mercredi 21 mai 2014

Công hàm 1958 : một vấn đề thuộc phạm vi công pháp quốc tế.

Tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Trung Quốc là một tuyên bố đơn phương về lãnh thổ và hải phận. Tuyên bố này tương tự như tuyên bố đơn phương ngày 23-11-2013 của Trung Quốc về « vùng nhận diện phòng không – ADIZ » ở vùng biển hoa Đông. Tuyên bố 1958 dựa trên các công ước về Luật Biển 1958 (điều chỉnh lại năm 1996 theo Luật Biển 1982) trong khi Tuyên bố về ADIZ thì dựa theo tập quán quốc tế đã có từ sau Thế chiến II.

Tuyên bố gồm 4 điều, nội dung phần quan trọng tóm lược như sau :

Điều 1 : Lãnh hải của TQ rộng 12 hải lý. Điều này áp dụng trên toàn bộ lãnh thổ TQ, các hải đảo Đài Loan và các đảo phụ thuộc, đảo Bành Hồ và các đảo phụ thuộc, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa), quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa (Trường Sa)…
Điều 3 : Tất cả phi cơ, thuyền bè không được phép của TQ thì không được xâm phạm vào không và hải phận của nước TQ.
Điều 4 : Nguyên tắc qui định ở điều 3 (và 2) được áp dụng cho cả HS và TS.

Tuyên bố 4-9-1958 của Trung Quốc ghi rõ Tây Sa và Nam Sa (tức HS và TS) thuộc về TQ (điểm 1).
Theo thông lệ quốc tế, các tuyên bố đơn phương có hiệu lực pháp lý ràng buộc cho các nước quan hệ, nếu các nước này không kịp thời lên tiếng phản đối hay bảo lưu (về một khoản nào đó). Trường hợp Tuyên bố « Vùng nhận diện phòng không » của TQ ngày 23-11-2013, các nước Nhật, Nam Hàn, Mỹ, cùng nhiều nước khác… đã tức thì lên tiếng phản đối. Một lẽ vì nó chồng lấn lên vùng nhận diện phòng không của Nhật và Nam Hàn đã thiết lập từ lâu, trong thời kỳ chiến tranh lạnh, sau đó vi phạm chủ quyền lãnh thổ của hai nước này.

Ngày 10 tháng 9 năm 1958 Thủ Tướng Phạm Văn Đồng gởi công hàm (công hàm 1958) ủng hộ tuyên bố của TQ nguyên văn như sau :

« Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc.
Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc, trong mọi quan hệ với nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trên mặt bể. »

Tuyên bố này là một công khai, đơn phương « ủng hộ » : Nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa « tán thành » đồng thời cam kết « tôn trọng quyết định » của  Trung Quốc.

Nhiều tranh cãi chung quanh nội dung (và hình thức) và tính ràng buộc pháp lý của  công hàm 1958. Nó « tán thành » việc gì và « tôn trọng » cái gì ? Ông Đồng có tư cách hay không để ra một tuyên bố về lãnh thổ ? V.V…

Sau đây một số ý kiến của tác giả về nội dung công hàm 1958 của Phạm Văn Đồng. Tác giả quan niệm rằng, khi nào ta biết sự thật về giá trị và hiệu lực của công hàm này, khi đó ta mới có thể hóa giải nó. Vấn đề hóa giải thế nào, nội dung sẽ trình bày trong bài viết tiếp theo.

1/ Công hàm 1958 là một « tuyên bố đơn phương » :

Nhiều người gọi « công hàm » 1958 của Phạm Văn Đồng là « lá thư » của ông Đồng gởi cho ông Chu Ân Lai [1]. Thực ra việc gọi thế nào không quan trọng, mà quan trọng là trên quan điểm quốc tế công pháp văn bản này có hiệu lực pháp lý hay không ?

Khoản 1 của Nguyên tắc Hướng dẫn về Tuyên bố Đơn phương của Quốc gia được  Ủy ban Công pháp Quốc tế thuộc LHQ [2] thông qua (từ nay gọi tắt là Nguyên tắc Hướng dẫn) có nội dung :

Des déclarations formulées publiquement et manifestant la volonté de s’engager peuvent avoir pour effet de créer des obligations juridiques. Lorsque les conditions pour qu’il en soit ainsi sont réunies, le caractère obligatoire de telles déclarations repose sur la bonne foi; les États intéressés peuvent donc en tenir compte et tabler sur elles; ils sont fondés à exiger que de telles obligations soient respectées.

Tạm dịch : Những tuyên bố phát biểu một cách công khai và bày tỏ ý muốn tôn trọng (những gì đã tuyên bố) có thể có tác dụng tạo ra các nghĩa vụ pháp lý. Khi các điều kiện được hội đủ, tính cách ràng buộc của các tuyên bố này được dựa vào sự thành tín. Quốc gia liên hệ có thể xem xét và dựa vào tuyên bố này làm căn cứ, để đòi hỏi các nghĩa vụ đó phải được tôn trọng.

Khoản 5 của bản Nguyên tắc Hướng dẫn :

5. Les déclarations unilatérales peuvent être formulées par écrit ou oralement.

Tạm dịch : Các tuyên bố đơn phương có thể phát biểu bằng chữ viết hay bằng lời nói.

Lá thư, hay « công hàm » của ông Đồng đã thể hiện một cách công khai, có đăng tải trên báo chí hai nước Việt-Trung và được lưu trữ trong hồ sơ ở LHQ. Nó là một « tuyên bố đơn phương ». Nội dung tuyên bố này là « ghi nhận và tán thành » tuyên bố về hải phận của nước CHNDTH.

Khoản 2 của Nguyên tắc Hướng dẫn :

2. Tout État a la capacité d’assumer des obligations juridiques par des déclarations unilatérales.

Tạm dịch : Mọi quốc gia đều có khả năng đảm nhận những ràng buộc pháp lý qua các tuyên bố đơn phương.
Trên phương diện quốc tế công pháp, quốc gia gọi là VNDCCH có thể bị ràng buộc do tuyên bố 1958 của ông Phạm Văn Đông. Vấn đề cần tìm hiểu là bị « ràng buộc » về những điều gì ?

2/ Công hàm không có hiệu lực vì người ký không có tư cách pháp nhân

Nhiều bài báo, nhiều ý kiến đóng góp về công hàm 1958 thường hay nói đến tư cách pháp nhân của ông Phạm Văn Đồng. Các ý kiến này cho rằng ông Đồng không có tư cách để ra một tuyên bố liên quan đến vấn đề lãnh thổ.

TS Nguyễn Hồng Thao, trong cuốn « Le Vietnam et ses différends maritimes dans la mer de Biển Đông[3] » nói về việc này như sau :

La note de Pham Van Dong ne contient aucune renonciation explicite de la souveraineté sur les deux archipels au profit de la Chine. La portée de cette note n’a pas non plus la valeur obligatoire de renoncer à une souveraineté. En vertu de ses fonctions, un Premier Ministre n’a pas la compétence de céder le territoire. Cela relève au pouvoir de l’Assemblée Nationale de Viet Nam

Tạm dịch : Lá thư của Phạm Văn Đồng không hề nói đến việc từ bỏ chủ quyền ở hai quần đảo cho TQ. Hiệu lực của lá thư này cũng không có giá trị bắt buộc ở việc từ bỏ chủ quyền. Theo chức năng của ông này, một thủ tướng không có thẩm quyền để nhượng lãnh thổ. Đây là thẩm quyền thuộc về Quốc hội.

Về hiệu lực của công hàm 1958 sẽ nói ở dưới. Về tư cách pháp nhân, ý kiến này không phù hợp với quan điểm Quốc tế Công pháp. Thật vậy, điều 4[4] của Nguyên tắc Hướng dẫn, những viên chức nhà nước như Chủ tịch nước, Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao… là những người có tư cách để ra một tuyên bố. Nguyên văn điều 4 :

4. Une déclaration unilatérale n’engage internationalement l’État que si elle émane d’ une autorité ayant compétence à cette fin. En vertu de leurs fonctions, les chefs d’État, les chefs de gouvernement et les ministres des affaires étrangères sont habilités à formuler de telles déclarations. D’autres personnes représentant l’État dans des domaines déterminés peuvent être autorisées à engager celui-ci, par leurs déclarations, dans les matières relevant de leur compétence.

Tạm dịch như sau : một tuyên bố đơn phương chỉ ràng buộc quốc gia (vào các vấn đề thuộc phạm vi) quốc tế khi tuyên bố này phát xuất từ một quan chức nhà nước có thẩm quyền trong phạm vi đó. Với chức năng của họ, chủ tịch nước, thủ tướng và bộ trưởng bộ ngoại giao (là những người) có quyền để thành lập một tuyên bố như vậy. Các cá nhân khác đại diện cho quốc gia trong những lãnh vực nhứt định có thể được phép gắn kết (quốc gia vào các vấn đề thuộc lãnh vực quốc tế), qua tuyên bố của họ, trong các vấn đề thuộc thẩm quyền của họ.

Theo tinh thần điều 4 văn bản hướng dẫn này, ông Phạm Văn Đồng là thủ tướng chính phủ nước VNDCCH, dĩ nhiên có tư cách và đầy đủ thẩm quyền để ra một tuyên bố về một vấn đề thuộc phạm vi quốc tế.

Thí dụ dẫn từ hồ sơ CIJ về tư cách pháp nhân của người ra tuyên bố.

Trường hợp tranh chấp[5] giữa Mã Lai và Singapour về các đảo Pedra Branca (tên Mã Lai là Pulau Batu Puteh), Middle Rocks và South Ledge (quan trọng hơn cả là đảo Pedra Branca). Nội vụ được đưa ra Tóa án Công lý Quốc tế (CIJ) vào tháng 2 năm 2003 và được phân xử ngày 23 tháng 5 năm 2005.

Trước tòa, theo các chứng cớ lịch sử, Mã Lai đã chứng minh được chủ quyền lịch sử của mình ở đảo Pedra Branca, từ thời mới lập quốc (vương quốc Johor, thế kỷ  15) cho tới năm 1850. Trong khi Singapour, được tiểu vương Johor nhượng cho Công ty Đông Ấn thuộc Anh vào ngày 02 tháng 8 năm 1824, lãnh thổ bao gồm tất cả các đảo trong vòng 10 hải lý. Trong khi đó đảo Pedra Branca cách Singapour đến 24 hải lý. Nhưng trong một khoảng thời gian dài, từ năm 1850, vương quốc Johor (quốc gia tiền nhiệm Mã Lai) đã không hành sử chủ quyền của họ tại đảo này. Khi người Anh ở Singapour cho xây một ngọn hải đăng trên đảo năm 1850 thì không gặp sự phản đối nào của vương quốc Johor. Mặt khác, nhân dịp trả lời lá thư của Singapour về chủ quyền đảo Pedra Branca năm 1953, viên Bộ trưởng lâm thời Bộ ngoại giao vương quốc Johor viết công hàm xác nhận đảo Pedra Branca « không thuộc chủ quyền Johor ». Mặc dầu phía Mã Lai phản đối rằng viên bộ trưởng kia không có thẩm quyền để tuyên bố về một vấn đề « lãnh thổ ». Nhưng tòa đã bác lý lẽ này vì cho rằng tuyên bố đó không có ý nghĩa của một tuyên bố về lãnh thổ mà chỉ là ý kiến của vương quốc Johor về chủ quyền đảo Pedra Branca.

Công hàm 1953 của vương quốc Johor tương tự với trường hợp công hàm 1958 của Phạm Văn Đồng. Đó không phải là một kết ước về lãnh thổ mà chỉ là ý kiến của nước VNDCCH về quyết định của nước CHNDTH (về lãnh thổ và hải phận của TQ). Công hàm 1958 không hề là một tuyên bố từ bỏ chủ quyền. Tranh chấp Hoàng Sa bắt đầu từ năm 1909, khi Trung Quốc lên tiếng đòi chủ quyền quần đảo. Lãnh đạo VNDCCH không thể không biết điều này.

(Ở thí dụ này ta cũng thấy một nước, do thái độ của chính phủ nước này, có thể bị mất chủ quyền lịch sử ở một vùng lãnh thổ nào đó. Trường hợp VN và TQ tại hai quần đảo HS và TS, ta dễ dàng chứng minh VN có chủ quyền lịch sử tại hai quần đảo này, thông qua các tấm bản đồ, hay các sử liệu lịch sử, do chính từ TQ thành lập. Nhưng nếu trong một thời gian dài, nhà nước VN có những tuyên bố, hay các động thái tương đương với sự « đồng thuận – acquiescement », các hành vi này được xem là tự nguyện « từ bỏ chủ quyền », VN có thể bị mất chủ quyền lịch sử ở các nơi này. Điều này có ý nói rằng vấn đề chủ quyền lịch sử là quan trọng nhưng thái độ của nhà nước đối với vùng lãnh thổ đó còn quan trọng hơn.)

Ta cũng có thể dẫn từ các bản án mẫu của CIJ về các tuyên bố đơn phương mà vai trò của người tuyên bố, cũng như hoàn cảnh của tuyên bố bị đặt lại, nhưng vẫn không thể hủy bỏ hiệu lực của tuyên bố.

Trường hợp quốc vương Jordanie tuyên bố từ bỏ vùng lãnh thổ Cisjordanie là một thí dụ khác. Ngày 31 tháng 7 năm 1988 quốc vương Jordanie đọc tuyên bố trước thần dân của ông về việc từ bỏ mọi liên hệ và thẩm quyền chính thức của Jordanie trên vùng lãnh thổ Cisjordanie. Tuyên bố này trái với tinh thần hiến pháp của Jordanie, vì nhà vua không có thẩm quyền quyết định về phạm vi lãnh thổ. Tuyên bố của quốc vương Jordanie không hề nhắm đến một quốc gia nào (không phải là tuyên bố đơn phương) đồng thời vừa vi hiến. Dầu vậy hiệu lực của tuyên bố cũng đã được áp dụng trên thực tế, dân tộc Palestine chưa được thực sự độc lập cũng như quốc gia Palestine chưa được chính thức thành hình, nhưng vùng lãnh thổ Cisjordanie thực sự không còn thuộc thẩm quyền của Jordanie.

3/ Công hàm 1958 không có hiệu lực vì vi hiến.

Nhiều bài báo, nhiều ý kiến ở VN gần đây cho rằng chiếu theo hiến pháp VN, ông Đồng không có tư cách để tuyên bố về một vấn đề liên quan đến chủ quyền lãnh thổ. Thật vậy, theo hiến pháp của VN hiện tại, hay trong thời kỳ ông Đồng làm thủ tướng, vấn đề phân định biên giới phải được thể hiện bằng một kết ước, có sự đồng thuận giữa hai nước, phải được quốc hội thông qua. Ý kiến của TS Nguyễn Hồng Thao đã dẫn ở trên trong chừng mực cũng nằm trong chiều hướng này.

Nhưng tuyên bố 1958 của ông Đồng không phải là một « tuyên bố về lãnh thổ », có mục tiêu làm thay đổi lãnh thổ nước VNDCCH.

Xét nội dung của cả hai bản tuyên bố. Bản tuyên bố của TQ trước hết là một tuyên bố về chủ quyền, theo đó TQ khẳng định ý chí của họ về chủ quyền của TQ tại Đài Loan, Bành Hồ… (đang dưới quyền kiểm soát của phe Quốc dân đảng do Tưởng Giới Thạch lãnh đạo). Sau đó là tuyên bố về hệ thống đường cơ bản và bề rộng lãnh hải 12 hải lý (điều 2). Điều 3 khẳng định quyền tài phán của TQ tại vùng không gian và vùng nước thuộc lãnh hải TQ. Điều 4 qui định các đảo Tây Sa và Nam Sa (tức HS và TS) cùng các đảo khác của TQ đều có qui chế xác định ở điều 1 và điều 2.

Tuyên bố của ông Phạm Văn Đồng là tuyên bố ủng hộ tuyên bố của TQ về lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải của nước này. Thực ra việc làm này không cần thiết. Bởi vì, cũng như tuyên bố của các nước khác, nếu nội dung tuyên bố của TQ không có điều gì phải phản đối, tự động tuyên bố này có hiệu lực đối với tất cả các nước trên thế giới. (Tuyên bố của TQ bị Hoa Kỳ phản đối vì hệ thống đường cơ bản lấn biển khá xa).
Trường hợp Tuyên bố vùng nhận diện phòng không của Trung Quốc vừa qua cho ta thấy việc này.

Tức là, có hay không có tuyên bố 1958 của ông Phạm Văn Đồng, nếu VN không lên tiếng phản đối hay bảo lưu về một điều gì đó liên quan đến nội dung tuyên bố của TQ, tự động tuyên bố này có hiệu lực pháp lý.
Tuyên bố 1958 của ông Phạm Văn Đồng không phải là một tuyên bố về « lãnh thổ » mà là một tuyên bố về « lập trường » của VNDCCH đối với những đòi hỏi của TQ về lãnh thổ và hải phận. Vì vậy tuyên bố này không vi hiến.

Dầu vậy, theo tập quán quốc tế, một tuyên bố đơn phương nếu đi ngược lại tinh thần hiến pháp của quốc gia tuyên bố, hiệu lực của tuyên bố vẫn có thể cao hơn hiến pháp của quốc gia. Tuyên bố đơn phương không phải là một văn bản « hành chánh » thuộc phạm trù quốc gia mà là một văn bản (hay hành vi) thuộc phạm trù quốc tế. Một văn bản hành chánh chịu chi phối của luật quốc gia nhưng một tuyên bố đơn phương (liên quan đến một vấn đề quốc tế) chịu chi phối của luật pháp quốc tế.

Thí dụ sau đây cho thấy những rắc rối đưa đến từ việc mâu thuẩn giữa luật quốc nội và luật quốc tế về tuyên bố đơn phương.

Công hàm ngày 22 tháng 11 năm 1952 của bộ trưởng bộ Ngoại giao Colombie gởi bộ Ngoại giao Venezuela về lập trường của Colombie về chủ quyền quần đảo Los Monjes[6]. Công hàm này xác định chủ quyền của Venezuela tại quần đảo Los Monjes.

Năm 1971, Ủy ban Quốc gia Colombie nhận được một khiếu nại cho rằng công hàm 1952 vi hiến vì các vấn đề thuộc chủ quyền lãnh thổ phải được thể hiện bằng một hiệp ước, và phải được quốc hội thông qua. Thực tế là công hàm của Bộ ngoại giao có làm thay đổi « biên giới » nước Colombie, vì trực tiếp nhìn nhận quần đảo Los Monjes thuộc Venezuela. Tháng 3 năm 1971 Ủy ban Quốc Gia Colombie phán xét rằng Ủy ban không có thẩm quyền để hủy bỏ công hàm 1952 bởi vì đây là một văn bản thuộc phạm vi quốc tế. Một văn bản quốc tế thì phải áp dụng Quốc tế Công pháp. Tháng 4 năm 1971, phán quyết này lại khiếu nại lên Ủy ban Quốc Gia. Lần này lý lẽ phía khiếu nại cho rằng phán quyết không phù hợp với hiến pháp Colombie trong các vấn đề liên quan đến các văn bản quốc tế. Bên khiếu nại nhấn mạnh, để tuyên bố có hiệu lực, ý chí của hai quốc gia cần phải được thể hiện. Tức là, quan điểm của hiến pháp Colombie thì không công nhận hiệu lực các tuyên bố đơn phương mà chỉ nhìn nhận các hết ước có tính qui ước (có sự đồng thuận của hai bên).

Điều ghi nhận ở đây, khác với hiến pháp của phần lớn các quốc gia khác, hiến pháp Colombie không nhìn nhận « tuyên bố đơn phương » là một văn bản quốc tế. Một văn bản quốc tế, theo họ, phải có sự đồng thuận của hai bên. Trong trường hợp chủ quyền quần đảo Los Monjes, phải xác định bằng một hiệp định.
Vấn đề quần đảo Los Monjes được đưa lên Ủy ban Hiến Pháp quyết định. Ủy ban này cũng từ khuớc vì cho rằng không có thẩm quyền (23-5-1975). Cuối cùng, ngày 20-10-1992, Ủy ban Quốc gia phán quyết : Công hàm ngày 22 tháng 11 năm 1952 của bộ trưởng bộ Ngoại giao Colombie gởi bộ Ngoại giao Venezuela là không có gia trị.

Nhưng dường như hành động của Ủy ban Quốc gia Colombie chỉ nhắm đến việc giải quyết trong nội bộ Colombie, để xoa dịu thành phần chống đối. Vì trên thực tế, hiện nay nhà nước Colombie công nhận chủ quyền của Venezuela tại quần đảo Los Monjes qua việc phân định hải phận giữa hai nước. Việc tranh chấp hai bên là vùng nước chung quanh Los Monjes, phía Colombie chủ trương các đảo này có hiệu lực giới hạn trong khi phía Venezuela đòi hỏi vùng biển phía ngoài các đảo, có đầy đủ hiệu lực.

3/ Công hàm 1958 không có hiệu lực vì tuyên bố của TQ vi phạm luật quốc tế.

Có ý kiến cho rằng công hàm 1958 không có hiệu lực vì tuyên bố của phía TQ vi phạm luật quốc tế. Ý kiến này cho rằng tuyên bố của TQ vi phạm luật quốc tế vì hệ thống đường cơ bản của TQ không phù hợp với Luật quốc tế về Biển 1958.

Theo khoản 8 bản Nguyên tắc Hướng dẫn :

 8. Une déclaration unilatérale en conflit avec une norme impérative du droit international général est nulle.

Tạm dịch : Một tuyên bố đơn phương mâu thuẩn với một nguyên tắc bắt buộc của luật quốc tế thì nó không có giá trị.

Nếu tuyên bố này mâu thuẩn với luật Quốc tế thì tuyên bố này không có giá trị. Dĩ nhiên công hàm 1958 cũng không có giá trị.

Ta thấy qui ước về đường cơ bản trong Công ước về Lãnh hải và Vùng tiếp giáp 1958 không khác nhiều nội dung bộ Luật biển 1982. Hệ thống đường cơ bản của TQ từ năm 1958 đến nay không thay đổi. Trong chừng mực, một số đoạn trong hệ thống đường cơ bản của TQ khá xa bờ, nhưng việc lấy các đảo cận biển để làm điểm cơ bản thì việc này không mâu thuẩn với Luật quốc tế về Biển. Tập quán này đã được rất nhiều nước trên thế giới sử dụng (kể cả VN). Tuyên bố về đường cơ bản của TQ bị các nước (như Hoa Kỳ) phản đối. Nhưng nói rằng nó không có giá trị trên toàn bộ là không thuyết phục. Bởi vì, nếu bị chống đối, TQ (hay VN cũng như các nước có chung trường hợp), có thể sửa đổi để phù hợp với Luật biển 1982.

Vì thế khi cho rằng tuyên bố 1958 của ông Phạm Văn Đồng không có giá trị vì ủng hộ một tuyên bố vi phạm luật quốc tế là không có căn cứ.

4/ Nội dung Công hàm 1958 :

Đây mới là điều quan trọng. VN có thể bị ràng buộc pháp lý ở các điểm nào trong nội dung bản tuyên bố 1958 ?

Khoản 7 của bản Nguyên tắc Hướng dẫn :

7. Une déclaration unilatérale n’entraîne d’obligations pour l’État qui l’a formulée que si elle a un objet clair et précis. En cas de doute sur la portée des engagements résultant d’une telle déclaration, ceux-ci doivent être interprétés restrictivement. Pour interpréter le contenu des engagements en question, il est tenu compte en priorité du texte de la déclaration ainsi que du contexte et des circonstances dans lesquelles elle a été formulée.

Tạm dịch : Một tuyên bố đơn phương chỉ có khả năng ràng buộc quốc gia (đã phát biểu) khi nội dung (của bản tuyên bố) có một mục đích rõ ràng và cụ thể. Trong trường hợp có nghi ngờ về mức độ cam kết của tuyên bố, thì văn bản phải được giải thích một cách hạn chế. Để giải thích nội dung của những cam kết này, ta phải đặt ưu tiên cho văn bản của tuyên bố cũng như bối cảnh và trường hợp mà tuyên bố được thể hiện.
Bà Monique Chemillier-Gendreau [7] giới hạn hiệu lực của công hàm 1958 ở « bề rộng lãnh hải ». Bà viết như sau :

« La déclaration de Pham Van Dong se tient strictement, il est vrai, à la reconnaissance de la largeur de la mer territoriale chinoise. Il est donc inexact de soutenir que le Viet Nam aurait ainsi « réaffirmé sa reconnaissance de la prétention chinois » sur les archipels  ».

Tạm dịch : Tuyên bố của ông Phạm Văn Đồng chỉ hạn chế ở việc nhìn nhận bề rộng lãnh hải của Trung Quốc. Cho rằng Việt Nam « tái xác định việc công nhận chủ quyền của Trung Quốc » ở các quần đảo là điều không đúng.

TS Nguyễn Hồng Thao[8] cũng có cái nhìn tương tự, công hàm chỉ nhằm mục đích công nhận lãnh hải 12 hải lý. Ông cũng cho rằng công hàm có giá trị về chính trị hơn là pháp lý :

La note exprimant un engagement plus politique que juridique, une forme courante utilisée par des pays socialistes pour manifester leur solidarité idéologique. Elle a pour objet précis de soutenir les Chinois dans l’application de la largeur des 12 milles marins de la mer territoriale.

Tạm dịch : Lá thư biểu lộ một sự liên kết về chính trị hơn là pháp lý, một hình thức thông dụng đã được các nước trong khối XHCN sử dụng để bày tỏ tình đoàn kết ý thức hệ. Lá thư có mục tiêu rõ rệt ủng hộ TQ trong việc áp dụng bề rộng lãnh hải 12 hải lý.

Ông Lưu Văn Lợi[9] cũng viết tương tự :

« Xem nguyên văn bức thư của ông Phạm Văn Đồng người ta thấy bức thư chỉ có một nội dung là ủng hộ Trung Quốc quy định hải phận rộng 12 hải lý và hứa sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm phải tôn trọng quy định 12 hải lý.
Nội dung đó không hề nói đến vấn đề lãnh thổ, càng không nói gì đến vấn đề các quần đảo. Nội dung chỉ có thế, sao lại xuyên tạc là “sự công nhận” Hoàng Sa là của Trung Quốc? »

Trong bài phỏng vấn tiến sĩ Balazs Szalontai của BBC[10], ta cũng tìm thấy ý nghĩa khá giống như vậy :

Dẫu vậy, ông (Phạm Văn Đồng) có vẻ đủ thận trọng để đưa ra một tuyên bố ủng hộ nguyên tắc rằng Trung Quốc có chủ quyền đối với hải phận 12 hải lý dọc lãnh thổ của họ, nhưng tránh đưa ra định nghĩa về lãnh thổ này. Mặc dù tuyên bố trước đó của Trung Quốc rất cụ thể, nhắc đến toàn bộ các đảo bao gồm Trường Sa và Hoàng Sa mà Bắc Kinh nói họ có chủ quyền, thì tuyên bố của Bắc Việt không nói chữ nào về lãnh hải cụ thể được áp dụng với quy tắc này.

Chiếu theo tinh thần khoản 7 của Nguyên tắc Hướng dẫn, nếu nội dung văn bản không rõ rệt (việc nhà nước VNDCCH sẽ “ghi nhận và tán thành” cái gì) thì việc diễn giải nội dung tuyên bố này phải giải thích một các hạn chế. Đó là điều mà quí vị Monique Chemillier-Gendreau, Nguyễn Hồng Thao, Lưu Văn Lợi và tiến sĩ Balazs Szalontai đã diễn giải.

Nhưng văn bản có hai đoạn văn : Đoạn 1 « ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc ». Đoạn 2 : chỉ thị cho các cơ quan nhà nước triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc.

Các vị này chỉ nói về đoạn văn thứ hai mà không xem xét đoạn văn thứ nhứt của công hàm 1958.
Nội dung của tuyên bố 4-9-1958 về hải phận của TQ là một tuyên bố khẳng định chủ quyền về lãnh thổ.
« Ghi nhận » và « tán thành » ở đây có nghĩa là VNDCCH tán thành quyết định của TQ mở rộng lãnh hải 12 hải lý trên các vùng lãnh thổ trong danh sách mà TQ đã liệt kê trong Tuyên bố. « Triệt để tôn trọng » là VNDCCH tôn trọng « triệt để tôn trọng » quyết định lãnh hải 12 hải lý trên các vùng lãnh thổ của TQ có liệt kê trong bản tuyên bố. Trong đó bao gồm Hoàng Sa và Trường Sa.

Ông Phạm Văn Đồng, tác giả công hàm 1958, đã có ý kiến về công hàm này. Nhà báo Frank Ching trong bài “Paracel Islands Dispute[11]” trên Far Eastern Economic Review ngày 10-02-1994 ghi lại lời của Phạm Văn Đồng về nguyên nhân và nội dung công hàm 1958. Ông Đồng nói ngắn gọn, nhưng rõ rệt  :

"Lúc đó là thời kỳ chiến tranh và tôi đã phải nói như vậy".

Cũng trong bài báo của Frank Ching nói trên, có ghi lại lời ông Nguyễn Mạnh Cầm  :

"Các nhà lãnh đạo của chúng tôi đã có tuyên bố lúc trước về Hoàng Sa và Trường Sa dựa trên tinh thần sau: Lúc đó, theo Hiệp định Geneve 1954 về Đông Dương, các lãnh thổ từ vĩ tuyến 17 về phía nam, bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là đặt dưới sự kiểm soát của chính quyền miền Nam. Hơn nữa, Việt Nam đã phải tập trung tất cả các lực lượng quân sự cho mục tiêu cao nhất để chống lại cuộc chiến tranh hung hãn của Mỹ, nhằm bảo vệ nền độc lập quốc gia. Việt Nam đã phải kêu gọi sự ủng hộ của bè bạn trên toàn thế giới. Đồng thời, tình hữu nghị Hoa-Việt rất thân cận và hai nước tin tưởng lẫn nhau. Trung Quốc đã cho Việt Nam một sự ủng hộ rất vĩ đại và giúp đỡ vô giá. Trong tinh thần đó và bắt nguồn từ những đòi hỏi khẩn cấp nêu trên, tuyên bố của các nhà lãnh đạo của chúng tôi [ủng hộ Trung Quốc trong việc tuyên bố chủ quyền của họ trên Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa] là cần thiết vì nó trực tiếp phục vụ cho cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập và tự do cho tổ quốc.”

Như thế công hàm 1958 không phải chỉ “ủng hộ” bề rộng lãnh hải 12 hải lý như bà Monique Chemillier-Gendreau,TS Nguyễn Hồng Thao, ông Lưu Văn Lợi hay tiến sĩ Balazs Szalontai đã nói. Những người trong cuộc, ông Phạm Văn Đồng và ông Nguyễn Mạnh Cầm, đã nhìn nhận nội dung công hàm 1958 là công nhận chủ quyền của TQ ở HS và TS. Ông Phạm Văn Đồng biện hộ “nói vậy” vì lúc đó là “thời kỳ chiến tranh”. Ông Cầm thì biện hộ vì HS và TS thuộc miền Nam quản lý, việc ủng hộ là “cần thiết vì nó trực tiếp phục vụ cho cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập và tự do cho tổ quốc”.

Nội dung công hàm 1958 sẽ rõ rệt hơn, nếu quí vị học giả Monique Chemillier-Gendreau, TS Nguyễn Hồng Thao, ông Lưu Văn Lợi hay tiến sĩ Balazs Szalontai xem xét thái độ của VNDCCH từ năm 1954 cho đến năm 1975 về hai quần đảo HS và TS. Ta sẽ tìm thấy nhiều bằng chứng nhà nước VNDCCH tôn trọng nội dung công hàm 1958. Trường hợp các bản đồ in sau 1958 một số có ghi HS và TS dưới tên Tây Sa và Nam Sa đồng thời ghi chú thuộc TQ. Hay các bài báo đăng trên báo Nhân Dân, xác định vùng biển, vùng trời HS thuộc TQ v.v… Các động thái này cho thấy chính phủ VNDCCH nhìn nhận chủ quyền của TQ tại HS và TS[12]. Và đó cũng là mục đích của công hàm 1958.

Mặt khác, bà Monique Chemillier-Gendreau có viết[13] :

« Néanmoins, son silence devant l’affirmation de souveraineté chinoise sur les iles peut être interprété comme un acquiescement, et cela autant plus qu’il est renforcé par la déclaration relative aux zones de combat et les articles du Nhan Dan. »

Tạm dịch : dầu vậy, sự im lặng (của nhà nước VNDCCH) trước sự khẳng định chủ quyền của Trung Hoa tại các đảo có thể được hiểu như là một sự đồng thuận. Việc này càng được củng cố qua các tuyên bố liên quan đến vùng chiến sự và những bài viết trên báo Nhân Dân.

Tuy đoạn văn này nối liền với đoạn văn dẫn trên của học giả Monique Chemillier-Gendreau nhưng không thấy học giả VN nào nói tới.

Thử xét thêm lời giải thích của ông Nguyễn Mạnh Cầm. Vì HS và TS do VNCH quản lý do đó công hàm 1958 không hiệu lực. Ở điểm này, học giả Monique Chemillier-Gendreau cũng có cái nhìn tương tự: “người ta không thể cho cái mà người ta không có”.

Tuy nhiên, theo nội dung Hiệp định Genève 1954, nước Việt Nam là duy nhứt[14]. Trên thực tế, VN có hai vùng lãnh thổ do hai chính phủ khác nhau về ý thức hệ lãnh đạo, nhưng trên quan điểm luật pháp quốc tế nước VN chỉ có một. Ông Cầm không thể viện dẫn việc HS và TS do VNCH quản lý thì có thể tuyên bố chủ quyền các quần đảo này của nước nào cũng được. Bởi vì, HS và TS thuộc bên nào quản lý thì chúng cũng thuộc về một nước Việt Nam duy nhứt. Khi chủ trương một quốc gia duy nhứt, hai nhà nước lãnh đạo hai vùng lãnh thổ khác biệt, đều có bổn phận như nhau trong việc bảo toàn lãnh thổ, cho dù phần lãnh thổ này do bên này hay do bên kia quản lý.
Mặt khác, lời giải thích của ông Nguyễn Mạnh Cầm, cũng như của ông Đồng, đã xóa bỏ lập luận “công hàm chỉ nói đến hải phận 12 hải lý mà không nói đến vấn đề chủ quyền” của các học giảMonique Chemillier-Gendreau, TS Nguyễn Hồng Thao, ông Lưu Văn Lợi và tiến sĩ Balazs Szalontai về nội dung công hàm 1958. Nội dung công hàm bao gồm việc nhìn nhận chủ quyền của TQ tại HS và TS.

Học giả Greg Austin[15], trong cuốn China Ocean’s Frontiers, có ý kiến :

Of all the items of evidence presented by the PRC as proof of DRV recognition of Chinese sovereignty over the Paracel Islands, the most conclusive may be the note from the DRV Prime Minister supporting the PRC territorial sea declaration. The note was a government to government communication. And its subject was territorial sovereignty over, inter alia, the Paracel Islands; and the DRV not only raised no objection to the PRC claim but supported it.

Tạm dịch: Trong tất cả các yếu tố do TQ đưa ra làm bằng chứng cho việc VNDCCH đã thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc trên Quần đảo Hoàng Sa, yếu tố có tính thuyết phục nhứt có thể nói là công hàm của Thủ Tướng VNDCCH ủng hộ tuyên bố về lãnh hải của nước CHND TH. Công hàm này là một văn kiện trao đổi giữa chính phủ với chính phủ. Chủ đề của công hàm là chủ quyền lãnh thổ, trong đó có Quần đảo Hoàng Sa. Nước VNDCCH không những đã không phản kháng tuyên bố chủ quyền của CHND TH mà còn ủng hộ nó.

5/ Về hoàn cảnh ra đời công hàm 1958:

Hầu như các bài viết của các học giả VN đều vịn vào lý do “chiến tranh”, lý do căng thẳng eo biển Đài Loan ở thời kỳ đó, lý do hai nước VN và TQ là “đồng chí, anh em” trong khối xã hội chủ nghĩa,… để biện hộ cho sự xuất hiện công hàm 1958. TS Nguyễn Hồng Thao, trong sách đã dẫn[16], viết:

La note de Pham Van Dong a pour but de satisfaire une demande de la Chine aux pays du camps socialiste en vue de la soutenir dans sa lutte contre la politique poursuivie par des Américains dans le détroit de Formose, qui menaçait la sécurité nationale à l’époque. La note exprimant un engagement plus politique que juridique, une forme courante utilisée par des pays socialistes pour manifester leur solidarité idéologique. Elle a pour objet précis de soutenir les Chinois dans l’application de la largeur des 12 milles marins de la mer territoriale.

Tạm dịch : Lá thư của Phạm Văn Đồng có mục đích nhằm thỏa mãn việc yêu cầu, nhắm đến các nước trong khối XHCN, nhằm ủng hộ TQ trong cuộc đấu tranh chống lại khuynh hướng chính trị theo đuổi của Hoa Kỳ ở eo biển Đài Loan, thời kỳ đó đã đe dọa an ninh quốc gia nước này. Lá thư biểu lộ một sự liên kết về chính trị hơn là pháp lý, một hình thức thông dụng đã được các nước trong khối XHCN sử dụng để bày tỏ tình đoàn kết ý thức hệ. Lá thư có mục tiêu rõ rệt ủng hộ TQ trong việc áp dụng bề rộng lãnh hải 12 hải lý.
Trang web BBC[17] có tóm lược bài viết của “nhóm phóng viên biển Đông” đăng trên tờ Đại Đoàn Kết, nội dung như sau:

bối cảnh của bản Công hàm 1958 gửi Thủ tướng Chu Ân Lai của Trung Quốc là thời điểm "có nhiều chuyển biến phức tạp và cấp bách đối với Trung Quốc về tình hình lãnh thổ trên biển theo luật pháp quốc tế cũng như diễn biến căng thẳng của vấn đề quân sự xung quanh eo biển Đài Loan".
Trong bối cảnh đó, bản công hàm được giải thích là "đơn giản chỉ là một cử chỉ ngoại giao tốt đẹp", tức "chỉ là những tuyên bố mang tính chính trị và ngoại giao chứ hoàn toàn không có ý nghĩa pháp lý".

Trên VOA[18], có bài phỏng vấn TS Hoàng Việt :

trước hết là về bối cảnh đưa ra công hàm mà năm 1958 ông Phạm Văn Đồng đã ký. Thứ nhất là lúc đó quan hệ Việt Nam-Trung Quốc vẫn còn như là anh em, vừa là đồng chí vừa là anh em. Năm 1949, Quân Giải phóng Việt Nam còn tấn công và chiếm vùng Trúc Sơn thuộc lãnh thổ của Trung Quốc, sau đó trao trả lại cho Trung Quốc. Thế rồi sang năm 1957 Trung Quốc chiếm lại từ tay một số lực lượng khác đảo Bạch Long Vĩ và sau đó đã trao trả lại cho Việt Nam. 
Muốn nói tới câu chuyện đó để làm gì? Đấy là lúc đó hai nước tình cảm rất là chặt chẽ với nhau.

Đã ghi ở trên, ông Đồng giải thích bối cảnh ra đời công hàm :

"Lúc đó là thời kỳ chiến tranh và tôi đã phải nói như vậy".

Lời giải thích này đã xóa đi tất cả những lý lẽ « vì hoàn cảnh » mà các học giả đưa ra để cố gắng hóa giải hiệu lực công hàm 1958. Bởi vì ai gây chiến tranh ? Dĩ nhiên là phía VNDCCH. Chiến tranh không phải là tình huống bắt buộc. Chỉ cần phía VNDCCH ngưng chiến tranh thì ông Đồng sẽ không phải « nói như vậy ». Tức đã không ký công hàm, đã không nhượng trên giấy tờ chủ quyền HS và TS cho TQ.

Nhà báo Frank Ching[19] nhận xét lời giải thích này như sau :

  Vậy thì ai đã tạo ra cuộc chiến Việt Nam và sẵn sàng làm tất cả mọi sự có thể làm được để chiếm miền Nam, ngay cả việc bán đất ? Bán đất trong thời chiến và khi cuộc chiến đã chấm dứt, Phạm Văn Đồng lại chối bỏ điều đó bằng cách bịa đặt ra việc đổ thừa cho chiến tranh.

Trong khi bối cảnh thực sự mà tuyên bố của TQ ra đời, theo TS Balazs Szalontai :

BBC:Theo nhận định của ông, lá thư của Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã được viết trong hoàn cảnh nào?
Tiến sĩ Balazs Szalontai: Trước tiên, ta nói về tuyên bố của Trung Quốc. Nó ra đời trong bối cảnh có Hội nghị Liên Hiệp Quốc về Luật Biển năm 1956 và các hiệp định được ký sau đó năm 1958. Lẽ dễ hiểu, Trung Quốc, mặc dù không phải là thành viên của Liên Hiệp Quốc, cũng muốn có tiếng nói về cách giải quyết những vấn đề đó. Vì lẽ đó ta có tuyên bố của Trung Quốc tháng Chín 1958.

Điều này tác giả cũng đã nói ở phần trên, đây mới là bối cảnh đúng đắng về hoàn cảnh ra đời bản tuyên bố của TQ. Sau khi Hội nghị của LHQ về Biển ngày 29-4-1958 thông qua bốn Công ước [20] gồm : Công ước về lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải, Công ước về đại dương, Công ước về đánh bắt và bảo toàn các nguồn sinh vật trong đại dương và Công ước về thềm lục địa. Các quốc gia thuộc LHQ có thể ký nhận các công ước này ở thời điểm giới hạn là 31-10-1958. Vì không phải là một thành viên của LHQ, tuyên bố của TQ là cần thiết để khẳng định những đòi hỏi của nước này về lãnh hải và vùng tiếp cận.

Điều đáng trách là các học giả VN không một người nào nhắc đến Nghị định thư nói về thể thức giải quyết tranh chấp cũng được Hội nghị LHQ thông qua cùng lúc với 4 công ước. Nghị định thư ghi rõ thể thức hòa giải trong các trường hợp có mâu thuẩn quyền lợi giữa các nước trong khi áp dụng các công ước. Dĩ nhiên ta thấy VN và TQ có mâu thuẩn về chủ quyền HS và TS. Tranh chấp này bắt đầu từ năm 1909, phía VNDCCH không thể nói là mình không biết.

Như thế, việc dựa vào các lý do « hoàn cảnh » này kia, tình đồng chí anh em, tình trạng « chiến tranh »… để giảm thiểu hiệu lực công hàm 1958 (theo Khoản 7 của bản Nguyên tắc Hướng dẫn) là điều hoàn toàn không thuyết phục.

« Hoàn cảnh » đúng, là bối cảnh Hội nghị LHQ 1958 về luật Biển, đòi hỏi VN phải có « ý kiến » về tuyên bố của TQ. Nguyên tắc một quốc gia VN duy nhứt  buộc các chính phủ ở hai vùng lãnh thổ đều có trách nhiệm như nhau về lãnh thổ. Một vùng lãnh thổ thuộc bên nào quản lý cũng thuộc về quốc gia VN duy nhứt. Thay vì phải ra tuyên bố bảo lưu chủ quyền của mình ở HS và TS, VNDCCH lại ra công hàm công nhận tuyên bố của TQ.

Vịn vào hoàn cảnh « tình trạng chiến tranh », nhưng bên gây chiến là phía VNDCCH. Chỉ cần bên này ngừng chiến thì công hàm 1958 sẽ không hiện hữu.

Vịn vào lý do « đồng chí anh em » lại càng không thuyết phục. Trên quan điểm quốc tế công pháp, tình « đồng chí anh em » chưa bao giờ được một bên tranh chấp vịn vào để được hưởng trường hợp giảm khinh.
Tác giả dẫn ra thí dụ sau đây, cho thấy một lời nói “qua lại” bình thường giữa hai viên chức quốc gia, xảy ra trong một buổi gặp gỡ không chính thức, nó cũng có giá trị ràng buộc pháp lý. Đó là trường hợp tuyên bố của Bộ trưởng bộ Ngoại giao Na Uy, ông Ihlen[21], về chủ quyền của Đan Mạch ở Groenland ngày 22-7-1919.

Trong dịp gặp gỡ giữa hai thủ tướng hai nước Na Uy và Đan Mạch. Ông bộ trưởng Bộ Ngoại giao Đan Mạch nói rằng quốc gia Đan Mạch không quan tâm đến vùng lãnh thổ Spitzberg, chính phủ của ông sẽ không phản đối việc Na Uy hành sử chủ quyền ở vùng đất này. Ông nói tiếp rằng quốc gia Đan Mạch mong muốn được mở rộng thẩm quyền về kinh tế và chính trị trên tòan vùng Groenland. Ông hy vọng việc này không bị Hoa Kỳ cũng như Na Uy phản đối.

Trả lời, Thủ tướng Na Uy, ông Ihlen nói rằng : « the Norwegian Government would not make any difficulties in the settlement of this question ».

Tạm dịch: Chính phủ Na Uy sẽ không làm một khó khăn nào trong việc giải quyết vấn đề này.
Đến khi tranh chấp Groenlan giữa Na Uy và Đan Mạch được đưa ra Tòa Án Công lý Quốc tế (CIJ) phân giải thì « lời nói » của ông Ihlen được tòa nhìn nhận là một « tuyên bố đơn phương », có hiệu lực ràng buộc pháp lý. Tuyên bố này nổi tiếng, trở thành một trường hợp nghiên cứu cho Luật quốc tế, được đặt tên là « Tuyên bố Ihlen ».

Tuyên bố Ihlen có thể so sánh với trường hợp « lời nói » của ông Ung Văn Khiêm, thứ trưởng bộ Ngoại giao VNDCCH, nhân dịp gặp gỡ các viên chức ngoại giao TQ năm 1956. Ông Ung Văn Khiêm có tuyên bố với Li Zhimin, tham tán sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam như sau : chiếu theo tài liệu VN thì HS và TS thuộc về TQ. Ông Lê Lộc, Chủ Tịch Châu Á Sự Vụ, nhân có mặt cũng nói vào : Theo sử liệu VN thì HS và TS thuộc TQ từ thời nhà Tống. Sự việc này tạp chí Beijing Review ngày 18 tháng Hai năm 1980 đã có đăng lại trong bài « Chủ quyền không thể tranh cãi của Trung Quốc trên các đảo Tây Sa và Nam Sa ».


[2] Texte adopté par la Commission du droit international à sa cinquante-huitième session, en 2006, et soumis à l’Assemblée générale dans le cadre de son rapport sur les travaux de ladite session (A/61/10). Le rapport, qui contient également des commentaires sur le projet d’articles, sera reproduit dans l’Annuaire de la Commission du droit international, 2006, vol. II(2).
[3] Nguyễn Hồng Thao, « Le Vietnam et ses différends maritimes dans la mer de Biển Đông », Edition A. Pedone, ISBN 2-233-00451-5, trang 251.
[4] Xem ghi chú 2.
[5] Souveraineté sur Pedra Branca/Pulau Batu Puteh, Middle Rocks et South Ledge (Malaisie/Singapour),arrêt, C.I.J. Recueil 2008, p. 12. ISSN 0074-4441 ; ISBN 978-92-1-071046-6
[6] Nguồn : xem ghi chú 5.
[7] Monique Chemillier-Gendreau – La Souveraineté sur les Archipels Paracels et Spratleys – NXB Harmattan 1996, page 122-123.
[8] Xem ghi chú 3. Trang 250.
[9] Xem ghi chú 1.
[13] Xem ghi chú 7.
[14] Xem thêm bài « Vấn đề Hoàng Sa và Trường Sa : Thử bàn về tính liên tục và sự kế thừa giữa các « quốc gia » Việt Nam sau năm 1945 » của cùng tác giả. https://www.facebook.com/notes/nh%C3%A2n-tu%E1%BA%A5n-tr%C6%B0%C6%A1ng/v%E1%BA%A5n-%C4%91%E1%BB%81-ho%C3%A0ng-sa-v%C3%A0-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-sa-th%E1%BB%AD-b%C3%A0n-v%E1%BB%81-t%C3%ADnh-li%C3%AAn-t%E1%BB%A5c-v%C3%A0-s%E1%BB%B1-k%E1%BA%BF-th%E1%BB%ABa-gi%E1%BB%AFa-c%C3%A1c-qu%E1%BB%91/441347479238933
 [15] Đoạn trích dẫn này do ông Trúc Lê đưa lên trên Net.
[16] Xem ghi chú 3, trang 250.
[19] Xem ghi chú 9.
[21] Nguồn : Nations Unies  A/CN.4/557.  Commission du droit international. Cinquante-septième session. Huitième rapport sur les actes unilatéraux de l’État. Par  Mr Víctor Rodríguez Cedeño, Rapporteur spécial.

jeudi 15 mai 2014

Giàn khoan 981 : quá sớm để nói về thành, bại.

Sẽ là quá sớm để nói về thành bại của Việt Nam tại Biển Đông trước thách thức của Trung Quốc, khi nước này đặt giàn khoan khổng lồ 981 trên thềm lục địa của VN, cách đảo Lý Sơn trên trăm hải lý.

Trên quan điểm thuần túy chiến lược, có lẽ phía Trung Quốc đã tính toán sai mà việc này có thể mở ra cho VN một cơ hội bằng vàng để giải quyết nhiều khó khăn nội bộ. Trong quan hệ ngoại giao, sự do dự của VN về việc lựa chọn đồng minh chiến lược - Trung Quốc hay Mỹ - sẽ sớm được quyết định. Hệ quả điều này sẽ đi đôi với việc dân chủ hóa chế độ. Trung Quốc sẽ mất một đồng minh (đúng ra là đàn em) tin cậy đồng thời tạo ra một quốc gia thù địch quan trọng. Trong khi việc tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc, về chủ quyền quần đảo Hoàng Sa, đã đông lạnh từ tháng giêng năm 1974 cho đến nay, thì được hâm nóng lại.

Tình hình của Việt Nam hôm nay không khác tình trạng của Đài Loan sau khi bị đồng minh Hoa Kỳ bỏ rơi tại Liên Hiệp Quốc năm 1971, bị cô lập toàn diện. Chiếc ghế đại diện quốc gia Trung Hoa tại Hội đồng Bảo An LHQ dời về Bắc Kinh, Đài Loan trở thành một « tỉnh » của Trung Quốc. Tiếp theo sự sụp đổ của chính quyền Sài Gòn 1975, Đài Loan mong manh như trứng để đầu cối đá, lục địa có thể đem quân « giải phóng » đảo quốc này bất kỳ lúc nào mà không có sự can thiệp của Hoa Kỳ.

(Khi Hoa Kỳ nhìn nhận Bắc Kinh là chính quyền duy nhất đại diện Trung Quốc, Đài Loan là một tỉnh của Trung Quốc, thì mặc nhiên nhìn nhận « vấn đề Đài Loan » thuộc về « nội bộ » của Trung Quốc. Nguyên tắc không can thiệp vào nội bộ nước khác là một trong những điều cơ bản của Hiến chương LHQ.)

Khúc quanh chiến lược Đài Loan chỉ đến vào năm 1979. Sau thất bại quân sự về « bài học » cho tiểu bá Việt Nam, nhà cầm quyền Bắc Kinh lại chịu một sự thất bại khác về ngoại giao lớn lao, mà việc này ít ai nói tới. Đó là việc Trung Quốc đã không thành công ngăn cản được thuợng viện Hoa Kỳ thông qua dự luật Taiwan Relations Act.

Luật « Taiwan Relations Act » là tác phẩm của kiều dân Đài Loan sống tại Hoa Kỳ. « Lobby » của kiều dân Hoa tại Mỹ lại rất mạnh. Nhờ vận động hành lang chính trị, thuợng viện HK thông qua dự luật « Taiwan Relations Act » ngày 10-4-1979, theo đó HK chủ trương việc giải quyết « vấn đề Đài Loan » bằng phương tiện hòa bình (HK tôn trọng ý nguyện, tức sự lựa chọn chính trị  của dân Đài Loan), đồng thời cho phép chính quyền Dân Quốc được mua các loại vũ khí của HK để tự vệ. Đổi lại, chính quyền độc tài của Quốc Dân Đảng hứa hẹn dân chủ hóa Đài Loan.

Quá trình dân chủ hóa bắt đầu từ thập niên 80, được sự giúp đỡ quan trọng (làm chất xúc tác) của các học giả thuộc Harvard. Những người này đã tổ chức (trong khuôn viên đại học Harvard) những cuộc tiếp xúc giữa những người ngoài đảng (đảng ngoại, tức không phải là đảng viên Quốc Dân đảng) với các nhân vật lãnh đạo Dân Quốc. Quá trình dân chủ hóa kết thúc vào những năm đầu thiên niên kỷ thứ 3.

Do đó Đài Loan, mặc dầu bị cô lập (hầu như) toàn diện về ngoại giao, nhưng về chính trị và quân sự lại được sự hậu thuẫn của Hoa Kỳ và các nước dân chủ khác trên thế giới.

Trường hợp Việt Nam hôm nay, mặc dầu có quan hệ ngoại giao với (tất cả) các nước trên thế giới, nhưng không có đồng minh tin cậy về chiến lược. Như đã thấy những ngày qua, biến cố dàn khoan 981 mà TQ đặt tại thềm lục địa VN, cho thấy VN sẽ phải một mình đối đầu với sự hung hãn của Trung quốc. Tức trong chừng mực, VN bị « cô lập » như Đài Loan sau 1971.

Việt Nam hôm nay cũng mong muốn được mua « vũ khí sát thuơng » của Hoa Kỳ, tương tự như Đài Loan ngày trước, để « tự vệ ». Điều trở ngại, vì hồ sơ nhân quyền u ám, cũng như Hà Nội là một trong vài chế độ độc tài còn sót lại trên thế giới, chính giới Hoa Kỳ không chấp nhận việc bán vũ khí cho VN. (Theo lời của một vị dân biểu tại California, khi mà VN chưa cải thiện về nhân quyền, chưa dân chủ hóa chế độ, thì các quan hệ với Hoa Kỳ sẽ còn gặp nhiều khó khăn).

Đồng thời lực lượng người Việt sinh sống tại Hoa Kỳ đến nay cũng đã lớn mạnh, không kém kiều dân Hoa ngày trước. Điều trở ngại, kiều dân Hoa ngày xưa một lòng ủng hộ Đài Loan, thì kiều dân Việt phần lớn chống lại chế độ độc tài toàn trị của Hà Nội. Hầu hết những người Việt này là nạn nhân trực tiếp của chính sách trả thù ác độc cũng như sự cai trị hà khắc của nhà cầm quyền này.

Về mối bang giao Việt-Mỹ, Hoa Kỳ vẫn chưa hề xem VN là một nước đáng tin cậy. Tuy vậy, Mỹ vẫn thích thấy một VN dân chủ, thân thiện quay lưng với TQ hơn là một nước VN độc tài gắn bó với TQ.

Hành vi của TQ khi đặt dàn khoan 981 trên thềm lục địa của VN đã khơi dậy lòng yêu nước nơi mọi người Việt, bất kể quá khứ cũng như lập trường chính trị. Từ điểm tựa này, nếu có một « chất xúc tác » hữu hiệu (như các học giả thuộc Harvard trong trường hợp Đài Loan), thì rất có thể lực lượng người Việt tại Hoa Kỳ có thể vận động hành lang để chính giới nước này thông qua một luật tương tự « Taiwan Relations Act », theo đó tranh chấp Biển Đông phải được giải quyết bằng (các phương tiện) hòa bình đồng thời HK bán vũ khí để VN « tự vệ ». Dĩ nhiên với điều kiện, VN phải nhanh chóng dân chủ hóa chế độ.

Cũng không nên đánh giá thấp tiềm năng kinh tế của lớp người Việt hải ngoại. Lớp người này gởi về VN hàng năm trên 10 tỉ đô la. Số tiền này VN có thể mua bất kỳ loại vũ khí tối tân nào của Hoa Kỳ.

Trên các dữ kiện vừa nói, đó là một điều thất sách, một tính toán sai về « chiến lược » của lãnh đạo Bắc Kinh.

Mặt khác, Trung quốc cũng mất đi một đối tác kinh tế có lợi. Quan hệ hai nước Việt-Trung, cán cân mậu dịch luôn thiên về phía TQ.

Sai lầm khác, vị trí giàn khoan còn nằm trong tầm hoạt động của « du kích đại dương ».

Từ « du kích đại dương », tức đánh du kích trên biển, có thể áp dụng cho khu vực ở vùng bờ biển nước Somalie. Khu vực biển này (trong vòng 100km tính từ bờ), cho đến hôm nay, vẫn còn nằm (trong chừng mực) dưới sự kiểm soát của những nhóm cướp biển trang bị vũ khí thô sơ như súng phóng lựu B 40 và tiểu liên AK 47 với những chiếc tàu nhẹ với vận tốc lớn (go fast), có thể lên đến 200km/giờ. Những chiếc tàu thương mại (tàu dầu, tàu chở hàng hóa, du thuyền...) của các nước khi đi ngang khu vực này đều đi vòng cách xa bờ biển để tránh bị ăn cướp.

Trình độ kỹ thuật của VN hôm nay có thể chế tạo hàng loạt loại « khinh tốc đĩnh », những chiếc tàu gọn, nhẹ... nhưng trang bị vũ khí hùng hậu hơn hải tặc Somalie. Nếu hai bên Việt-Trung tuyên bố chiến tranh, với chiều dài bờ biển VN, đội ngũ cảm tử quân này sẽ là những ác mộng cho mọi thuyền bè mang cờ hiệu của TQ.

Tính toán sai lầm khác, hệ quả tiếp nối khi VN hợp tác với Hoa Kỳ. Hiện nay Hoa Kỳ đang thực thi chiến lược « Tác chiến trên không và trên biển », được sự cộng tác (từ lâu) của các nước đồng minh (bao gồm Đài Loan), bao gồm các phương thức « chống tiếp cận, chống phong tỏa » (A2/AD anti-access, area denial). Mô hình để thực hiện chiến lược này là « mô hình tiếp cận và Hoạt động chung » (joint operation access concept - JOAC). Việt Nam là đồng minh lý tưởng, là con cờ chót, để HK hoàn tất chiến lược này. Tức là, Trung Quốc bị bao vây bởi một hàng rào (A2/AD anti-access, area denial) hữu hiệu nhất.

Sai lầm khác, là TQ đã hâm nóng lại vụ tranh chấp quần đảo Hoàng Sa mà nó đã đông lạnh từ bốn thập niên.

Sự hung hăng của TQ tại Biển Đông khiến quốc tế cảm thấy bị đe dọa. Vấn đề hoàng Sa vốn là tranh chấp song phương, sẽ phải giải quyết bằng cách thức đa phương. Đây là điều mà TQ muốn tránh.


Tóm lại, quyết định đặt giàn khoan 981 của TQ trên thềm lục địa của VN là một quyết định sai lầm về chiến lược. Trong nhất thời nó sẽ đẩy lãnh đạo Hà Nội vào thế thụ động. Nhưng áp lực của toàn dân VN, trong và ngoài nước, cũng như sự quan tâm của quốc tế, nhất là Hoa Kỳ, khiến cho hành động hung hăng của TQ bị lên án. TQ neo giàn khoan ở đó càng lâu sẽ càng bất lợi cho TQ. VN sẽ dân chủ hóa chế độ, sẽ mua được vũ khí « sát thương » của Mỹ để tự vệ, đồng thời sẽ bảo vệ được vùng biển của mình. Vấn đề hoàng Sa có thể cũng sẽ được giải quyết bằng một tòa án quốc tế, mà khi VN dân chủ hóa chế độ, thì TQ sẽ không có nhiều phần trăm thắng kiện. TQ không có lợi gì, trong khi mất một đồng minh ý thức hệ quan trọng, một đối tác kinh tế mà phía TQ luôn có lợi. 

mardi 13 mai 2014

Biểu tình : cờ vàng hay cờ đỏ ?

Vấn đề đặt ra, trước hết, biểu tình có nên « phất cờ » hay không ? sau đó hãy nói cờ vàng hay cờ đỏ. 

Biểu tình, xuống đường, mít tinh… là một « quyền » căn bản của mọi người dân trong một xã hội dân chủ, được qui định rõ rệt theo bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền. Nó không phải, và không bao giờ là một « quyền » của nhà nước, thuộc về nhà nước, hay do nhà nước ban bố.

Biểu tình để làm gì ? 

Hầu như không có ngoại lệ, các cuộc biểu tình (xuống đường hay mít tinh, biểu tình đứng, biểu tình ngồi, tuyệt thực...) là hành vi của công chúng nhằm phản đối một sự việc bất công, hay thể hiện một sự bất bình, chống đối nào đó của người dân đối với người lãnh đạo (có thể là chủ xí nghiệp, nhà nước…). Đó là phương pháp của người dân sử dụng khi luật pháp không còn hữu hiệu để bảo vệ quyền lợi của mình, hay của chung một nhóm người. Nội dung cuộc biểu tình (xuống đường, mít tinh…) được thể hiện trên những biểu ngữ, những tờ rơi (truyền đơn), qua những khẩu hiệu hô to của những người trong cuộc… Một số « lá cờ » cũng được trương lên nhân dịp này, nhưng không phải là cờ « quốc gia », mà là cờ của các tổ chức, đảng phái tham gia (hay chủ xướng) cuộc biểu tình. 

Vì biểu tình là một « quyền » của mọi người dân trong xã hội do đó nhà nước phải có « bổn phận » bảo vệ quyền này được thể hiện trong an ninh và trật tự.

« Biểu tình » không phải là « quyền » của nhà nước. Không một nhà nước nào đứng ra « biểu tình » để phản đối một vấn đề gì đó trong quan hệ quốc tế. Nhưng người dân có thể tổ chức biểu tình để ủng hộ nhà nước về một đường lối chính trị, một dự luật được ban bố… có liên quan tới họ. (Tức là, người dân VN có thể biểu tình ủng hộ nhà nước, trong vụ dàn khoan 981, nếu nhà nước có lời yêu cầu.)

Nhưng trong một xã hội độc tài toàn trị, bưng bít như xã hội VN, đã bị tuyên truyền một chiều từ hơn ½ thế kỷ, bất kỳ cuộc xuống đường, mít tinh, biểu tình… của người dân đều chỉ thể hiện việc người dân « ủng hộ » đường lối, chính sách của đảng và nhà nước. Trên môi miệng của mỗi người dân VN luôn có câu : nhờ ơn đảng và nhà nước tôi mới được như hôm nay… Bất kỳ cuộc xuống đường, mính tinh, biểu tình… nào ở VN thảy đều cờ xí rợp trời, âm thanh vang dội… để tung hô đảng và nhà nước. 

Trong vấn đề TQ đặt dàn khoan 981 ở ngoài khơi đảo Lý Sơn, các cuộc biểu tình (ở Sài Gòn, Hà Nội…) là các cuộc biểu tình tự phát (cực kỳ hiếm hoi) của người dân, nhằm phản đối sự ngang ngược của chính quyền Bắc Kinh (và trong chừng mực, phản đối sự bất lực của nhà nước CSVN). Họ không treo cờ mà chỉ giơ cao biểu ngữ chống sự ngang ngược của nhà cầm quyền Bắc Kinh. Một số đòi hỏi thả tự do cho những người đã bị nhà nước CSVN bắt giam một cách phi lý. Một số giơ khẩu hiểu đòi hỏi VN phải thay đổi thể chế. Đây là một cuộc biểu tình đúng nghĩa, (đúng phẩm chất xã hội dân sự), thể hiện sự hiểu biết và can đảm của những người tổ chức. 

Đảng và nhà nước CSVN có thừa khả năng (và thời cơ) để tổ chức các cuộc biểu tình uy lực gấp ngàn lần, nếu họ muốn. Nhưng đảng và nhà nưóc CSVN đã không muốn. Đảng CSVN, thông qua các tổ chức ngoại vi, cũng cờ xí, biểu ngữ, cũng tổ chức « mít tinh » chống TQ. Nhưng họ chỉ chống những người dân khác biểu tình, nhằm giảm bớt « hào khí », hay nhằm « cướp công » các cuộc biểu tình này. Diễn biến xảy ra trước tòa Quốc hội cũ tại Sài Gòn cho ta thấy rõ ràng sự việc.

Vấn đề có nên treo cờ hay không trong các cuộc biểu tình đáng lẽ chấm dứt ở đây. Dân chúng các nước người ta không có thói quen phất cờ khi biểu tình!


Nhưng lịch sử VN không chỉ đơn thuần theo lối viết của nhà cầm quyền trong nước. Nó có những ngoại lệ, hiện hữu từ năm 1975 đến nay, lần hồi trở thành một « thực tế chính trị », thể hiện sự chia rẽ sâu sắc giữa người dân với người dân Việt Nam, sự đối chọi căng thẳng giữa đảng CSVN và người dân bất đồng chính kiến.

Lá cờ vàng là lá cờ của « quốc gia Việt Nam Cộng Hòa », đã hiện hữu trong một thời gian tại miền nam, chế độ này chấm dứt (giải thể) vào ngày 30-4-1975. Vấn đề là, dưới sự bất tài của đảng CSVN lãnh đạo đất nước từ bao nhiêu thập niên qua, đã làm cho lá cờ vàng sống lại, đại diện cho một quá khứ (tốt đẹp hơn bây giờ).

Mặt khác, trong vấn đề tranh chấp chủ quyền HS và TS cùng hải phận Biển Đông, mọi lý lẽ của VN đưa ra hôm nay đều không thuyết phục, vì nhà nước tiền nhiệm VNDCCH đã nhượng HS và TS cho TQ rồi ! Mặt khác, mọi lý lẽ nhằm chứng minh HS và TS thuộc chủ quyền của VN đều đến từ các lập luận của VNCH. 

Do đó, việc « phất cờ vàng » trong các cuộc biểu tình chống TQ lại hợp lý, vì nó không biểu tượng « quốc gia », mà thể hiện ý chí, biểu tượng một chính nghĩa chủ quyền của VN tại HS và TS.

Dầu vậy, mọi người có quyền quyết định của cá nhân mình, có cầm cờ hay không, cầm cờ đỏ hay cờ vàng.

Lập trường của tôi là quyền lợi của đất nước và dân tộc VN trên hết. 

Lá cờ đỏ sao vàng là lá cờ của VNDCCH, cho dầu thể hiện của máu xương hàng triệu người hy sinh, thì cũng là lá cờ của nhà nước đã từ bỏ chủ quyền của VN tại HS và TS. 

Tôi sẽ không cầm lấy nó. Nếu VN được dân chủ hóa, tôi sẽ đề nghị thay nó.

Nếu có dịp xuống đường, biểu tình, tôi sẽ phất cờ vàng. Khi mà nhà nước CSVN chưa kế thừa di sản chính trị VNCH, thì chỉ đứng dưới lá cờ này, dùng danh nghĩa của thực thể chính trị (quá cố) này, các đòi hỏi về chủ quyền HS và TS mới có căn bản pháp lý.

samedi 10 mai 2014

Lỗi tại ai ?


Việt Nam mất nước, mất lãnh thổ vùng biên giới, mất đảo mất biển ở Biển Đông, một mặt là do tham vọng bành trướng của Trung Quốc, nhưng mặt khác, quan trọng hơn, là do thái độ nô tài của trí thức Việt Nam. 

Thái độ này đặc biệt được phóng đại lên, được truyền tải hết mức trên những cơ quan truyền thông VN, cá nhân cũng như thuộc cơ quan trong nước và nước ngoài, từ hơn thập niên nay. Dưới hiệu quả của nó, người dân Việt Nam được ru ngủ với những bài viết, những trang phóng sự, những bài phỏng vấn… mà nội dung chỉ là những thứ cóp nhặt của người khác, còn không là bóp méo dữ kiện lịch sử, diển giải sai lầm tài liệu pháp lý. Nó chỉ có giá trị của những liều thuốc an thần.

Tham vọng bành trướng của Trung Quốc, người Việt qua các thế hệ đã từng trãi, đã có kinh nghiệm, do đó luôn có các phương pháp hữu hiệu để phòng ngừa. Tham vọng chiếm hữu các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và vùng biển chung quanh của Trung Quốc không phải là một âm mưu, nó đã là một thực tế từ lâu.

Vùng Trường Sa, từ « không có tranh chấp » trở thành « có tranh chấp ». Vùng Hoàng Sa, từ « vùng có tranh chấp » trở thành vùng thuộc chủ quyền của Trung Quốc. Đây là một quá trình tiệm tiến, thành hình sau hàng chục năm. Trong nước hình như không ai biết đến sự đổi thay này. Quả nhiên, đó là « công lao » của học giả nô tài, là do hiệu quả của những liều thuốc an thần.

Bây giờ, khi mà phía Trung Quốc đưa giàn khoan vào vùng biển của VN để khai thác, ta mới thấy sự lúng túng của phía VN, từ lãnh đạo cấp cao nhà nước cho tới tầng lớp trí thức nô tài. Riêng người dân thì, không chừng, vẫn còn đang gật gờ dưới hiệu quả của những thang thuốc ngủ.

Không mấy ai thấy và hiểu được những sự thật éo le được che đậy phía dưới tấm bình phong 4 tốt và 16 chữ vàng. Khi có người nhắc đến bất kỳ điều nào có thể đe dọa đến vẹn toàn lãnh thổ của VN, người đó nhất định là Tàu, là phản động, là phản quốc, là tay sai đế quốc Mỹ...

Lẽ thường, lãnh đạo nghe học giả để có cái nhìn chiến lược. Rốt cục cả nước chỉ toàn nghe những dối gian hay những « lời chim chóc » ! Cái nhìn chiến lược cũng bị méo mó.

Những lời thật đã nói lên. Dĩ nhiên, do « thật », thì nếu không mất lòng thì cũng rất khó nghe. Rốt cục có mấy ai nghe ?

Bây giờ mất nước đã là sự thật. Nếu xét nguyên nhân, ai là thủ phạm, thì lãnh đạo CSVN là những người trọng tội hàng đầu. Tiếp theo là tầng lớp trí thức nô tài, những người sẵn sàng hóa trắng thành đen, biến không thành có để bảo vệ chủ. Sau cùng, thành phần đồng lõa, là các cơ quan truyền thông, các trang web « độc lập » có công đưa những liều thuốc an thần đó đến từng nhà, từng người, làm như 700 tờ báo và hàng trăm đài radio, truyền hình trong nước làm việc chưa đủ hiệu quả.

Việt Nam cô đơn hơn bao giờ hết. Tranh chấp Hoàng Sa không hề được ghi trong DOC (Tuyên bố ứng xử giữa TQ và các nước ASEAN). Các nước ASEAN đứng ngoài, không có ý kiến về vụ này là hợp lý. Còn Hoa Kỳ, từ thập niên 90 đã có tuyên bố « không có ý kiến » về tranh chấp chủ quyền các đảo ở biển Đông, chỉ yêu cầu tôn trọng quyền tự do qua lại và các bên tôn trọng Luật Biển 1982. Việc TQ đặt giàn khoan 981 có vi phạm Luật Biển 1982 không ? Theo tôi là không. Mỹ cũng không thể tuyên bố đi quá những gì đã cam kết trong quá khứ. Còn Nga, họ chỉ mong cho hai bên Việt-Trung sớm đánh nhau để bán thêm vũ khí.

Vì vậy, mất nước trước hết do mình. Sau đó mới là giặc.

jeudi 8 mai 2014

Tiến thoái lưỡng nan.

Vấn đề đã không bi đát nếu ngày xưa MTGPMN và VNDCCH ký tên vào bản tuyên bố của VNCH lên án Trung Cộng xâm lăng Hoàng Sa năm 1974. Quần đảo Hoàng Sa và vùng biển chung quanh nếu vậy đã là « vùng có tranh chấp ».  

Người ta thường nghe tới « vùng tranh chấp » nhưng có lẽ ít người biết lợi hại của nó như thế nào.

Phía Trung Quốc, trước năm 1932, họ có tuyên bố đại khái lãnh thổ cực nam của họ là quần đảo Hoàng Sa. (Trước năm 1909, trong sách sử của họ thì ghi lãnh thổ vùng cực nam của họ là mũi Tam Nha, đảo Hải Nam). Nhưng lần hồi họ « bung » ra, hết lên tiếng đòi chủ quyền chỗ này, rồi đòi chỗ kia. Họ lên tiếng đòi Trường Sa chỉ sau khi Thế chiến thứ II chấm dứt. Mỗi lần họ lên tiếng như vậy là họ biến một vùng « không có tranh chấp » thành một vùng « có tranh chấp ».

Họ thành công là do đảng CSVN thiếu những lãnh đạo có tầm nhìn chiến lược (và không có người thực tâm yêu nước).

Trong quá khứ, lãnh đạo CSVN đã lần lượt nhìn nhận những đòi hỏi của TQ, ít ra la 4 lần : 1/ Ông Ung Văn Khiêm năm 1956, cho rằng « chiếu theo lịch sử của VN thì Tây Sa và Nam Sa thuộc TQ. 2/ Công hàm 1958 của Phạm Văn Đồng nhìn nhận lãnh hải 12 hải lý của TQ (bao gồm Tây Sa và Nam Sa). 3/ Nhìn nhận vùng biển của TQ vì phản đối sự hiện diện của Đệ VII hạm đội Mỹ tại vùng biển Hoàng Sa năm 1965 (trên nhật báo Nhân Dân). 4/ Nhìn nhận có « ba vùng biển tranh chấp » với TQ vào đầu thập niên 90.

Và khi nhìn nhận « có tranh chấp » là nhìn nhận sự hiện diện chính đáng của TQ tại các vùng biển đó. Và khi nhìn nhận tính chính đáng sự hiện diện của bên kia, giải pháp thường là « khai thác chung ».

Vùng biển Trường Sa, theo khuynh hướng « tát nước theo mưa » của các học giả VN qua các bài viết trong quá khứ, rất có thể sẽ được giải quyết theo chiều hướng cộng đồng khai thác với TQ.

Còn vùng biển Hoàng Sa, VN hiện nay không có bất kỳ một bằng chứng nào để chứng minh rằng vùng lãnh thổ đó thuộc VN, ngoại trừ phải dùng đến các bằng chứng cũng như danh nghĩa chủ quyền của Việt Nam Cộng Hòa ngày xưa.

VN cũng không có bất kỳ một thỏa thuận nào với TQ, hay một lời bảo lưu nào để cho rằng vùng biển Hoàng Sa là vùng biển có tranh chấp, ngoại trừ các tuyên bố và tờ Bạch Thư do phía VNCH lập ra (mà MTGPMN và CNDCCH không có ký vào).

Vấn đề là lãnh đạo CSVN chưa hề có tuyên bố kế thừa, cũng như chưa hề có một động thái trước quốc tế nhằm kế thừa danh nghĩa VNCH tại HS và TS.

Khi không chứng minh được vùng lãnh thổ đó (Hoàng Sa) là lãnh thổ của mình, cũng không chứng minh được vùng biển đó « có tranh chấp », sự việc gọi là « tự vệ chính đáng », theo định nghĩa của công pháp quốc tế, sẽ không hiện hữu.

Phía TQ chắc chắn sẽ không có một nhượng bộ nào ở giàn khoan 981. Phía VN nổ súng trước là có nguy cơ chiến tranh mà phía VN là bên gây sự.

Dàn khoan này sẽ đặt ở đây, sẽ khai thác các mỏ có dầu hay khí đốt, nếu có. Sản phẩm của nó sẽ được ống dẫn về đảo đến Hải Nam. Vài tháng sau, công tác khoan mỏ hoàn tất, nó sẽ di chuyển hướng về phía tây, tức phía bờ biển VN, để khoan tiếp. Đó là cách « đánh dấu chủ quyền » của TQ tại vùng biển này. Tiên đoán sẽ là đường trung tuyến giữa các đảo Hoàng Sa (có thể tính từ đảo Tri Tôn) với bờ biển VN.

Và phía TQ, theo thời gian và thứ tự địa lý, họ sẽ làm y như vậy ở vùng biển Trường Sa.

Ta đã thấy hiện nay VN lâm vào thế tiến thoái lưỡng nan. Đánh thì không dám đánh, vì sợ mất hết. Không đánh cũng không xong, vì mang tiếng trước nhân dân là hèn hạ, bán nước.

Vấn đề này tôi đã dự đoán cách đây cả chục năm, đã từng đề nghị phương pháp « kế thừa VNCH » để có danh nghĩa chủ quyền (de jure – trên giấy tờ) ở Hoàng Sa, nhằm đưa khu vực biển này vào thế « vùng biển có tranh chấp ». Bây giờ nước đến chân rồi thì nhảy đi đâu ?

Chỉ còn một nước ba bảy cũng liều là cố gắng làm ầm vụ này lên, sao cho tình hình khu vực thật căng thẳng để tạo chú ý ở quốc tế, sau đó đưa ra một tòa án quốc tế. Đưa ra tòa không phải để được tòa xử mà để đưa VN và một tư thế thoải mái hơn : khu vực biển Hoàng Sa là một khu vực có tranh chấp. Từ đó đi tìm một giải pháp (mất ít nhất) cho VN.


Nhưng điều quan trọng vẫn là tương lai : vùng biển Trường Sa. Nếu không dự liệu trước thì cũng sẽ lâm vào tình trạng ngày hôm nay.

mercredi 7 mai 2014

Kiện cái gì ở Hoàng Sa (2) ?

Nhiều người cho rằng đã đến lúc « chín mùi » để đưa vụ Hoàng Sa ra Tòa Án quốc tế. Thời điểm gọi là « chín mùi » thực ra đã qua từ rất lâu.

Ở Hoàng Sa người ta có thể kiện Trung Quốc ở các việc (ra một trọng tài quốc tế) : 1/ Về hành vi cưỡng chiếm bằng vũ lực của Trung Quốc. 2/ Kiện để giải quyết một tranh chấp về lãnh thổ.

Trước 1975, VNCH không có tư cách pháp nhân (quốc gia), không có ghế đại diện tại LHQ, nên không thể triệu tập Hội đồng Bảo An LHQ để tố cáo hành vi xâm lăng của TQ. VNCH cũng không được sự đồng thuận của MTGPMN (và VNDCCH) khi yêu cầu những thành phần này ký vào văn bản lên án hành vi xâm lăng của TQ. Một mình VNCH không đủ tư cách đại diện cho quốc gia Việt Nam (từ Lạng Sơn đến Cà Mau). Không đạt được sự đồng thuận từ hai lực lượng chính trị này, việc đưa ra một tòa án quốc tế là một ảo tưởng.

Sau năm 1976, VN thống nhứt, CHXHCNVN được gia nhập LHQ năm sau. VN bấy giờ có đầy đủ tư cách để kiện TQ ra một trọng tài quốc tế về việc nước này xâm lăng Hoàng Sa. Lãnh đạo CSVN đã quyết định không thực hiện việc này. Và họ cũng không có một kế hoạch nào để lấy lại Hoàng Sa. Tức là, cho chừng mực nào đó, lãnh đạo CSVN muốn giao Hoàng Sa cho Trung Quốc.

Điều thậm tệ đến vào năm 1988, khi TQ đưa quân chiếm đá Gạc Ma cùng một số đá, bãi chìm khác tại Trường Sa.

Đá Gạc Ma chỉ là một rạng san hô, không phải là đảo, phụ thuộc vào đảo chính là đảo Sinh Tồn. Cụm đảo Sinh Tồn, cùng một số cụm đảo khác ở Trường Sa, đã được nhà nước bảo hộ Pháp tuyên bố chiếm hữu, dựng mốc đánh dấu chủ quyền đồng thời gởi thông báo cho các cường quốc khác về việc chiếm hữu này. Công việc tuyên bố chủ quyền và chiếm hữu các đảo TS đã diễn ra tốt đẹp, không gặp sự phản đối nào, kết thúc vào năm 1933.

Theo tập quán quốc tế, TQ hay bất kỳ một nước nào khác không thể chiếm đá Gạc Ma, cho dầu trên đây không có người trấn giữ. Đảo Sinh Tồn thuộc VN thì các đá, cồn, bãi, đảo phụ… đều phụ thuộc vào đảo chính là đảo Sinh Tồn (theo án lệ đảo Palmas của Tòa Trọng tài 1928).

Sự việc xảy ra, TQ cho quân đánh chiếm đá Gạc Ma cùng một số đá khác. VN đã không có phản ứng thích hợp đối với hành vi xâm lăng này của TQ. VN lúc này có đầy đủ tư cách pháp nhân, có thẩm quyền triệu tập Hội đồng Bảo an LHQ để phản đối TQ, hay có đủ thẩm quyền để kiện TQ ra trước một tòa án quốc tế. Lãnh đạo VN đã chọn thái độ ngu xuẩn nhứt, là không làm gì cả (ngoài việc cho phát ngôn nhân… phun nước bọt).

Phía VN phun nước bọt (và tiếp tục phun cho đến nay), phía TQ sau khi chiếm thì xây dựng, và tiếp tục xây dựng, đá Gạc Ma (và các đá khác) trở thành một đảo (nhân tạo). Đá Gạc Ma nay mai sẽ trở thành một đảo lớn, có đường bay cho phi cơ quân sự. Trong chừng mực, đảo Sinh Tồn đã trở thành một đảo phụ của Gạc Ma. Tức là, trên phương diện địa lý, đảo Sinh Tồn phụ thuộc vào « đảo » Gạc Ma. Ưu thế pháp lý của VN (mà VN không biết sử dụng) đã chuyển nhẹ nhàng sang Trung Quốc.

Vừa rồi TQ có đưa giàn khoan đặt kế cận đảo Tri Tôn (cách đảo 18 hải lý), theo hướng tây-nam, cách đảo Lý Sơn của VN khoảng 119 hải lý. Vấn đề Hoàng Sa « nóng » lên lại. Nhưng các học giả của VN (và vài học giả quốc tế) hình như có vấn đề về mắt, không thấy quần đảo Hoàng Sa với đảo Tri Tôn nằm chình ình, mà chỉ thấy « đường lưỡi bò » !

Bên BBC có dẫn lời học giả Ian Storey, thuộc Viện Nghiên cứu Đông Nam Á ở Singapore như vầy :

Việc TQ cho đặt giàn khoan trên thềm lục địa của VN là chỉ dấu rằng Trung Quốc đang khẳng định quyền thăm dò và khai thác tài nguyên trong đường chín đoạn của mình cho dù nguồn tài nguyên đó có nằm trong EEZ của quốc gia khác hay không.

Xin thưa rằng vị trí giàn khoan cách đảo Lý Sơn của VN là 119 hải lý, nhưng nó chỉ cách đảo Tri Tôn (thuộc quần đảo Hoàng Sa) có 18 hải lý.

Nếu đảo Tri Tôn được hưởng qui chế « đảo » theo định nghĩa của Luật biển, tức là có lãnh hải 12 hải lý, (vùng tiếp cận lãnh hải 12 hải lý) và vùng Kinh tế độc quyền 200 hải lý. Nếu nó không được nhìn nhận là đảo, thì nó cũng có lãnh hải (và vùng tiếp cận lãnh hải) 24 hải lý.

Vấn đề ở đây sẽ là việc chồng lấn vùng biển giữa hai đảo (Lý Sơn và Tri Tôn) chứ không liên quan gì đến đường 9 đoạn chữ U.

Tức là không hề có vụ « đường chín đoạn » như ý kiến của TS Ian Storey, mà là vấn đề tranh chấp về chủ quyền Hoàng Sa giữa VN và TQ.

Có học giả VN lên tiếng rằng đảo Tri Tôn là « bãi ngầm » nên nó không có hiệu lực biển. Điều này hoàn toàn sai. Có thể đảo Tri Tôn chưa thể là đảo để được hưởng qui chế của « đảo » theo điều 121 của Luật Biển 1982. Nhưng chắc chắn một điều là nó không phải là « bãi chìm ». Mặt khác, nếu tính hiệu lực các đảo khác ở HS, thì vị trí của giàn khoan 981 cũng ở vùng chồng lấn giữa các đảo này và bờ biển VN.

Nhưng việc bàn luận đảo Tri Tôn là đảo hay bãi chìm là lạc đề. Vì cấu trúc địa lý này có là cái gì thì nó cũng thuộc quần đảo Hoàng Sa mà quần đảo này của Việt Nam từ bao đời nay rồi !

Như thế, đối phó với việc TQ đưa giàn khoan vào khai thác mà chỉ nói về « đường lưỡi bò », nói hiệu lực các đảo, là lạc đề, nếu không nói là cố ý đánh lạc hướng dư luận, hướng mũi căm thù của nhân dân VN về hướng TQ. Đây là thái độ không lương thiện. Trọng tâm của vấn đề : Hoàng Sa là của VN và làm thế nào để lấy lại Hoàng Sa.

Luật pháp quốc tế không nhìn nhận tính chính đáng của việc thụ đắc lãnh thổ bằng vũ lực. Chủ quyền của Trung Quốc trên quần đảo Hoàng Sa, theo quốc tế công pháp, là không được nhìn nhận. Tức là việc cho khai thác tại khu vực đảo Tri Tôn là xâm phạm lãnh thổ của VN.

Vậy Việt Nam có thể  đứng ra kiện Trung Quốc về việc này ?

Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam có tư cách pháp nhân của một « quốc gia », là đối tượng của công pháp quốc tế. Nhưng thực thể này không có tư cách pháp nhân để kiện Trung Quốc ở Hoàng Sa.

Lý do : 1/ Trung Quốc chiếm Hoàng Sa trên tay của VNCH chứ không phải trên tay CHXHCNVN. 2/ VNDCCH lúc đó không lên tiếng phản đối việc TQ xâm lăng, cũng không ký tên vào bản tuyên bố lên án TQ của VNCH, VN hôm nay đã mất tố quyền.

CHXHCNVN chỉ có thể đứng tên kiện TQ ở vấn đề Hoàng Sa khi và chỉ khi kế thừa di sản VNCH một cách hợp pháp.

Kế thừa bằng cách nào ?

Tôi đã nói đi nói lại vấn đề này ít ra từ 15 năm nay. Kế thừa qua hai bước : 1/ hòa giải quốc gia (hay hòa giải dân tộc, tùy cách gọi – réconciliation nationale), 2/ Dân chủ hóa chế độ.

Hòa giải quốc gia để kế thừa danh nghĩa VNCH. Dân chủ hóa chế độ để đoạn tuyện với quá khứ VNDCCH (cùng với công hàm 1958, tuyên bố của Ung Văn Khiêm…).

Chỉ khi có danh nghĩa chủ quyền ở Hoàng Sa, danh chánh thì ngôn (và hành) mới thuận, VN hôm nay có thể kiện TQ về vấn đề chủ quyền Hoàng Sa.

Nhiều người cũng đã nói đến vấn đề « tự vệ ». Nhưng việc tự vệ chỉ chính đáng khi VN chứng minh được Hoàng Sa thuộc chủ quyền của VN.

VN đệ đơn kiện TQ ra tòa CIJ, hô hào triệu tập Hội đồng Bảo An LHQ, hô hào triệu tập Đại hội đồng LHQ… về hành vi bành trướng, xâm lấn của TQ, thì việc « tự vệ » của VN mới mang màu sắc « chính đáng », được sự hỗ trợ của dư luận thế giới.

Nếu VN kiện TQ ra Tòa án về Luật Biển về « hiệu lực các đảo », trong chiều hướng giảm thiểu hiệu lực các đảo HS, điều này cũng khả thi, nhưng trong chừng mực nào đó chính thức công nhận chủ quyền của TQ tại HS.


VN vẫn có lối thoát ở Hoàng Sa, có điều trí thức VN, lãnh đạo hôm nay có dám đặt quyền lợi của đất nước lên trên quyền lợi của cá nhân và đảng phái hay không ?