất nước. Mà điều kiện tiên quyết để gia nhập WTO là quốc gia phải có một hệ thống pháp lý minh bạch, tức phải có một “nhà nước pháp trị”.

Đại hội đảng CSTQ năm 1997 quyết định xây dựng một “nhà nước pháp trị xã hội chủ nghĩa” do Giang Trạch Dân chủ xướng. Ông này chủ trương “dĩ pháp trị quốc 以法治国 », “kiến thiết xã hội chủ nghĩa pháp trị quốc gia 建设社会主义法国家 » (hiểu theo tiếng Việt là xây dựng nhà nước pháp trị xã hội chủ nghĩa).  Ta cũng thấy các thuật ngữ khác như “pháp trị văn học”, “pháp trị hóa”… Đến thời Hồ Cẩm Đào, ông này chủ trương “Xã hội hài hòa”, nhưng không đi ra ngoài tư tưởng “nhà nước pháp trị xã hội chủ nghĩa” :  “hài hòa xã hội tựu thị pháp trị xã hội  社会就是社会法治 », tức là “xã hội hài hòa tức là xã hội pháp trị”.
Điều 5 Hiến pháp TQ (tháng 3-1999) qui định “nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa cố gắng lèo lái đất nước phù hợp với pháp luật đồng thời xây dựng một nhà nước pháp trị xã hội chủ nghĩa”.

Từ những hứa hẹn này Trung Quốc được chấp thuận gia nhập vào WTO 11-12-2001.

Còn VN, từ lâu lãnh đạo CSVN nhất cử nhất động đều “nhái” theo đàn anh TQ. Khi TQ ra khái niệm “kinh tế xã hội chủ nghĩa thị trường” hoặc chủ trương “xã hội chủ nghĩa theo màu sắc TQ” thì VN cũng bắt chước y như vậy. Có điều VN đổi chữ một chút để trở thành “kinh tế thị trường theo định hướng XHCN”. Vần đề là nội hàm hai khái niệm này giống nhau như đúc.

Vì thế, khi TQ đưa ra khái niệm “nhà nước pháp trị xã hội chủ nghĩa“ thì VN không thể không nhái theo.
Thay đổi một chút, Việt Nam chính thức sử dụng cụm từ “pháp quyền xã hội chủ nghĩa”, theo điều 2 Hiến pháp (sửa chữa) 2001.

Dầu vậy việc này vẫn không giúp VN sớm gia nhập WTO. Có lẽ là do “nhập nhằng” ngôn từ hơn là thực chất trọng pháp theo đòi hỏi của tổ chức này. Bởi vì, thực chất, cái gọi là “nhà nước pháp trị xã hội chủ nghĩa“ ở TQ và “nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa“ ở VN đều có chung một bản chất : dụng pháp trị (rule by law). Tức là giai cấp lãnh đạo đứng trên, hay đứng ngoài pháp luật, đồng thời pháp luật chỉ là công cụ để bảo vệ chế độ.

3/ Kết luận:

Thực ra dịch thế nào không quan hệ, cái bình nếu có tròn hay méo thế nào thì đâu đáng quan tâm? Điều quan trọng là rượu đựng trong đó ngon hay dở ? “Lính thủy đánh bộ” thì có khác gì “thủy quân lục chiến” ?

Cách dịch của các học giả XHCN về “nhà nước pháp quyền” thay vì “nhà nước pháp trị” cũng chỉ là thói quen bắt chước, nhưng cố làm làm cho khác người. Tiếc là việc “làm khác người” kỳ này không dễ dàng như cái “xưởng đẻ”.

Các từ ngữ “xưởng đẻ”, “lính thủy đánh bộ” v.v… lần hồi được thay thế bằng những từ hoa mỹ hơn. Thì mình cũng hy vọng nay mai “pháp quyền” cũng sẽ đổi thành “pháp trị”. Vấn đề là các học giả VN có nhận thức được hay không ?


Một vài thí dụ về để vấn đề rõ ràng hơn : Người ta nói « nhà nước công an trị », « nhà nước độc tài đảng trị », « nhà nước độc tài gia đình trị »…. Chứ không ai gọi « nhà nước công an quyền », « nhà nước độc tài đảng quyền », « nhà nước độc tài gia đình quyền » … Vì vậy, khi một nhà nước xây dựng lên bằng một hệ thống định chế pháp lý, mọi quyền lực trong quốc gia đều chịu kiểm soát của luật pháp, thì nhà nước đó phải gọi là « nhà nước pháp trị » chứ không thể gọi khác.

Ta cũng không thể đánh tráo khái niệm « quyền » trong « pháp quyền » với các mô thức quyền lực đã được thành hình trong lịch sử tổ chức xã hội của con người. Như « thần quyền » (quyền lực thuộc về « đấng thần linh tối cao »), « thế quyền »  (quyền lực tập trung vào một người, hay một tập thể con người) hoặc phong kiến đế quyền (quyền lực tập trung vào tay ông vua). Khi nói về « Etat de droit – Rule of law » là ta nói trên căn bản một nền cộng hòa, quyền lực quốc gia thuộc về người dân. (Dĩ nhiên, trường hợp ngoại lệ, Anh Quốc, với nền quân chủ đại nghị). Ở đây quyền lực bị "pháp luật" giới hạn, kiểm soát, chứ không phải (và không bao giờ) quyền lực tập trung vào "pháp luật", như vào tay ông vua (đế quyền) hay vào đấng thần linh tối cao nào đó (thần quyền). 

Trong khi chờ đợi một sự thống nhất về cách dùng từ, thiển nghĩ nên thêm “dân chủ” ở phía trước “pháp trị”, thí dụ: “ở các nước dân chủ pháp trị…” để tránh những ngộ nhận có thể.



Ghi chú: Các từ Hán Việt trong bài được kiểm chứng, cũng như chữ "quyền" thì lấy nguồn từ đây: http://hanviet.org/


mardi 15 avril 2014

Văn hóa thịt chó.

Con người thời ăn lông ở lỗ không khác con thú, có cái gì ăn cái nấy, tranh dành, chém giết nhau để có lấy cái ăn. Ăn để sống. Bản năng sinh tồn hướng dẫn hành động. Con chó là món ăn, cũng như con mèo, con chim, con chuột…. Không có tình nghĩa gì giữa con người với món ăn chui vào bụng, bất kể con đó là con gì…

Nước Pháp, đến giữa thế kỷ thứ 19, vẫn còn những cửa hàng bán thịt chó. Ở Đức, cửa hàng bán thịt chó cuối cùng chỉ đóng cửa vào năm 1940. Tức là, dân Châu Âu cũng ăn thịt chó (như dân Việt Nam và các giống dân khác trên thế giới).

Trong khi những người theo Hồi giáo không ăn thịt heo, cũng không ăn thịt chó. Kinh Coran cấm ăn thịt những con thú « có răng nhọn như răng chó » (và con thú hạ đẳng là con heo).  

Người Ấn Độ không ăn thị bò. Đạo Ấn xem con bò là con thú thiêng liêng, là « mẹ » của trái đất.

Người theo đạo Hồi, hay người theo đạo Ấn, kiêng ăn heo, ăn bò… là vì lý do « tôn giáo ». Không ăn heo vì họ quan niệm con heo là con vật « đê tiện, hạ đẳng ». Không ăn bò vì quan niệm con bò là « mẹ ». (Ai lại đi ăn thịt « mẹ » mình bao giờ ?)

Việc kiêng ăn bò, heo là một quan niệm riêng biệt về đạo đức. Trên thế giới, đa số con người đều ăn thịt heo và thịt bò. Không ăn thịt heo, thịt bò như vậy là một ngoại lệ về văn hóa.  

Do tôn trọng nét đặc thù văn hóa, không ai du lịch đến các nước Hồi giáo lại gọi món thịt heo trong các nhà hàng. Tương tự, cũng không ai đi Ấn Độ mà đòi ăn thịt bò.

Ở Pháp, nói riêng, và Châu Âu nói chung, không có điều luật nào cấm ăn thịt chó mà chỉ có các điều luật « cấm hành hạ súc vật ». Sắc lệnh 2004-416 cho biết qui phạm, điều lệ phải tôn trọng cho những người muốn nuôi chó, mèo…

Tức là, trên lý thuyết, người Châu Âu, nếu muốn, họ vẫn có quyền ăn (và bán) thịt chó. Điều khó khăn là người ta không có quyền giết chó, mà chỉ có thể làm thịt con chó (của mình) khi nó già và chết.

Việc bán thịt chó cũng vậy. Người ta không cấm bán, mà chỉ yêu cầu ghi rõ nguồn gốc thịt đó là thịt gì ? xuất xứ từ đâu ?

Vấn đề là khi con người khi văn minh hơn, biết được mối giềng đạo đức, biết điều luân lý, biết phân biệt đúng sai, phải quấy, điều nhân việc nghĩa… thì không ai ăn thịt chó. Đơn giản vì con chó là con vật có nghĩa, trung thành, sống chết với chủ. Con chó trở thành bạn với con người. Không ai giết bạn mình để ăn thịt bao giờ. Đây là một vấn đề thuộc phạm trù « đạo đức » xã hội.

Khi không còn ai ăn thịt chó, ra luật cấm để làm gì khi không còn ai phạm luật ? Luật ở đây là cấm việc hành hạ thú vật.

Bên Trung Quốc, từ những năm 2000 đã có những nghiên cứu (của nhà nước) khuyến cáo việc cấm giết và bán thịt chó. Lý do nhằm bảo vệ hình ảnh của nước Trung Hoa trên thế giới. Năm 2004 TQ đã có dự án về Luật cấm giết và ăn thịt chó. Mức phạt có thể lên tới 5.000 Nguyên.

Không thể biện hộ rằng « thịt nào thì không là thịt », để so sánh việc ăn thịt chó với việc kiêng ăn thịt heo, thịt bò.

Có hiện hữu một ngoại lệ về văn hóa (tín ngưỡng), người ta cần tôn trọng, như không ăn thịt heo khi đến các nước Hồi giáo, hay không ăn thịt bò khi đi Ấn Độ (cũng như không ai « ăn mặn » khi vào chùa). Tôn trọng nét đặc thù văn hóa của một dân tộc khác là sự tự trọng, là thái độ của một người văn minh, có học, chứ không phải là một điều bắt buộc.

Trong khi việc ăn thịt chó ở Việt Nam không phải là một ngoại lệ văn hóa. Ngày xưa, chỉ người nghèo lắm, không có thịt để ăn, người ta mới ăn thịt chó.

Không thể lấy việc « ăn thịt chó » của một nhóm người để làm một « tiêu chuẩn chung », cho là « truyền thống » của cả dân tộc. Nhất là cái « truyền thống » này có thể ảnh hưởng đến thanh danh (và kinh tế) cho cả nước.

Nam Hàn, một số dân ở đây cũng có thói quen ăn thịt chó. Nhưng trước sự chỉ trích của dư luận thế giới, nhà nước Nam Hàn đã có những luật lệ về việc tiêu thụ thịt chó, (như buộc phải nuôi chó riêng để hạ thịt), hầu làm giảm bớt tính « tàn nhẫn » trong việc giết chó.

Dĩ nhiên lãnh đạo TQ và Nam Hàn rất sợ việc hàng hóa của họ bị tẩy chay vì các lobby bảo vệ súc vật. 

Cách đây không lâu, các hội bảo vệ súc vật đã vận động việc cấm giết thú lấy lông (làm áo). Việc này thành công, các tài tử, người mẫu danh tiếng đều ủng hộ, không những không còn ai mặc áo lông, mà việc bán áo lông cũng trở thành khó khăn trong các của hàng. Các của hàng bán áo lông bị tẩy chay, phá sản. Các hãng lớn phải thay đổi chính sách (không sử dụng lông thú nữa) trong việc sản xuất áo lạnh.

Các nước Trung Quốc, Nam Hàn… có "truyền thống" ăn thịt chó đấy chứ. Nhưng họ sẵn sàng hy sinh "truyền thống" này, vì tai tiếng là một lẽ, mà vì kinh tế lẽ khác.

Từ lâu Việt Nam đã bị cô lập trên thế giới. Việc hội nhập đòi hỏi VN phải phục tùng nhiều khuông thuớc, luật lệ về kinh tế, hoặc những giá trị phổ cập về nhân quyền. Rồi còn sẽ có vấn đề bảo vệ súc vật. Ta thấy hình ảnh của các vị nguyên thủ quốc gia Mỹ, Nga, các nước Châu Âu… khi công bố trước công chúng, họ thường đứng chung với con thú yêu thuơng của họ là con chó, con mèo…

Yêu thuơng thú vật, thân cận với thú vật lần hồi trở thành một chuẩn mực chung của nhân loại.

Hình ảnh của người VN bấy lâu nay đã bị thuơng tổn, nhất là ở các nước chung quanh. Nạn ăn cắp, nạn trồng cần sa, nạn mãi dâm, nạn chen lấn, nạn khạc nhổ, nạn ồn ào… đã làm cho thể diện của dân tộc này không còn gì ! Đi tới đâu ăn cắp tới đó. Tầng lớp nào cũng ăn cắp. Cho đến Kampuchia cũng trương bảng viết bằng chữ VN kêu gọi đề phòng ăn cắp, chứ đừng nói tới Thái Lan, Mã Lai, Singapour, Nhật… Họ viết bằng chữ VN chắc không phải là để cho dân của họ đọc rồi ! Ở các nước Châu Âu, như Anh, Đức, các nước Đông Âu… người Việt đã soán ngôi băng đảng mafia địa phương về nạn trồng cần sa. Đỉ điếm Việt Nam đã tràn đầy vỉa hè Mã Lai, Singapour… Cái xấu kể ra không hết !

Lại thêm nạn ăn thịt chó. Một năm người VN ăn 5 triệu con chó (và uống 3 tỉ lít bia) ! Đây là con số kinh khủng. Tác hại tâm lý cũng kinh khủng, không phải là « bom tấn », mà là bom nguyên tử !

Tiếp tục đà này VN không chỉ sẽ bị gạt ra ngoài của dòng tiến hóa chung của nhân loại, mà còn bị xem là « cặn bã » dưới mắt các dân tộc láng giềng.

Theo tôi, vì quyền lợi chung của số đông (và tất cả), nhà nước cần phải có một bộ luật để điều hòa việc giết và ăn thịt chó. Nếu nhà nước không cấm được nạn ăn cắp, mãi dâm, khạc nhổ, chen lấn… thì có thể « luật hóa » việc giết và ăn thịt chó. Các nước TQ và Nam Hàn làm được, thì VN làm được.  


vendredi 4 avril 2014

Nói về lòng yêu nước chân chính.


Viết cho thầy giáo Đinh Đăng Định. Một người vừa hy sinh cho đất nước.

Đất nước Việt Nam nghèo, người dân Việt Nam mang đủ chứng hư tật xấu, có thể là do người Việt mình có một số ngộ nhận về « lòng yêu nước ».

Thế nào là yêu nước ?

Phải chăng yêu nước là việc hy sinh không ngần ngại, mọi thứ, có thể là cả cuộc đời mình, cho « đất nước » ?
 
Hay yêu nước là yêu xã hội chủ nghĩa ?

Hay « yêu nước » là làm mọi cách để đất nước mình giàu hơn, tốt đẹp hơn ?

Nếu không lầm, từ bao nhiêu đời nay, người dân Việt Nam chỉ biết « yêu nước », giữ nước theo lối thứ nhất, « đồng lòng cùng đi hy sinh thiết gì thân sống… », « đường vinh quang xây xác quân thù » để « nước non Việt Nam ta vững bền »…

Cũng như phần lớn các dân tộc Châu Á, quan niệm về « quốc gia » hiện đại đến với người Việt rất trễ, chỉ sau Thế chiến II. Trước đó đất nước là của giòng họ ông vua, là của triều đình… mà thân phận người dân trong đất nước, xã hội đó chỉ là « con dân cái kiến ».

Là con kiến, dĩ nhiên không có quyền lợi, mà chỉ có nghĩa vụ (hơi bị nhiều !) Con trai thì phải « trung hiếu làm đầu », con gái thì phải « tiết hạnh ». Trung ở đây là « trung » với ông vua, « tôi trung không thờ hai chúa ». Chết thì chịu chết chứ không thể hai lòng. Thuớc tấc đo lòng « trung » là « quân xử thần tử thần bất tử bất trung ». Vua bắt chết thì phải « đi chết », không chết là không trung thành. Còn thân phận phụ nữ trong xã hội này chỉ là cái bóng của người đàn ông. Con kiến đã không ra gì, làm cái bóng của con kiến thì còn nói được điều chi ?

Yêu nước trong thời kỳ này đồng nghĩa với lòng trung thành với ông vua. Giữ nước trong chừng mực là bảo vệ quyền lợi cho ông vua.

Chế độ vương quyền sụp đổ. Chế độ cộng sản lên thay thế. Quan niệm mới mẻ về đất nước, về lòng « yêu nước » xuất hiện.

Đất nước bây giờ thuộc về toàn dân nhưng yêu nước là « yêu xã hội chủ nghĩa ».

Nhưng người ta có thể yêu thuơng, chăm sóc mảnh vườn, thửa ruộng của mình, chứ làm gì có thể yêu thuơng cái gọi là « xã hội chủ nghĩa » ?

Xã hội chủ nghĩa là một cái gì đó mơ hồ, nếu không nói là không hiện hữu.

Khi nói « Yêu nước là yêu xã hội chủ nghĩa », lòng yêu nước này dĩ nhiên cũng mơ hồ, không đo lường được.

Lòng yêu nước được lý thuyết Mác-Lê nhập nhằng với lòng căm thù. Lòng yêu nước mơ hồ quá, không dễ khích động. Và lòng căm thù rất dễ kích động : căm thù giai cấp, căm thù giặc Mỹ, căm thù trí phú địa hào, đấu tố thành phần phản động.

Yêu nước không mấy chốc được đánh tráo bằng lòng căm thù.

Quan niệm về « trung thành » được thay thế bằng « giác ngộ cách mạng ». Đối nghịch với « trung thành » là « phản động », là « thế lực thù địch ».

Xưa kia đất nước thuộc sở hữu của giòng họ, nay thuộc về « đảng ».

Thân phận người dân trong chế độ này cũng vẫn là « cái kiến », không có quyền hạn gì, chỉ có nghĩa vụ, như trong chế độ vương quyền.

Trong số những người cầm súng lên đường « giải phóng miền Nam », có bao nhiêu người lên đường vì « lòng yêu nước » ? Bao nhiêu người lên đường vì lòng căm thù đế quốc Mỹ tàn ác ? Có bao nhiêu người bị « cưỡng ép » yêu nước lên đường ?

Như sợ lòng căm thù chưa đủ lửa, chủ nghĩa thi đua, chủ nghĩa anh hùng xuất hiện để chế dầu thêm. Tình yêu luôn có giới hạn, mà lòng căm thù thì không có bến bờ. Lửa tình cháy rồi thì tắt. Lửa thù cháy mãi, từ đời con đến đời cháu, chưa rửa thù là chưa nguôi ngoai. (Nếu tình yêu không bến bờ thì con người đâu cần đến Phật, Chúa… dạy yêu thuơng ?)

Ai cũng cũng sẵn sàng chứng minh lòng « yêu nước » của mình, làm « dũng sĩ giết giặc », thể hiện qua việc liều lĩnh dám hy sinh đến cái cuối cùng. 

Những thứ này chỉ thể hiện lòng « căm thù » tiềm ẩn trong mọi con người, chứ không thể hiện lòng yêu nước. Đâu có ai chết vì xã hội chủ nghĩa, một thứ chưa ai thấy, phải không ?

Hòa bình vãn hồi, người lãnh đạo CSVN cũng hô hào « lòng yêu nước » để « xây dựng đất nước ». Dĩ nhiên cũng bằng khẩu hiệu « yêu nước là yêu xã hội chủ nghĩa » !

Nhưng người ta đâu thể nào xây dựng đất nước với sự thi đua, chủ nghĩa anh hùng, bằng lòng can đảm, bằng sự hy sinh vô bờ bến của người dân, cho một cái gì đó chưa chắc có thật (xã hội chủ nghĩa) ?

Đất nước chỉ có thể xây dựng bằng tình yêu thuơng nồng nhiệt chứ không thể bằng quán tính căm thù đã lưu cửu từ nhiều thế hệ.

Tình yêu là xây dựng. Căm thù là đập phá.

Đáng lẽ, tình yêu nước phải được đơn giản hóa, như là tình yêu gia đình, con cái, chồng vợ… Ai không muốn con cái mình học hành giỏi giang hơn người ? Ai không muốn gia đình, giòng họ mình giàu có hơn người ? 

Người cha, người mẹ có thể hy sinh cả đời mình cho tương lai hạnh phúc của con cái. Người cha, người mẹ này chưa chắc đã yêu nước (là yêu xã hội chủ nghĩa) !

Nếu không bị chi phối vì chủ nghĩa, việc yêu nước sẽ rất đơn giản : làm thế nào cho đất nước giàu hơn, đẹp hơn.

Làm thế nào để đất nước giàu đẹp ? Nếu dễ dàng thì chắc không có nước nào nghèo trên trái đất này phải không ?

Điều dễ dàng, ai cũng làm được, là đừng làm cho đất nước xấu thêm.

Người ta gặp một nước Việt xấu xa, thể hiện qua các tấm bảng đặc biệt viết bằng tiếng Việt, trong các trung tâm thuơng mại nước ngoài, cảnh cáo người Việt ăn cắp.

Một nước Việt ăn cắp, xấu xa thể hiện qua việc ăn cắp của lãnh đạo, của thành phần trung lưu, thuợng lưu, trí thức. Vụ tiếp viên, phi công VN ăn cắp rùm beng trên báo chí nước ngoài. Lãnh đạo VN ăn cắp (tham nhũng không phải là ăn cắp của dân thì là gì ?) cũng rùm beng trên báo chí nước ngoài.

Một nước Việt bất lực, được nuôi dưỡng bằng « trôn » con gái trầm luân xứ người… bằng những giọt mồ hôi nhọc nhằn của những con người « xuất khẩu lao động »… mà thực ra là nô lệ thời mới.

Một đất nước không thể đẹp khi một năm đàn ông Việt Nam nhậu 3 tỉ lít bia và 5 triệu con chó. (Trong khi rượu chắc chắn đem lại hệ quả bệnh tật cho người uống, tức đem lại gánh nặng về an sinh xã hội cho thế hệ tương lai.)

Đất nước ngày càng « xấu » thêm. Xấu hổ đối với người nước ngoài, xấu xa do cảnh vật tàn phá bởi bàn tay con người, do chính sách khai thác khoáng sản bừa bãi của nhà nước.

Ta không thể làm đất nước giàu đẹp hơn, vì nhiều lý do khác nhau. Nhưng ta có thể làm cho đất nước không xấu hơn. Đó cũng là yêu nước.

Vấn đề là trách nhiệm của lãnh đạo, của trí thức.

Nhà trí thức, nhà giáo Đinh Đăng Định đơn thuơng độc mã, dám ngăn cản những hành vi phá nước của lãnh đạo (chủ trương cho Trung Quốc khai thác Bô Xít). Đó là gì nếu không phải là hành vi yêu nước chân chánh ?

Giữ đất nước tươi đẹp, không bị tàn phá là yêu nước.

Hy sinh như vậy mới đáng hy sinh. Lịch sử sau này phán xét.