lundi 16 février 2015

Biên giới Việt Trung : tấc đất tấc máu.

Cuộc chiến biên giới Việt-Trung bắt đầu từ 17-2 năm 1979, trên danh nghĩa thì kết thúc khoảng một tháng sau đó. Cuộc chiến xảy ra nhanh chóng và kết thúc cũng nhanh chóng nhưng mức độ khốc liệt thì tỉ lệ nghịch với thời gian. Về phía VN, các tỉnh biên giới, vì là chiến trường, hạ tầng cơ sở (các tỉnh như Lạng Sơn, Cao Bằng, Lào Cai…) có thể nói bị thiệt hại từ 90 đến 100%. Con số chết chóc, dân sự và quân đội của hai bên rất cao, (ít nhất 120.000 người) so với cái giá phải trả (mục tiêu chiếm được). Nếu lấy thây người chết trong cuộc chiến dàn trải ra, chắc sẽ phủ đầy những khu vực đất bị đổi chủ quyền.

(Hai bên Việt Nam và Trung Quốc, sau khi ký kết hiệp định phân định lại biên giới trên đất liền năm 1999, hoàn tất cắm mốc năm 2008. Bộ bản đồ đính kèm mới được phía VN công bố trước công chúng năm 2013. Sau khi so sánh bộ bản đồ này với bộ bản đồ của Sở Địa Dư Đông dương (Pháp) ấn hành (theo tinh thần Công ước 1887). Bộ bản đồ này hiện được tồn trữ tại Văn khố Hải ngoại Pháp (CAOM, Aix-En-Provence). Hoặc so sánh với kỹ thuật đo đạc của Terrago Publisher trên các bản đồ (quân sự của Mỹ), ta thấy biên giới không thay đổi nhiều. Ở một số vùng vùng đất nhỏ (diện tích khoảng vài trăm thuớc đến 1 hoặc hai cây số vuông) thuộc các tỉnh  Lạng Sơn, Quảng Ninh, Cao Bằng, Lào Cai… bị nhượng cho Trung Quốc.)

Có những nơi, núi Lão Sơn (TQ chiếm được của VN), diện tích chỉ tương đương vài sân banh. Nếu lấy thây người dàn trải ra thì đất không đủ chỗ. Cuộc chiến khu vực này kéo dài cho đến cuối thập niên 80, quân đội hai bên, hàng sư đoàn đã ngả xuống ở đó.

Tấc đất là tấc máu. Nghiên cứu biên giới vì vậy gắn liền với nghiên cứu lịch sử. Nếu chỉ nói cuộc chiến 1979, hàng trăm ngàn người đã tham gia cuộc chiến để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Hàng chục ngàn người đã ngả xuống để bảo vệ các vùng đất đó. Có dư luận cho rằng bài viết gần đây của tôi góp ý với TS Trần Công Trục về Ải Nam Quan là « xét nét, bắt lỗi từng chút ». Theo tôi, sẽ là một sự xúc phạm nếu ta xét lại chủ quyền các vùng đất này bằng « cảm tính », bằng « dối trá », hay bằng con mắt chủ quan, hờ hững. Nghiên cứu khoa học, tường tận, chính xác không phải là « xét nét », mà là « devoir de mémoire – trách nhiệm lịch sử » của người nghiên cứu đối với công lao máu xương của những người đã hy sinh.

Bài này ghi lại các biên bản cắm mốc khu vực biên giới Vân Nam, từ hợp lưu sông Hồng đến giáp giới Quảng Tây-Vân Nam, trích từ tập tài liệu « Biên giới Việt-Trung 1885-2000 – Lịch sử thành hình và những tranh chấp », in năm 2005 của cùng tác giả. Tác giả chuyển ngữ từ các văn bản gốc (tiếng Pháp). Việc công bố nhằm tiện việc khảo cứu về các vùng biên giới của VN bị nhượng cho TQ sau này.



Biên Bản số 2

Ðoạn thứ 1 : Từ hợp lưu sông Long Bác (龍賻) với sông Hồng (紅河) đến sông Qua Sách (戈索河)

    Ðể phân giới đoạn biên giới này hai ủy ban có cùng ý kiến rằng phải theo nội dung của biên bản phân định biên giới của đoạn thứ 1, ký tại Lào Kai ngày 19 tháng 10 năm 1886 (nhằm ngày thứ 22, tháng thứ 9, năm Quang Tự thứ 12). Nhưng một thoả thuận chung được hai bên công nhận, vì lý do sai lầm của các ủy ban phân định đem lại từ sự thiếu sót thông tin trắc địa, đã không ghi nhận đoạn biên giới từ Tân Ðiếm (新店) (Trung Hoa) đến sông Qua Sách (戈索河), bỏ quên vì vậy một khoảng trống giữa đoạn biên giới thứ 1 và đoạn biên giới thứ 2.

    Ðể sửa chữa việc thiếu sót này, hai ủy ban thoả thuận rằng đoạn biên giới thứ 1 bắt đầu từ hợp lưu sông Long Bác (龍賻) với sông Hồng và chấm dứt tại sông Qua Sách  (Qua Sách Hà戈索河) .

    Việc nầy quyết định : Công nhận đồ tuyến của đoạn biên giới thứ 1 từ đây về sau giữa Trung Hoa và Pháp, sẽ là đường trên bản đồ kèm theo biên bản này, theo đó đồ tuyến phản ảnh  trên thực địa theo cách như sau :

    Từ hợp lưu sông Long Bác với sông Hồng, đường biên giới theo trung tuyến sông Hồng cho đến hợp lưu của sông này với sông Nam Tây (Nam Tây Hà 南洗河),  sau đó đường biên giới theo  sông Nam Tây cho đến hợp lưu giữa nó với sông Bá Kết (Bá Kết Hà結河), đường biên giới đi ngược sông Bá Kết cho đến hợp lưu giữa nó với  con sông có tên Thiên (Thiên Hà千河), sau đó theo Thiên Hà cho đến điểm mà con sông nhỏ này bị cắt ngang do con đường từ Cốc Phương (谷方) đến Lão Ao Trang (老凹), tức là cách làng Cốc Phương 900 thước.
   
    Từ điểm này đường biên giới lên đất liền cho tới sông Qua Sách, là một phụ lưu của sông Chảy (Hắc Hà 黑河), theo hướng tổng quát Ðông Bắc.
   
    Trong toàn đoạn này, đường biên giới là đường sống núi, tức đường đường phân thủy chia :

    1/ Thung lũng sông Thiên Hà thuộc Vân Nam với thung lũng sông Bá Kết thuộc An Nam.

    2/Thung lũng sông Nhai Ná (Nhai Ná Hà 崖那河) thuộc Vân Nam với thung lũng sông Thiên Câu (Thiên Câu Hà千溝河), là một phụ lưu tả ngạn của sông Ðại Lang (Ðại Lang Hà千郞河 ), thuộc An Nam.

    3/ Các thung lũng của các phụ lưu sông Nam Tây thuộc Vân Nam với thung lũng sông Ðại Lang của An Nam.

    4/ Những thung lũng thuộc thuộc hợp lưu sông Nam Tây của Vân Nam với những thung lũng thuộc phụ lưu của sông Chảy của An Nam.

    5/ Những thung lũng thuộc phụ lưu của sông Kiều Ðầu (Kiều Ðầu Hà 橋頭河)  thuộc Vân Nam với những thung lũng thuộc các phụ lưu của sông Chảy thuộc An Nam.

Hai mươi cột mốc đã được cắm trên đoạn biên giới này.

Cột số 1 : giao điểm giữa sông Thiên Hà với con đường từ Cúc Phương đến Lão Ao Trang, dưới chân một cụm núi chắn ngang.

Cột số 2 : trên đường từ Long Ba Mỹ (龍波美)  đến Bạch Thạch Nhai (白石崖).

Cột số 3 : ở một cái đèo, trên đường từ Nam Trại (南寨) đến Giáp Mã Thạch (夾馬石).

Cột số 4 : ở một cái đèo, trên đường từ Nam Trại (南寨) đến Tân Trại (新寨)..

Cột số 5 : đường từ Nam Trại đến Thủy Ðối Phòng (水碓防).

Cột số 6 : đường từ Thiên Hà Trại (千河寨) đến Thủy Ðối Phòng.

Cột số 7 : đường từ Tân Trại đến Tân Ðiếm (新店), ở gần Ðộc Mộc Kiều (獨木橋).

Cột số 8 : đường từ (Mãnh Khang) Mường Khương (猛康) đến Tien Tang.

Cột số 9 : tại giao điểm của các con đường từ Mường Khương (Mãnh Khang) và từ Hắc Sơn Bá (黑山埔) đến Tân Ðiếm.

Cột số 10 : ở giữa đèo, trên đường từ Thổ Mã (土馬) đến Tân Ðiếm.

Cột số 11 : đường từ Vân Niên Chu (萬年) đến Ðiền Phòng (田房).

Cột số 12 : điểm chia các con đường Tân Ðiếm đến Ba Long (芭龍) và từ Bàn Mao Trại (…茅寨) đến Bảo Ðấu Trại (保頭寨).

Cột số 13 : ở giữa đèo, trên con đường từ Lạc Thủy Ðộng (洛水洞) đến Thạch Mã Ðộng (石馬洞).

Cột số 14 : đường từ Ca Phòng (卡房 ) đến Thạch Mã Ðộng.

Cột số 15 : đường từ Tsao Ko Tsing đến Thạch Mã Ðộng.

Cột số 16 : ở giữa đèo, trên đường từ Lão Bảo Trại (老保寨) đến Lão Tá Lạp (老拉).

Cột số 17 : ở giữa đèo, trên đường từ Nhai Đầu (崖頭)  đến Ðường Tử Biên (塘子邊).

Cột số 18 : ở đèo Mao Thảo Trại (茅草寨),  phía Nam của làng cùng tên.

Cột số 19 : ở giữa đèo, trên đường từ Phiên Sơn Ca (飜山卡) đến Hắc Bì Trại (黑皮寨 ).

Cột số 20 : ở giữa đèo, trên đường từ Tân Trại đến Hắc Bì Trại.

Cột số 21 : ở giữa đèo, trên đường từ Ba Long đến Lão Lưu Trại.

Cột số 22 : ở giữa đèo, trên đường từ Lão Ca Tân Trại đến Ðiền Phòng.

     Làm và kết thúc tại Lào Kai hai bản bằng tiếng Pháp và hai bản tiếng Tàu, ngày mười ba tháng sáu năm một ngàn tám trăm chín mươi bẩy. (Nhằm ngày thứ mười bốn, tháng thứ năm, năm Quang Tự thứ hai mươi ba).

Biên bản số 3

Ðoạn biên giới thứ 2 : Từ Qua Sách Hà ( ) đến Cao Mã Bạch ( ) thuộc Bắc Kỳ và Tân Nhai ( ) thuộc Vân Nam.

    Ðoạn biên giới này hai ủy ban công nhận rằng không thể áp dụng trên thực địa theo đồ tuyến đường biên giới của Ủy Ban Phân Ðịnh (1885 1887). Hai bên đồng ý lập một đồ tuyến mới, phản ảnh đúng nhất có thể được, để phù hợp với địa lý làm thành biên giới tự nhiên cũng như sự toàn vẹn các đơn vị hành chánh của địa phương, đồng thời để ý đến nội dung biên bản phân định biên giới đoạn thứ 2 ; ký tại Lào Kay ngày 19 tháng 10 năm 1886 (ngày 22 tháng 9 năm Quang Tự thứ 12) cũng như biên bản bế mạc ký tại Bắc Kinh ngày 26 tháng 6 năm 1887 và công ước bổ túc ngày 20 tháng 6 năm 1895.
    Việc này hai bên quyết định công nhận một thoả ước chung, rằng đồ tuyến của đoạn biên giới thứ 2 từ nay về sau trong những liên hệ giữa hai nước Pháp Trung, sẽ là đồ tuyến vẽ trên địa đồ kèm theo biên bản này, theo đó đường biên giới sẽ định trên thực địa như mô tả sau đây :

    Từ điểm chấm dứt đoạn biên giới thứ nhứt trên sông Qua Sách (Qua Sách Hà ), đường biên giới từ điểm này xuôi dòng chảy cho đến hợp lưu với sông Chảy (Hắc Hà ), đường biên giới rời sông Qua Sách bắt qua sông Chảy, đi ngược sông cho đến điểm hợp lưu với sông Nam Len (Ðông Nhai Hà ).

    Ðường biên giới sau đó lên bộ theo hướng Ðông Bắc, trước hết theo đường phân thủy chia thung lũng sông Chảy với thung lũng sông Nam Len (Ðông Nhai Hà), sau đó theo đường phân thủy chia thung lũng sông Nam Tùng (Nam Tùng Hà南松河) và sông Qua Nhai (Qua Nhai Hà戈街河).

    Ðường biên giới xuống đột ngột để bắt vào sông Qua Nhai, tại điểm cách hợp lưu sông này với sông Nam Bắc Hà (南北河) khoảng 300 thước, đi ngược sông cho đến giao điểm của sông này với đường từ Bảo Lương Nhai (保良街) đến Ðại Mao Thảo Pha (大茅草坡).

    Từ đây đường biên giới bắt vào núi tên là Bản Cử Sơn (板子山), đi theo hướng Ðông Bắc, theo đường phân thủy ở giữa hai đường đi từ Muong Tung (Mãnh Cang 猛崗) đến Trung Hoa và đường đi từ Thanh Thủy (Thanh Thủy Hà清水河)đến Việt Nam.

    Ðường biên giới sau đó vào sông Na La (Ná La Hà那河)tại nguồn, xuôi theo sông cho đến hợp lưu với sông Khai Hóa ( )(sông Claire, tức sông Lô), cắt qua sông Lô, theo các đỉnh núi cao, qua Biên Mã Sơn (褊馬山)và Bạch Hữu Nhai (白山崖),lấy qua hướng Bắc, theo đường phân thủy ở phía Ðông của Nam Ðộng (南洞), cho đến Lục Thủy Hà Ca (綠水河卡) và đến gần Tân Nhai (新寨) bắt đầu cho đoạn thứ 3.

    Trong đoạn thứ 2 các xã Tụ Nghĩa (Tụ Nghĩa Xã聚義社), Tụ Hoa (Tụ Hòa Xã 聚和社), Tụ Long (Ðô Long 都龍), Mãnh Cang (猛崗), Phân Vũ (奮武), Ðông An Lý ( 安里)nhường cho Trung Hoa ; các xã Tụ Nhân (聚仁), Hữu Bằng (有朋), Mạn Mỹ ( ), Phương Ðô (Phương Lục豐綠), Ðại Miên (大鴻)và Tiểu Mien (Nam Thiên Môn ) nhường cho An Nam. Có mười chín cột mốc được cắm trong đoạn thứ hai :

Cột số 1 : tại hợp lưu sông Chảy (Hắc Hà黑河) và sông Nam Len (Ðông Nhai Hà銅街河).

Cột số 2 : đường từ Tân Trại (新寨) đến Thạch Ca Lập (石卡苙).

Cột số 3 : đường từ Man Cái (漫蓋) đến Thanh Môn (菁門).

Cột số 4 : đường từ Lục Thủy Ðồng (綠水洞) đến Thanh Môn (菁門).

Cột số 5 : đường từ Mao Bình (茅坪) đến Thanh Môn (菁門).

Cột số 6 : đường từ Mao Bình (茅坪) đến Hạ Nam Thanh (下南菁).

Cột số 7 : ở đỉnh đèo, trên đường từ Nam Tùng (南松)  đến Mạn Mỹ (漫美).

Cột số 8 : gần Qua Nhai Hà (戈街河)và cách hợp lưu sông này với sông Nam Bắc (南北河) 500 thước

Cột số 9 : dưới chân một núi rặng núi mới bắt đầu, tại điểm mà con đường từ Báo Lương Nhai(保良街)đến Ðại Mao Thảo Pha (大茅草坡)đi qua sông Nam Giang ( 江河).

Cột số 10 : trên đèo Ðại Mao Thảo Pha (大茅草坡).

Cột số 11 : ở đỉnh đèo, trên đường từ Mãnh Ðồng Trung (猛崗中) đến Lão Trại ( ).

Cột số 12 : đường từ Tân Trại (新寨) đến Thanh Thủy (清水).

Cột số 13 : tại Phát Hãn Trại (發汗寨), trên đường từ Thanh Thủy (清水) đến Long Ðàm (龍潭).

Cột số 14 : trên đỉnh của núi Bạch Thạch Nhai (白石崖).

Cột số 15 : trên đường từ Long Ðàm (龍潭) đến Mãn Sanh (漫生).

Cột số 16 : đường từ Sơn Cước () đến Mãn Sanh (漫生).

Cột số 17 : đường từ Thạch Duẫn (石筍) đến Tie Tchang.

Cột số 18 : trên núi ở phía Nam Che Sen (石筍).

Cột số 19 : trên đỉnh đèo Lục Thủy Hà Ca (綠水河卡), ở phía Ðông và phía trước cửa ải.

Làm xong tại Lào Kay hai bản tiếng Pháp và hai bản tiếng Hoa, ngày mười ba tháng sáu năm một ngàn tám trăm chín mươi bẩy, nhằm ngày mười bốn, tháng năm, năm Quang Tự thứ hai mươi ba.


Biên bản thứ 4

Các đoạn biên giới thứ 3 và thứ 4 : Từ Tân Nham (Trung Hoa) và Cao Mã Bạch (Việt Nam) đến biên giới Quảng Tây 西.

    Ðể phân giới vùng biên giới này hai ủy ban có ý kiến rằng phải theo tinh thần và nội dung của các biên bản phân định biên giới ký tại Lào Kay ngày 19 tháng 10 năm 1886, nhằm ngày 12 tháng 9 năm Quang Tự thứ 12.

    Vì các biên bản đã không có những tranh chấp gay gắt trên thực địa, nên hai bên quyết định nhập các đoạn này lại làm 1. Trong đoạn biên giới thứ 4, số thứ tự các cột mốc và những ghi chú ghi trên các tảng đá bắt đầu trong đoạn biên giới thứ 3.

    Hai bên thỏa thuận rằng các đồ tuyến của đoạn biên giới thứ 3  thứ 4, từ nay trở đi giữa Pháp và Trung Hoa, sẽ là đồ tuyến vẽ trên bản đồ kèm theo biên bản này, theo đó đường biên giới trên thực địa được mô tả như sau :

    Ðường biên giới bắt đầu từ cột mốc số 1 cắm về hướng Ðông Nam cách Tân Nham khoảng 2 dặm, từ đây theo sống núi giới hạn thung lũng Lục Thủy Hà  ; đến phía Bắc của Cao Mã Bạch 高馬白, đường biên giới theo hướng Na Lang Ca , hướng tổng quát là Bắc Ðông Bắc, theo sống núi đá ra đến rặng núi lớn từ Nham Cước Nhai đến Na Lang Ca 那郎卡, đường biên giới nghiêng về hướng Ðông và vẫn theo rặng núi này cho đến vùng chung quanh của làng Na Canh  ; tại đây đường biên giới lấy hướng Bắc Ðông Bắc đi xuống về sông Bá Bất , qua sông và tiếp tục theo hướng này cho đến con đường Ðạt Thiên , tại đây đường biên giới theo hướng Ðông Nam đến gần sông Bá Bất (Bá Bất Hà). Từ điểm này cho đến khoảng Mao Sơn Ca đường biên giới theo hướng Ðông Bắc, xuôi theo đường sống núi chính, qua các nơi Khấu Lãnh Ðại Ca , Long Lặc Ca , Sái Tảo Ca và Phổ Long Ca . Từ Mao Sơn Ca cho đến Mao Bái Ca đường biên giới có hướng tổng quát Ðông, theo các đường đỉnh và đi qua Sung Tán Ca , Tiểu Ca , Xuyên Ðộng Ca 穿 và Mao Bái Ca .

    Từ Mao Bái Ca đến sông Nho Quế (Pou Mei Ho   Phổ Mai Hà ), đường biên giới lấy hướng Bắc Ðông Bắc qua Mã Sinh Ca , sau đó vào giữa Mã Giang Ca thuộc Trung Hoa và Mã Lộng Ca thuộc An Nam, đi qua tiếp theo một chuổi các đỉnh núi để sau đó đi vào giữa Long Qua Ca 龍戈卡thuộc Trung Hoa với Long Cổ Ca thuộc An Nam và cuối cùng đi đến đến sông Nho Quế (Phổ Mai Hà ) qua một con dốc đứng.

    Ðường biên giới xuôi theo sông Nho Quế cho đến điểm ở giữa Lương Thủy Tĩnh 水井 thuộc Trung Hoa và Nham Long thuộc An Nam, đường biên giới lên đất liền theo hướng Ðông Nam, xuyên qua Long Ðàm Ca , sau đó chuyển hướng Ðông Bắc để đi qua Long Lâu Ca và đến Thượng Bồng thuộc An Nam để lấy hướng tổng quát Ðông Nam theo đường sống núi, để lại An Nam các phụ lưu của sông Nho Quế và để lại Trung Hoa phía cao của thung lũng Nhan Ðộng Hà , đường biên giới tiếp đó xuôi theo sông này đến Nhan Ðộng Hà Ca 河卡, tại đây đường biên giới đến gặp giao điểm của ba đường biên giới.

    Hai mươi bốn cột mốc đã được cắm :

Cột số 1 : cách Tân Nham 2 lý theo hướng Ðông Nam, ở một  cái đèo trên đỉnh cao những ngọn núi.

Cột số 2 : tại đèo ở phía Bắc Cao Mã Bạch 高馬白, trên đỉnh núi cao làm đường phân thủy.

Cột số 3 : tại đèo, trên đường từ Mao Thảo Pha   đến Nham Ðầu .

Cột số 4 : gần ở Bổng Giáp , và ở trên đường từ Bổng Giáp đến Na Lâm .

Cột số 5 : ở Na Lang Ca , trên đường từ Phan Chi Hoa đến Nham Cước .

Cột số 6 : ở Khuê Bố Ca , trên đường từ Khuê Bố thuộc Trung Hoa và Na Canh   thuộc An Nam.

Cột số 7 : tại Khấu Mãn Ðại Trại 滿 , trên đường nối từ Khấu Mãn Ðai Ca 滿   thuộc Trung Hoa đến Tha Môn Không       thuộc An Nam.

Cột số 8 : tại Long Lực Ca trên con đường nối Khấu Lãm (Trung Hoa) và Giang Lệ   (Việt Nam).

Cột số 9 : ở Sái Táo Ca trên con đường nối Mao Sơn Ca   (Trung Hoa) và Giang Lệ   (Việt Nam).

Cột số 10 : trên đường từ Mao Sơn Ca   (Trung Hoa) đến Tân Nhai (Việt Nam).

Cột số 11 : tại Sung Tán Ca   trên đường nối Sung Tán (Trung Hoa) với Thủy Ðầu (Việt Nam).

Cột số 12 : tại Tiểu Ca trên đường từ Tiểu Ca (Trung Hoa) đến Phổ Na (Việt Nam).

Cột số 13 : trên đèo có tên Ta Ca hay Xuyên Ðộng Ðại Ca 穿 trên đường nối Mã Xử   (Trung Hoa) với Phổ Bổng   (Việt Nam).

Cột số 14 : tại Mao Bài Trại trên đường nối Mao Bài (Trung Hoa) với Phố Bổng . 

Cột số 15 : ở Mã Sinh Trại , trên đường nối từ Ma Sinh (Trung Hoa) với Mã Nà  (Việt Nam).

Cột số 16 : trên đèo, khoảng giữa Mã Giang Ca (Trung Hoa) Tàu và Mã Lộng (Việt Nam), khoảng cách bằng nhau giữa hai làng.

Cột số 17 : trên đèo, trên con đường nối Long Qua Ca (Trung Hoa) với Long Cô (Việt Nam).

Cột số 18 : trên đường từ Lương Thủy Tĩnh 涼水井 (Trung Hoa) đến Nhai Long (Việt Nam), và để khoảng 1 lý cách sông Nho Quế (Phố Mai Hà ) về hướng Tây.

Cột số 19 : trên đèo, Trên đường từ Lương Thủy Tĩnh涼水井 (Trung Hoa) đến Long Ðàm (Việt Nam).

Cột số 20 : trên một đèo nhỏ, trên đường từ Long Lâu   (Trung Hoa) đến Thượng Bồng   (Việt Nam).

Cột số 21 : trên một đèo nhỏ, ở về phía Ðông của Thượng Bồng (Việt Nam), trên đường từ Ðiền Bàng Nhai (thuộc Trung Hoa) đến Thượng Bồng (thuộc Việt Nam).

Cột số 22 : khoảng 4 lý về phía Tây của làng Trung Hòa Trại , trên đường từ Trung Hòa Ca (thuộc Trung Hoa) đến Ðại Khẩu (thuộc Việt Nam).

Số 23 : cách Tiểu Ca khoảng chừng 3 dặm về phía Tây, trên đường từ Tiểu Ca (thuộc Trung Hoa) đến Trung Bồng   (thuộc Việt Nam).

Số 24 : trên bờ sông Nhan Ðộng (Nhan Ðộng Hà ), trước khi vượt sông nầy để đi từ Dao Nhân Trại   (thuộc Trung Hoa) đến Long Lan Nhai (thuộc Việt Nam).

Làm tại Lào Kai hai bản bằng tiếng Pháp và hai bản bàng tiếng Tàu ngày mười ba tháng sáu năm một ngàn tám trăm chín mươi bẩy, nhằm ngày mười bốn, tháng năm, năm Quang Tự thứ hai mươi ba.


Procès verbal N° 2

1e Section : Du confluent de Long Po (Ngoi Mit) (龍賻) avec le Fleuve Rouge  (紅河) jusqu’au Kosso Ho (戈索河)

    Pour l’abornement de cette partie de la frontière les deux commissions ont été d’avis que l’on devrait s’en tenir aux dispositions du procès verbal de délimitation de cette 1re  section, signé à Lao Kay le 19 Octobre 1886 (22e jour du neuvième mois de la douzième année de Kouang Shiu), mais d’un commun d’accord elles ont reconnu que par suite d’une erreur commise par les Commissions de délimitation, erreur provenant de l’absence de renseignements topographiques il n’avait pas été fait mention de la partie de frontière comprise entre Sin Tien (新店) (Chine) et le Kosso Ho (戈索河), laissant ainsi un vide entre 1re et 2e section.

Pour réparer cet oubli, les deux commissions ont admis que la 1re section partirait du confluent du Long Po (Ngoi Mit) (龍賻) avec le Fleuve Rouge pour se terminer au Kosso Ho (戈索河) Cela décidé, il a été reconnu d’un commun d’accord que le tracé de la 1re section de la frontière qui ferait foi désormais entre la Chine et la France serait celui porté sur les cartes jointes au présent procès verbal, lequel tracé est figuré sur le terrain de la manière suivante :

    Du confluent du Long Po (龍賻) avec le Fleuve Rouge (紅河) la frontière suit la ligne médiane de ce dernière cours d’eau jusqu’à sa rencontre avec le Nam Si (南洗河), elle emprunte ensuite le lit de cette dernière rivière jusqu’à son confluent avec le Pa Chie Ho (結河), remonte cette rivière jusqu’à son confluent avec le Kan Ho (千河) puis le cours du Kan Ho (千河) jusqu’au point où cet arroyo est coupé par la route de Coc Phang (谷方) à Lao Qua Tchang (老凹), c’est à dire à 900m du village de Coc Phang.

    De ce point elle court par terre jusqu’au Kosso Ho (戈索河), affluent du Song Chay (Hei Ho) (黑河) dans une direction générale Nord Est.

    Dans tout ce parcours la frontière est formée par une arête montagneuse, ligne de partage des eaux séparant :

1/ La vallée du Kan Ho (千河) au Yunnan de celle du haut Pa Chie Ho (結河) à l’Annam.

2/ La vallée du Ngai Na Ho (崖那河) au Yunnan de celle du Kan Keou Ho (千溝) affluent de droite du Ta Lang Ho (千郞河 ) à l’Annam.

3/ Les vallées des affluents du Nam Si (南洗河) au Yunnan de celle de Ta Lang Ho (千郞河) l’Annam.

4/ Les vallées des affluents du Nam Si Ho (南洗河) au Yunnan de celles des affluents du Pa Chie Ho (結河) à l’Annam.
5/ Les vallée des affluents du Kiao Teou Ho (橋頭河) au Yunnam de celles des affluents du Song Chay (Hei Ho) (黑河) à l’Annam.

Vingt deux bornes ont été placées le long de cette frontière.

Borne N° 1 : intersection du Kan Ho (千河) de la route de Coc Fang (谷方) à Lao Qua Tchang (老凹) au pied d’un contrefort montagneux.

Borne N° 2 : route de Long Po Moi (龍波美) à Pai Che Ngay (白石崖).

Borne N° 3 : dans un col sur la route de Nam Tchang (南寨) à Kia Ma Che (夾馬石).

Borne N° 4 : dans un col sur la route de Nam Tchang (南寨) à Sin Tchay (新寨).

Borne N° 5 : route de Nam Tchay (南寨) à Chouei Tuoei Fang (水碓防).

Borne N° 6 : route de Kan Ho Chay (千河寨) à Chouei Touei Fang (水碓防).

Borne N° 7 : route de Sin Tchay (新寨) à Sin Tien (新店) près de Tou Mou Kiao (獨木橋).

Borne N° 8 : route de Muong Khuong (猛康) à Tien Tang (…).

Borne N° 9 : au point de rencontre des routes de Muong Khuong (猛康) et de Hei Chan Po 黑山埔 à Sin Tien (新店).

Borne N° 10 : dans un col sur la route de Tou Ma (土馬) à Sin Tien (新店).

Borne N° 11 : route de Ouan Nien Chou (萬年) à Tien Fang (田房).

Borne N° 12 : embranchement des routes de Sin Tien (新店) à Phe Long (芭龍) et de Pao Mao Tchay (…茅寨) à Pao Teou Tchay (保頭寨) .

Borne N° 13 : dans un col sur la route de Lo Chouei Tong (洛水洞) à Che Ma Toung (石馬洞).

Borne N° 14 : route de Ka Fang (卡房 ) à Che Ma Toung (石馬洞).

Borne N° 15 : route de Tsao Ko Tsing ( ) à Che Ma Toung (石馬洞).

Borne N° 16 : dans un col sur la route de Lao Pao Tchay (老保寨) à Lao Ta La (老拉).

Borne N° 17 : dans un col sur la route de Ngai Teou (崖頭) à Tan Tze Pien (塘子邊).

Borne N° 18 : au col de Mao Tsao Tchay (茅草寨) au sud de ce village.

Borne N° 19 : dans un col sur la route de Fan Chen Ka (飜山卡) à Hei Pi Tchay (黑皮寨 ).

Borne N° 20 : dans un col sur la route de Sin Tchay (新寨) à Hei Pi Tchay (黑皮寨).

Borne N° 21 : dans un col sur la route de Phe Lung (笆龍) à Lao Lieou Tchai (老留寨

Borne N° 22 : dans un col sur la route de Lao Ka Sin Tchay (老卡新寨) à Tien Fang (田房).

Fait et clos à Lao Kay en deux exemplaires en langue française et en deux exemplaires en langue chinoise le treize juin mil huit cent quatre vingt dix sept (quatorzième jour du cinquième mois de la vingt troisième année du règne de Kouang Siu).

Procès verbal N° 3

2e Section : Du Kosso Ho ( ) à Cao Ma Bach (Cao Ma Pai) ( ) du Ton Kin et Sin Ngai ( ) du Yunnan.

Pour cette partie de la frontière les deux Commissions ont reconnu qu’il était impossible de suivre sur le terrain le tracé de la frontière tel qu’il avait été défini par les Commissions de délimitation. Elles ont été d’avis de rechercher un nouveau tracé correspondant autant que possible aux mouvements de terrain formant frontière naturelle ainsi qu’aux divisions administratives du pays, tout en tenant compte des dispositions du procès verbal 2e section, signé à Lao Kay le 19 octobre 1886 (22e jour du 9e mois de la 12e année de Kouang Siu), ainsi que du procès verbal de clôture signé à Pékin le 26 juin 1887 et de la convention supplémentaire en date du 20 juin 1895.

    Cela décidé, il a été reconnu d’un commun d’accord que le tracé de la 2e section de la frontière qui ferait foi désormais dans les relations entre la France et la Chine, serait celui porté sur les cartes joints au présent procès verbal, lequel tracé est figuré sur le terrain de la manière suivante :

    Du point sur le Kosso Ho ( )  où se termine la 1re section, la frontière descend le cours de cette dernière rivière jusqu’à son confluent avec le Song Chay (Hei Ho) ( )  puis remonte le cours du Song Chay (Hei Ho) jusqu’à sa rencontre avec le Tong Kai Ho (   )  (Nam Len).

    Elle court ensuite par terre dans la direction du Nord Est suivant d’abord la ligne de partage des eaux qui sépare la vallée du Song Chay (Hei Ho) ( ) de celle du Tong Hai Ho (Nam Len) (   ) puis celle placée entre le Nam Song Ho (     ) et le Kou Kai Ho (    ).

    Elle descend ensuite brusquement pour rejoindre le Kou Kai Ho (    ) à 300m de son confluent avec le Nam Pei Ho ( ) , emprunte le cours du Kou Kai Ho celui du Nam Pei Ho jusqu’à son confluent avec le Nam Kiang Ho ( ) qu’elle remonte jusqu’à l’endroit où la route de Pao Leang Kai ( ) à Ta Ma Tsao Po ( ) le coupe.

    Delà la ligne frontière monte sur le massif montagneux appelle Ban Tze Chan ( ) se dirige au Nord Est en suivant la ligne de partage des eaux placée entre celles allant à Muong Tong (  )  à la Chine , et celles allant au Tsing Tchouei Ho (  ) (rivière de Thanh Thuy) à l’Annam.

    La ligne frontière vient ensuite prendre le Na La Ho ( ) à sa source, descend ce cours d’eau jusqu’à son confluent avec la rivière de Kai Hoa ( ) (Rivière Claire) traverse cette rivière et se dirige sur les hautes crêtes en passant par Pien Ma ( ) et Pai Che Ngaï ( ) elle se porte au Nord suit la ligne de partage des eaux placée à l’Est de Nam Tong ( ) jusqu’à Lo Tchouei Ho Ka ( ) et jusque près de Sin Ngaï ( ) on commence la 3e section.

    Dans cette 2e section le Tu Nghia Xa ( ), le Tu Hoa Xa ( ), Tu Long ( ), Muong Thong ( ), le Phan Vu Xa ( ), et le Toung Ngan Li ( ) sont laissés à la Chine. Le Tu Nhan Xa ( ) , le Huu Ban Xa ( ), Man Mei ( ), le Phong Do Xa ( ), le Dai Mien Xa ( ) et le Tien Mien Xa ( ) sont laissés à l’Annam. Dans la deuxième section dix neuf bornes ont été placées.

Borne N°1 : au confluent du Song Chay (Hei Ho) ( ) et du Toung Hai Ho (Nam Len) (   ).

Borne N°2 : route de Sin Tchay ( ) à Che Ka La ( ).

Borne N°3 : route de Man Kai ( ) à Tsing Meun (Xin Man) (  ).

Borne N°4 : route de Lo Chouei Toung (  ) à Xin Man (  ).

Borne N°5 : route de Mao Ping ( ) à Xin Man (  ).

Borne N°6 : route de Mao Ping ( ) à Hia Man Sin ( ).

Borne N°7 : dans un col sur la route de Nan Soung ( ) à Man Mei ( ).

Borne N°8 : près de Kou Kai Ho (    ) et à 500m de son confluent avec le Man Pei Ho ( ).

Borne N°9 : au pied du contrefort qui prend naissance au point où la route de Pao Leang Kai ( ) à Ta Ma Tsao Po ( ) traverse le Nam Kiang  Ho ( ).

Borne N°10 : au col de Ta Ma Tsao Po ( ).

Borne N°11 : au col placé sur la route de Muong Tong Tchong ( ) à Lao Tchai ( ).

Borne N°12 : route de Sin Tchay ( ) à Thanh Thuy ( ).

Borne N°13 : à Pha An ( ) sur la route de Thanh Thuy ( ) à Loung Than ( ).

Borne N°14 : sur un des sommets du massif de Pai Che Ngai ( ).

Borne N°15 : sur la route de Loung Than ( ) à Man Cheng (Ban Xang)( ).

Borne N°16 : route de Chan Kio ( ) à Man Cheng (Ban Xang) ( ).

Borne N°17 : route de Che Sen ( ) à Tie Tchang ( ).

Borne N°18 : sur la montagne à l’Est de Che Sen ( ).

Borne N°19 : au col de Lo Chouei Ho Ka ( ) en avant et à l’Est de la porte.

Fait et clos à Lao Kay en deux exemplaires en langue française et en deux exemplaires en langue chinoise le treize juin Mil huit cent quatre vingt dix sept (quatorzième jour du cinquième mois de la vingt troisième année du règne de Kouang Siu).


Procès verbal N°4 :  3e et 4e sections.

De Sin Ngai ( ) de Chine et Cao Ma Pai ( ) d’Annam à la frontière du Quang Si( 西.)

Pour l’abornement de cette partie de la frontière les deux commissions ont été d’avis que l’on devrait s’en tenir aux dispositions des procès verbaux de délimitation de ces sections, procès verbaux signé à Lao Kay la 19 octobre 1886 (12e jour du 9e mois de la douzième année de Kouang Siu).

Comme les procès verbaux ne donnaient lieu sur le terrain à aucune grave contestation, il a été résolu de les réunir en un seul et de continuer, lorsque l’on arriverait à la 4e section, ordre de numérotage des bornes d’inscriptions sur les rochers commence dans la 3e section.

    Cela décidé, il a été reconnu d’un commun d’accord que le tracé des 3e et 4e sections de la frontière qui ferait foi désormais entre la Chine et la France, serait celui porté sur les cartes jointes au présent procès verbal, lequel tracé est figuré sur le terrain de la manière suivante :

    La ligne frontière part de la borne n°1 située à environ deux lis au Sud Est de Sin Ngai ( ) de là elle prend la ligne des crêtes rocheuses qui limite la vallée du Lo Chouei Ho ( ) arrivée à hauteur du Nord de Cao Ma Pai (高馬白), elle prend jusque vers Na Lang Ka ( ) une direction généralement Nord Nord Est suivant des crêtes rocheuses aboutissant au massif important de Ngai Keo Kai ( ) vers Na Lang Xa (那郎卡), elle s’incline vers l’Est tout en suivant le même contrefort jusqu’aux environs du village de Na Kan ( ) où elle reprend une direction Nord Nord Est pour descendre vers le Pa Pou Ho ( ); qu’elle franchit continuant la même direction jusqu’à la route de Ta Kan ( ) d’où par une direction Sud Est elle se rapproche du Pa Pou Ho ( ). De ce point jusque vers Mao Shang Ka ( ) elle suit une direction Nord Est le long d’une crête principale en passant par Keou Lanh Ka ( ), Lang Le Ka ( ), Sse Sao Ka ( ) et Pou Louang Ka ( ). De Mao Shang Ka ( ) jusqu’à Mao Po Ka ( ) la frontière a une direction généralement Est suivant les lignes de hauteurs et passant par Tchong Sau Ka ( ), Siao Ka ( ), Tchoouon Tsung Xa (Xuyên Ðộng Ca ), et Mao Pe Ka ( ).

    De Mao Pe Ka ( ) jusqu’au Pou Mei Ho ( ), la frontière prend une direction Nord Nord Est passant par Ma Son Ka ( ) puis entre Ma Kiang Ka ( ) à la Chine et Ma Nong Ca ( )à l’Annam, traverse une suite de hauts sommets pour venir ensuite passer entre Long Ka Ka (龍戈卡) à la Chine et Long Co ( ) à l’Annam et enfin aboutir par une pente très raide au Pou Mei Ho ( ) (Song Nho Ke).

    La frontière suit alors le cours du Pou Mei Ho ( ) jusqu’au point placé entre Loang Chouei Tsing ( 水井) de la Chine et Ngai Loung ( ) de l’Annam, elle court alors par terre se dirigeant vers le Sud Est en passant par Long Tan Ka ( ); puis passe au Nord Est pour passer à Loung Le Ka ( ) et arrive à Chang Bong ( ) de l’Annam pour prendre une direction générale Sud Est suivant la ligne de hauteurs laissant à l’Annam les affluents du Pou Mei Ho ( ) et à la Chine la haute vallée du Ngan Tong Ho (, ), la frontière descend ensuite dans cette rivière à Ngan Tong Ho Ka (, 河卡) où elle rejoint le noeud des trois frontières.

Vingt quatre bornes ont été placées sur ce parcours :

Borne N°1 : à deux lis au Sud Est de Sin Ngai ( ), au col placé au sommet des hautes crêtes.

Borne N°2 : au col placé au Nord de Cau Ma Pai (高馬白) sur la haute crête formant ligne partage des eaux.

Borne N°3 : au col situé sur la route de Mao Tsao Po ( ) à Ngai Teou ( ).

Borne N°4 : près de Pong Kia ( ), et sur la route de Pong Kia ( ) à Na Linn ( ).

Borne N°5 : à Na Lang Kia ( ) sur la route de Pan Tze Hoa ( ) à Ngai Kéo Kai ( ).

Borne N°6 : à Koue Pou Ka ( ) sur la route de Koué Pou ( ) de la Chine à Na Kan ( ) de l’Annam.

Borne N°7 : à Keou Lanh Ka ( 滿 ) sur la route de Kéou Lanh Ta Ka ( 滿 ) de Chine à Tam Nghe Ha ( ) de l’Annam.

Borne N°8 : à Long Le Ka ( ) sur le chemin qui relie Keou Lanh ( ) de Chine à Giang Le ( ) d’Annam.

Borne N°9 : à Sa Sao Ka ( ) sur le chemin qui relie Mao Than Ka ( ) de Chine à Giang Le ( )  d’Annam.

Borne N°10 : sur la route de Mao Shan Ka ( ) de Chine à Sin Cai ( ) d’Annam.

Borne N°11 : à Tchoun San Ka ( ) sur le chemin qui relie Tchoun San ( ) de Chine à Sui Tao ( ) d’Annam.

Borne N°12 : à Siao Ka ( ) sur la route de Siao Ka ( ) en Chine à Phu Na ( ) en Annam.

Borne N°13 : au col appelé Ca Ka ou Tchouang Tsung Ka (穿 ) sur le chemin qui relie Ma Tsou ( ) de Chine à Phi Bang ( ) d’Annam.

Borne N°14 : à Mao Po Ka ( ) sur le chemin qui relie Mao Po ( ) de Chine à Pho Bang (Phố Bổng).

Borne N°15 : à Ma Sen Ka ( ) sur le chemin qui relie Ma San ( ) de Chine à Ma La ( ) d’Annam.

Borne N°16 : au col situé entre Ma Kiang Ka ( ) de Chine et Ma Nang ( )   d’Annam et à égale distance de ces deux villages.

Borne N°17 : au col situé sur la route qui relie Long Ka Ka ( ) de Chine à Long Co ( ) d’Annam.

Borne N°18 : sur la route de Leang Chouei Tsin (涼水井) de Chine à Ngai Luong ( )   d’Annam et laissant le Pou Mei Ho ( ) à un lis à l’Ouest.

Borne N°19 : à un col situé sur le chemin de Leang Chouei Tsin (涼水井) de Chine à Loung Can ( )  d’Annam.

Borne N°20 : au petit col situé sur la route de Loung Le ( ) de Chine à Chang Bong ( ) d’Annam.

Borne N°21 : à un petit col situé à l’Est de Chang Bong ( ) d’Annam sur la route de Tien Pang Kai ( ) de Chine à Chang Bong ( ) d’Annam.

Borne N°22 : à environ quatre lis à l’Ouest au village de Tchoung Ho Ka ( ) sur la route de Tchoung Ho Ka ( ) de Chine à Ta Kheou ( ) d’Annam.

Borne N°23 : à environ trois lis à l’Ouest de Siao Ka ( ) sur la route de Siao Ka ( ) de Chine à Tchoung Pong (  ) d’Annam.

Borne N° 24 : sur le bord de la rivière de Ngan Tong Ho ( ) avant de la traverser pour aller de Yao Jen Tchay ( ) de Chine à Long Lan ( ) d’Annam.
Fait est clos à Lao Kay en deux exemplaires en langue française et en deux exemplaires en langues chinoise le treize juin mil huit cent quatre vingt dix sept (quatorzième jour du cinquième mois de la vingt troisième année du règne de Kouang Siu)


dimanche 1 février 2015

Về bài viết "Ải Nam Quan và thác Bản Giốc được phân chia như thế nào" của TS Trần Công Trục.

Báo chí trong nước vừa qua có đăng bài phỏng vấn TS Trần Công Trục, tựa đề “Ải Nam Quan và thác Bản Giốc được phân chia thế nào”. Với tư cách là người VN có lẽ là đầu tiên và duy nhất nghiên cứu về hồ sơ các công ước 1887, 1895 về phân định biên giới Pháp-Thanh tại Văn khố Hải ngoại Pháp CAOM ở Aix-En-Provence, tôi có một số ý kiến về các phát biểu của TS Trần Công Trục về vị trí đường biên giới Việt Nam và Trung Quốc tại các địa điểm là Ải Nam Quan và thác Bản Giốc (cũng như cách phân chia các bãi ngoài cửa sông Bắc Luân).

Bài phỏng vấn ở đây: http://vnexpress.net/tin-tuc/the-gioi/tu-lieu/ai-nam-quan-va-thac-ban-gioc-duoc-phan-chia-the-nao-3134512.html

1. Ải Nam Quan:

Nguyên văn ý kiến của TS Trục :

"Về căn cứ pháp lý, đường biên giới Việt - Trung đi qua tuyến đường bộ đã được mô tả trong Biên bản hoạch định năm 1886 giữa Pháp và nhà Thanh là "đường biên nằm ở phía nam Ải Nam Quan, trên con đường từ Nam Quan đến làng Đồng Đăng”. Khi phân giới, Pháp và nhà Thanh, Trung Quốc đã cắm mốc số 18 để cố định đường biên giới này, vị trí của mốc này cũng được mô tả là "nằm trên con đường từ Nam Quan đến Đồng Đăng". Tuy nhiên mốc này đã bị mất. Trên bản đồ cắm mốc Pháp - Thanh năm 1894, địa danh Nam Quan được thể hiện ở phía Bắc đường biên giới."


TS Trục nói rằng đường biên giới ở phía nam Ải Nam Quan như vậy là không chính xác. Ở phía nam là ở chỗ nào ? Các biên bản phân định biên giới thuộc hồ sơ công ước 1887 mô tả rõ rệt vị trí các cột mốc trên đường biên giới.

Cần nhắc lại, biên giới giữa các tỉnh Bắc Kỳ và các tỉnh Hoa Nam được Pháp và triều đình nhà Thanh phân định gồm hai thời kỳ: thời kỳ phân định 1885-1887 và thời kỳ phân giới, cắm mốc 1888-1897. Kết quả thời kỳ phân định là công ước 26-6-1887. Thời kỳ phân giới, công việc lại được chia thành nhiều “chiến dịch” (thời gian 1 năm) khác nhau. Có nơi, như vùng biên giới tiếp giáp Quảng Đông và Quảng Tây, phải trải qua đến 3 chiến dịch mới kết thúc. Các văn bản trên thực địa (được ký kết qua các chiến dịch), từ năm 1888-1893, chỉ có hiệu lực sau khi có sự duyệt xét của Tổng lý Nha môn (tức bộ Ngoại giao của Thanh triều) và Đặc sứ Toàn quyền Pháp ở Bắc Kinh. Các biên bản được ký trên thực địa từ 1893-1897 có hiệu lực chung cuộc, thay thế cho mọi văn bản ký kết trước kia (trong cùng một khu vực). Như vậy, các văn bản có hiệu lực cần nghiên cứu là từ 1885-1887 và từ 1893 đến 1897. Các văn bản từ 1888-1893 chỉ có hiệu lực khi có sự duyệt xét và đồng thuận cả hai bên ở Bắc Kinh.

Theo biên bản phân định biên giới Pháp-Thanh ngày 7-4-1886, đường biên giới khu vực Nam Quan được mô tả:

La Commission de Délimitation Franco-Chinoise a reconnu, le sept avril mil huit cent quatre-vingt-six, qu’à partir du point situé à cent mètres en avant de la Porte de Nam-Quan, sur la route de Nam-Quan à Ðồng-Ðăng, la frontière remonte à l’Ouest jusqu’au sommet de la montagne rocheuse sur lequel est situé le fort marqué A sur le croquis ci-joint,…

Tạm dịch :

« Ủy ban Pháp-Trung Phân định Biên giới nhìn nhận: từ một điểm được xác định cách cổng Nam Quan 100 thước trên đường từ Nam Quan về Ðồng Ðăng, đường biên giới theo hướng Tây, đi lên đỉnh ngọn núi đá mà trên đó có một đồn binh được đánh dấu là điểm A ở trên sơ đồ kèm theo đây… ».

Tức là vị trí đường biên giới khu vực Nam Quan được xác định một cách rõ rệt : cách cổng Nam Quan 100 mét về hướng nam.

Theo biên bản cắm mốc trên thực địa ngày 21-4-1891 cột mốc tại khu vực Nam Quan được xác định như sau:

« Cột thứ 18, Trấn Nam Quan ngoại 鎭南關外: Trên đường Nam Quan về Ðồng Ðăng, cách cửa 100 thước về hướng Nam. Nguyên văn tiếng Pháp trong biên bản : A environ 100m en avant de la porte de Nam-Quan. »

Như thế vị trí cột mốc được cắm phù hợp với biên bản phân định.

Công trình cắm mốc này được chính thức công nhận theo biên bản ký kết giữa đại tá Galliéni và tri phủ Long Châu Thái Hy Bân ngày 19-6-1894.

Tức là vị trí cột mốc số 18 (cách cổng Nam Quan 100 mét) được hai bên cùng nhìn nhận.

namquan 130

Bản đồ ở trên là bản đồ phân giới của Pháp 1892, khu vực Nam Quan.

Bản đồ dưới là bản đồ tỉ lệ 1/100.000 do Sở Địa dư Đông dương ấn hành, ta thấy vị trí cột mốc được ghi số 18, phù hợp với các biên bản phân định biên giới.

Nam Quan SGI

TS Trần Công Trục nói : "đường biên nằm ở phía nam Ải Nam Quan, trên con đường từ Nam Quan đến làng Đồng Đăng” vì vậy là không chính xác.

Vấn đề khác, ải Nam Quan trong quá khứ đã nhiều lần bị đánh sập và xây cất lại.

Trong trận đánh Lạng Sơn năm 1884, quân Pháp do tướng Négrier chỉ huy đã phá sập cửa Nam Quan. Đến năm 1885, khi hai phái đoàn Pháp-Trung gặp nhau tại Nam Quan để phân định biên giới, các tài liệu cho thấy cổng Nam Quan đã được xây dựng lại một cách “đồ sộ”, như là một công sự chiến đấu, bằng đá đẻo (có chừa lỗ châu mai), với hai bức tường xây thẳng lên đỉnh núi.

Câu hỏi đặt ra, vị trí của cổng mới có trùng hợp với vị trí của cổng cũ hay không ?

Dưới đây là các tấm hình Nam Quan, qua các bưu thiếp dưới thời Pháp thuộc. Chính xác là từ khoảng năm 1885 đến năm 1940. Ta thấy rõ rệt bức tường xây dài lên đỉnh núi.

15.03.2010-MTL29-400x253





Đến những năm đầu Thế chiến II, quân Nhật đã truy lùng những cánh quân kháng chiến người Hoa, lần nữa đã phá hủy tòa kiến trúc này.

Ải Nam Quan hiện thời chỉ mới được xây lại sau 1945. Kiến trúc hiện thời không thấy có hai bức tường xây dọc lên đỉnh núi mà hai bức tường này thể hiện cho đường biên giới.

Kiến trúc hiện nay gọi là Hữu Nghị Quan, được xây lại trên nền cũ của ải Nam Quan hay đã dời đi chỗ khác ?

Vì thế, cần tìm hiểu vị trí tương đối giữa Đồng Đăng và ải Nam Quan để có thể có một ý kiến về việc khi xây dựng lại, Nam Quan có được xây đúng vị trí hay không (hay đã dời đi về phía VN ?). Vị trí cột mốc số 18 (mà TS Trần Công Trục nói là bị mất) chính xác là ở đâu ?

Tài liệu « De Hanoi à la Frontière du Quang-si » - Từ Hà Nội đến Quảng Tây, của tác giả M. Aumoitte, viết năm 1881. Tác giả tạm dịch như sau :

« Ðồng Ðăng cách cửa ải 2 cây số rưỡi. Nơi đây bề ngoài cũng giống như Kỳ Lừa. Dân chúng phần lớn Tàu lai với thổ dân và sinh trưởng tại đây. Có nhiều tiệm bán lẻ (chạp phô); chỉ có 12 cửa hiệu buôn theo lối trao đổi (bông, dầu hồi, thuốc phiện, thuốc bắc)...
Từ Ðồng Ðăng đến biên giới, con đường chỉ còn là một con đường mòn nhỏ, đá lởm chởm, chạy quanh dưới chân những ngọn đồi trọc và không có người ở. Ra khỏi Ðồng Ðăng được 1O phút là không còn một bóng người. Con đường mòn này mỗi lúc một hẹp, cuối cùng dẫn tới trước một cửa cổng có hai cánh bằng gỗ. Cửa được gắn với một bức tường làm bằng gạch nung, xây dài lên tới đỉnh đồi, có độ cao chừng 50 mét. Hình thức của cổng và hai bức tường xây lên núi tạo thành như một cái phểu. Ðó là biên giới. Trên đỉnh đồi, bức tường chấm dứt và người ta có thể đi qua Quảng Tây không có trở ngại. Trên hai cánh của gỗ có vẽ rồng, phụng mầu sắc rực rỡ. »

Bài viết của ông Aumoitte có đính kèm một bức hoạ cổng Nam Quan như sau :

cổng Nam Quan 1883-1884

Như thế mô tả về hình thái Nam Quan của tác giả Aumoitte năm 1881 khá phù hợp với các chi tiết ghi từ Đại Thanh Nhất Thống Chí : Hai bên cửa ải là hai bước tường đá xây dọc lên tới đỉnh núi (núi cao khoảng 50m). Chiều dài bức tường khoảng 377m.

Ải Nam Quan, theo tài liệu này, cách Đồng Đăng 2 cây số rưởi. Khoảng cách hiện nay giữa Đồng Đăng và ải Nam Quan (Hữu Nghị quan), trên bản đồ Google ta thấy không quá 1 cây số.

Ta có thể khẳng định là tòa kiến trúc Hữu Nghị Quan hiện tại không còn ở vị trí cũ của nó vì hai lý do : 1/ kiến trúc này không có hai bức tường chạy lên núi, như những tấm hình, bưu thiếp ngày xưa. 1/ Khoảng cách của nó quá ngắn với Đồng Đăng (không quá 1km), so với ải Nam Quan ngày xưa (hai cây số rưởi).

Xét bản đồ Google Earth dưới đây. Dấu vết của cổng Nam Quan cũ với hai bức tường xây lên đỉnh núi ta có thể tìm thấy.

Nam Quan Google earth

Đường biên giới (đường vàng) là không chính xác. Hữu Nghị Quan nằm trong tập hợp kiến trúc ở về phía nam của đường vàng (phía dưới khung A).

Trên tấm hình này tác giả có đóng khung 4 ô chữ nhật màu đỏ A, B, C, D.

Cổng Nam Quan cũ (với hai bức tường xây lên núi) có thể ở một trong bốn khung này.
Hai bức C và D không thấy núi phía bên phải (bên trái là núi đá, bên phải là núi đất) có lẽ bị ủi mất do làm lại đường mới.

Khung A, có dấu vết xây dựng lờ mờ hai bên núi nhưng hẻm núi ở đây hẹp, chỉ thấy 1 con đường.

Khung B, là khung có thể nhất trong 4 khung. Ta thấy còn dấu vết khá rõ rệt của hai bức tường xây lên núi (nơi có hai mũi tên màu xanh) đồng thời có ba con đường : đường mòn cũ, quốc lộ 1A và đường (xa lộ) mới ở xa hơn về bên phải.

Khung C và D, cũng rất có thể Nam Quan cũ đã được xây dựng ở hai nơi này, nhưng xác suất có lẽ không cao bằng khung B. Ta thấy còn rõ rệt dấu vết (như là) bức tường xây lên núi (phía tay trái), nhưng lại không thấy dấu vết phía tay phải.

Vị trí cũ của ải Nam Quan có thể là nơi khung B trên bản đồ Google Earth. Vị trí này cách Hữu Nghị Quan hiện thời vài trăm mét về phía bắc.

Còn vị trí cột mốc 18, theo mô tả, được cắm trên đường Nam Quan về Đồng Đăng. Con đường này là đường mòn đi sát chân núi bên phải (trên bản đồ SGI). Đường mòn này không phải là quốc lộ 1A hoặc đường xa lộ mới xây sau này. Cả hai đường này ở phía bên phải đường mòn.

Muốn tìm vị trí của mốc 18 cũ ta phải tìm được đường mòn cũ và dấu vết của hai bức tường xây lên núi. Rất có thể dấu vết này thể hiện trong tấm hình của Google Earth ở trên, trong khung màu đỏ B. Sau đó do ngược lại về phía nam 100m.

Nếu giả thuyết đúng vậy, đây mới là vị trí lịch sử của cột mốc 18.

Kết luận về ải Nam Quan:

TS Trần Công Trục cho rằng :

“Như vậy không có chuyện Việt Nam đã nhường Ải Nam Quan cho Trung Quốc như nhiều người suy diễn theo cảm tính và dựa vào những thông tin thiếu khách quan, không có giá trị pháp lý.”

Theo tôi thì các thông tin của TS Trục mới là không khách quan, không chính xác và không có giá trị pháp lý. Các thông tin (trong bài phỏng vấn) không hề dựa trên văn bản pháp lý nền tảng là hồ sơ Công ước 1887 về phân định biên giới.

Người ta kết luận nhà nước CSVN nhượng đất ở Nam Quan không hề do “tình cảm”, mà dựa trên những bằng chứng pháp lý, thuyết phục.

(còn nữa)

dimanche 4 janvier 2015

Về tài liệu « Dân tộc Kinh ở Quảng Tây ».

Một đoạn trong bài dịch có tựa đề « Dân tộc Kinh ở Quảng Tây » của ông Phạm Hoàng Quân, dẫn lại nguyên văn :

« Người Kinh từ Đồ Sơn, Việt Nam sang Trung Quốc vào khoảng đời Minh. Khoảng những năm triều Thanh, người Kinh ở thôn Hà Vĩ [34] có lập hương ước để làm phép tắc cho dân trong thôn, trong hương ước từng minh xác rằng họ đến đây từ thời Hậu Lê (Đại Việt) niên hiệu Hồng Thuận năm thứ 3 tức triều Minh đời vua Võ Tông niên hiệu Chính Đức năm thứ 6 (1511), tức cách nay hơn 400 năm [35] . Người Kinh ở đây đa số mang họ Lưu, họ Nguyễn, tổ tiên họ nguyên cư trú vùng Cát Bà, sau dời đến dùng duyên hải Đồ Sơn, sống bằng nghề đánh cá. Có một dịp, họ đuổi theo đàn cá ở vùng vịnh Bắc Bộ mà lạc đến đảo Vu Đầu, nay thuộc thành phố Phòng Thành, khu tự trị dân tộc Choang [36] Quảng Tây, thấy làng xóm vắng vẻ không người ở, lại thấy nơi này thuận tiện trong việc đánh bắt cá, họ bèn định cư hẳn mà không về nữa, đến nay đã qua 16, 17 đời, nếu tính mỗi đời là 25 năm thì đến nay đã hơn 400 năm, đối chiếu với bản hương ước nói trên thì thấy rất hợp lý.
Người Kinh hiện phân bố chủ yếu ở 3 khu: Sơn Tâm, Hà Vĩ, Vu Đầu và một số nơi khác như Hoàn Vọng, Đàm Cát, Hồng Khảm, Trúc Sơn… thuộc Phòng Thành, Quảng Tây. »

http://nghiencuulichsu.com/2013/05/30/dan-toc-kinh-o-quang-tay/

Bản dịch của ông Phạm Hoàng Quân là một phần (nói về Dân Tộc Kinh) trong « công trình nghiên cứu » mang tên « Trung Quốc Nam phương dân tộc sử » của Tiến sĩ Sử học Vương Văn Quang, Giáo sư chuyên ngành Lịch sử dân tộc Đại học Vân Nam, Trung Quốc[1].

Đoạn trích dẫn trên có một số dữ kiện lịch sử cần phải kiểm chứng lại, (hay ít ra chúng cần được nhìn lại, so sánh, đối chiếu lại từ nhiều nguồn sử liệu khác nhau).

Đó là :

Có đúng là người Việt ở vùng ba đảo (Sơn Tâm, Hà Vĩ, Vu Đầu) có nguồn gốc ở Đồ Sơn ?

Có đúng là họ sang đó vào thời Minh ?

Quan trọng hơn hết là « người Kinh từ Đồ Sơn, Việt Nam sang Trung Quốc… ». Dựa vào đâu tác giả nói rằng đất đó (trước khi ngươi Kinh di cư sang) là của Trung Quốc ?

Bài viết này, với những dữ kiện lịch sử[2] lấy từ Trung Tâm Văn Khố Hải Ngoại của Pháp, (Centre des Archives d’Outre-Mer), tại tỉnh Aix-En-Provence, sẽ bàn lại về lịch sử chủ quyền ở các vùng đất (hiện nay thuộc lãnh thổ TQ) có người Việt sinh sống từ lâu đời, điển hình là khu vực ba đảo Sơn Tâm, Hà Vĩ và Vu Đầu.

1. Mũi đất Bạch Long Vĩ (cap Paklung).

Như mọi người đều biết, đường biên giới hiện nay giữa tỉnh Quảng Ninh của Việt Nam với tỉnh Quảng Tây thuộc Trung Quốc là sông Bắc Luân (còn gọi là sông Ka Long hay Gia Long). Đó là kết quả của việc phân định biên giới giữa Pháp và nhà Thanh trong thời kỳ 1885-1897, được hai bên VN và TQ khẳng định lại qua Hiệp ước phân định Biên giới trên đất liền ký vào tháng 12 năm 1999.

Bên bờ hữu ngạn sông Ka Long là thị xã Móng Cái (thuộc tỉnh Quảng Ninh), bờ tả ngạn là thành phố Đông Hưng của Trung Quốc. Ngày xưa, người Hoa gọi Đông Hưng là Đông Hưng Nhai và Móng Cái là Mang Nhai. Nhai có nghĩa là « bờ sông ». Móng Cái, nguyên thủy tên do người Pháp đặt (gọi trại đi từ Mang Nhai), thực ra có tên Việt là Hòa Lạc[3].

Xét bản đồ phân định biên giới Pháp-Thanh 1887, từ nay gọi là bản đồ 1. Bản đồ này ghi chú bằng tiếng Pháp và tiếng Hán, là bản đồ gốc được hai bên Pháp-Thanh sử dụng để phân định biên giới.

mũi bạch long 1887

Bản đồ 1

Trên bản đồ 1 có một mũi đất mang tên (bằng chữ Hán) Bạch Long Vĩ. Người Pháp thời đó gọi là « Cap Paklung ». Đây là một doi đất ở về phía bắc Móng Cái, nhô ra biển theo hướng nam, sau đó cong lại về phía tây nam, tương tự mũi két. Theo các nhà địa lý thì đây là phần chót của rặng núi Thập Vạn Đại Sơn. Doi đất bao quanh lấy biển, tạo thành vịnh, tên Vạn Xuân. Trên doi đất này có một số làng mạc trước kia chỉ toàn người VN sinh sống.

Móng Cái

Bản đồ 2

Trong vịnh Vạn Xuân, (bản đồ 1), hay các bản đồ do Sở Địa Dư Đông dương (SGI) ấn hành trước năm 1948 (bản đồ 2), từ bờ ra đến giữa vịnh có bốn đảo, kế cận nhau, có ghi các tên (chữ Hán): Tham Cát Thôn, Sơn Tâm, Mao Sơn và Vạn Vĩ. Đó là các đảo mà trong tài liệu (của Vương Văn Quang) ghi qua các tên (khác) là Sơn Tâm, Hà Vĩ và Vu Đầu. Theo các tài liệu đã dẫn (ghi chú 2), vịnh Vạn Xuân là một vịnh cạn, có nhiều bãi cát, có cây tràm, đước mọc.

bản đồ google earth vùng bán đảo Bạch Long

Bản đồ Google

Xét bản đồ Google, trong khung màu đỏ, bốn đảo này hiện nay hầu như đã dính liền lại với nhau. Phù sa, cát bồi đắp nên các đảo nối với đất liền trở thành bán đảo. Bán đảo này TQ đặt tên là An Nam Thôn, còn gọi là Kinh Đảo, ở tọa độ (kinh độ 108°08’ Đông, vĩ độ 21°32’5 Bắc). Thôn thuộc huyện Giang Bình, thành phố Đông Hưng, khu tự trị Choang tỉnh Quảng Tây. Dân số ở đây đều có gốc Việt khoảng trên 20.000 người, được Trung Quốc gọi là tộc Kinh (vì thế gọi nơi này là Kinh Đảo), một trong số 55 chủng tộc của Trung Quốc.

Toàn khu vực, xưa cũng như hiện nay, thuộc huyện mang tên Giang Bình, ngày trước trực thuộc tỉnh Quảng Đông chứ không phải tỉnh Quảng Tây. Tỉnh Quảng Tây ngày trước không giáp biển.

2. Biên giới khu vực Móng Cái theo công ước Pháp-Thanh 1887.

Theo tài liệu của đô đốc Rieunier, chỉ huy hải quân Pháp gởi Toàn quyền Pháp năm 1886 (hồ sơ đính kèm bản đồ 3) về tình hình quân Trung hoa chiếm đóng các địa điểm trong khu vực huyện Giang Bình. Sau khi chiếm đóng các địa điểm thuộc khu vực này (các ô vuông màu đỏ trên bản đồ 3) tháng 7 năm 1886, quân Trung Hoa khủng bố dân VN sinh sống tại đây và đuổi những người dân này đi nơi khác.

mũi Bạch Long 1886

Bản đồ 3

Hồ sơ cũng ghi chú ý kiến của linh mục Grand Pièrre, nhà truyền giáo ở Trúc Sơn. (Trúc Sơn ở phía bắc Móng Cái, bên kia sông Bắc Luân, nay thuộc TQ). Ông này kể rằng những người dân Việt này do bị quân Hoa truy bức nên phải trốn ra sống ở các đảo trong vịnh.

Cũng theo ý kiến của nhà truyền giáo Grand Pièrre, năm 1885, khu vực huyện Giang Bình gồm có nhiều xã toàn người Việt, không có một người Hoa nào sinh sống. Khu vực ở phía ngoài huyện giang Bình, dân Nùng (tức Choang) sống đa số. Khi quân Hoa đến đây chiếm đóng họ đuổi những người dân Choang này đi (lên núi), lấy đất cho người Hoa đến ở, tương tự như số phận người Việt. Thành phố Đông Hưng trước 1885 chưa hiện hữu. Chỉ sau chiến tranh với Pháp 1885, người Hoa dựng ở địa điểm Đông Hưng (hiện nay) một đồn lính. Dầu vậy, tại Móng Cái (Mang Nhai), chợ búa ở đây đông đảo các đảng cướp biển người Hoa.

Tài liệu khác trong hồ sơ phân định biên giới cho biết, trong thời kỳ 1886-1887, những người dân VN nào ra làm chứng, trả lời các cuộc điều tra của các ủy viên Pháp phụ trách phân định biên giới, đều bị quân Trung Hoa trừng phạt nặng nề, hoặc chém đầu. Các câu hỏi của các ủy viên phân định biên giới Pháp tựu trung ở việc : những người sống trên đất này đóng thuế cho ai ?

Theo quan điểm quốc tế công pháp thời đó (và bây giờ cũng vậy), để chứng minh một vùng đất thuộc quốc gia nào thì vấn đề đóng thuế của người dân là yếu tố quyết định. Dân đóng thuế cho bên nào thì đất đó thuộc (chủ quyền) bên đó.

Tài liệu sau đây của ông Dillon, chủ tịch Ủy Ban Phân Ðịnh Biên Giới, trình bày trong hồ sơ gởi ông Constans, Ðặc Sứ Toàn Quyền Pháp tại Bắc Kinh ngày 23 Mars 1887, (Constans là người phụ trách thuơng lượng với Trung Hoa về Công ước phân định biên giới 1887).

Tài liệu có các điểm quan trọng sau đây :

a) Theo kết quả nghiên cứu địa chí của Trung Hoa, lãnh thổ An Nam mở rộng đến Long Môn.

Ta thấy ngay trên bản đồ Google rằng Long Môn ở phía bắc Phòng Thành. Vấn đề này sẽ đề cập ở phần dưới : biên giới VN-TQ theo sử liệu của TQ. Điều này chứng minh huyện Giang Bình, doi đất Bạch Long Vĩ, các đảo Tham Cát Thôn, Sơn Tâm, Mao Sơn và Vạn Vĩ trong vịnh Vạn Xuân đều thuộc An Nam.

Tài liệu của ông Dillon viết rằng khoảng từ 20 năm nay, bọn cướp biển người Tàu đã chiếm mũi Bạch Long cũng như Long Môn để làm sào huyệt. Theo ông, đó là lý do duy nhất mà vùng đất này đã ra ngoài tầm kiểm soát của triều đình An Nam. Tài liệu cũng cho biết, trên thực địa, đường biên giới thực sự được cụ thể hoá qua những đồn canh (cửa ải) của Trung Hoa. Ðường nối các công sự, cửa ải đã chừa ra vùng Giang Bình (bao gồm Packlung - Bạch Long).

Bằng chứng khác cũng rất quan trọng : huyện Giang Bình đã được triều đình Huế bổ một vị quan cùng gia đình về quản trị, thâu thuế dân chúng từ mấy chục năm trước.

Tức là, trên quan điểm luật quốc tế, vùng lãnh thổ này thuộc về VN.

Tài liệu viết, người hậu duệ cuối cùng của viên quan VN đã bị quân cướp Tàu giết, thân xác bị chặt làm nhiều khúc qua biến cố tháng 11 năm 1886. Biến cố nầy làm thiệt mạng một số quân đội Pháp và ông Haitce, nhân viên của Ủy Ban Phân Ðịnh Biên Giới. Lý do bị giết vì ông đã « thực thà » khai với các ủy viên Pháp rằng đất đó (Giang Bình) là của VN.

b) Là những nhân chứng sống, những người dân địa phương, người Hoa cũng như người Việt.

Những người dân này đã hướng dẫn ông Bohin, vào tháng 11 năm 1886, và đội quân của Ông Dugenne vào tháng 1 năm 1887, giúp các ông này làm công tác trắc địa, phân định biên giới. Kết quả đo đạc phù hợp với những các cuộc điều tra trong dân chúng thuộc vùng Móng Cái. Vì cuộc điều tra này, như tài liệu của các nhà truyền giáo đã viết trên, nhiều người dân VN bị quân Hoa chém đầu.

c) Những chi tiết từ sổ bạ điền địa từ các huyện, phủ trong vùng.

d) Bản đồ chính thức của An Nam.

e) Giấy chứng nhận của nha Kinh Lược từ triều đình Huế[4].

Tức là, theo các tài liệu đã dẫn, khu vực huyện Giang Bình, bao gồm mũi đất mang tên Bạch Long Vĩ, các đảo trong vịnh Vạn Xuân… thuộc chủ quyền của VN.

Hai chi tiết khác cần làm sáng tỏ thêm : theo « công trình nghiên cứu » của TS Vương Văn Quang thì dân chúng ở các đảo « Sơn Tâm, Hà Vĩ và Vu Đầu đến từ Đồ Sơn, VN ».

Đồ Sơn là một địa điểm tắm biển do người Pháp thành lập cuối thế kỷ 19, tức là chỉ mới đây, tên là Doson. Như vậy những người Việt này không thể xuất thân từ « Đồ Sơn » rồi !

Mặt khác, lý do mà nhóm dân này ra các đảo sinh sống, như các tài liệu đã dẫn, là để trốn sự khủng bố của quân Hoa, chứ không phải là « đuổi theo đàn cá ở vùng vịnh Bắc Bộ mà lạc đến đảo Vu Đầu » (sic !)

Câu hỏi đặt ra, vì sao người Pháp đã chứng minh được đất (Giang Bình) thuộc chủ quyền của Việt Nam, bằng sử liệu của chính người Hoa, cũng như những điều tra trên thực địa, là những bằng chứng không thể phản biện, tại sao bây giờ nó lại thuộc về TQ ?

Câu hỏi khác, lúc đó quân Pháp mạnh mẽ, đối diện với một nước Trung Hoa đang rệu rã. Ở thế mạnh, Pháp muốn ép TQ thế nào lại không được ?

Câu trả lời là do sự trao đổi quyền lợi giữa Pháp và Thanh triều. Pháp nhượng các vùng lãnh thổ của VN để đổi lấy quyền lợi kinh tế[5]. Phần tóm tắt « hiệp ước Thiên Tân 1885 » dưới đây trả lời câu hỏi này.
Số phận vùng đất Giang Bình được giải quyết ở Bắc Kinh ngày 26 tháng 6 năm 1887, cũng là nội dung Công Ước 1887. Nguyên văn tiếng Pháp, như sau :

« Au Kouang-tong, il est entendu que les points contestés qui sont situés à l’est et au nord-est de Monkaï, au delà de la frontière telle qu’elle a été fixée par la Commission de la délimitation, sont attribués à la Chine. »

Tạm dịch sang tiếng Việt : Tại Quảng Đông, các bên đồng thuận rằng các điểm tranh chấp ở phía đông bắc của Móng Cái, ở phía bên kia đường biên giới đã được Ủy Ban Phân Định xác định, thì chúng được giao cho Trung Hoa.

Cực kỳ đơn giản, « các vùng đất tranh chấp ở phía bắc Móng Cái được giao cho Trung Hoa ».

« Các vùng đất phía bắc Móng Cái » là huyện Giang Bình, bao gồm mũi Bạch Long Vĩ (trên đó có nhiều xã) cùng các đảo Tham Cát, Sơn Tâm, Mao Sơn và Vạn Vĩ nơi nhiều người Việt sinh sống từ bao nhiêu đời.

Hậu quả cuộc phân định biên giới 1887, ngoài huyện Giang Bình (bao gồm mũi Bạch Long và các đảo trong vịnh Vạn Xuân), Việt Nam còn bị mất thêm các vùng đất Tụ Long[6] (phía bắc Hà Giang hiện nay), tổng Đèo Lương (Cao Bằng), một số xã thuộc tổng Kiến Duyên và Bát Trang (Hải Ninh)[7]. Tổng số diện tích có thể lên tới trên 3.000 km².

Một số dữ kiện về phân định biên giới 1887, mọi người có thể tham khảo thêm từ tập « Le Tour du Monde » năm 1886-1887, Sur les Frontière du Tonkin của Dr Paul Néis. Ông Néis là một ủy viên thuộc Ủy ban Pháp phân định Biên giới 1887.

3. Hậu quả Hiệp Ước Thiên Tân 1885 lên biên giới Việt Nam.

Hiệp ước hòa bình, hữu nghị và thương mại « traité de paix, d’amitié et de commerce », được ký kết tại Thiên Tân ngày 9 tháng 6 năm 1885 giữa Lý Hồng Chương và ông Patenôtre, được quốc hội Pháp thông qua ngày 20 tháng 11 năm 1885. Hiệp ước gồm có 3 phần, như tên gọi hiệp ước : hòa bình, hữu nghị và thuơng mại nhưng trọng tâm là thuơng mại. Ðiều 3 của Hiệp Ước dự trù việc xác định lại đường biên giới Việt Trung. Các điều 5 và 6 dự trù một công ước về thương mãi giữa Pháp và Trung Hoa.

Công Ước về thương mãi được ký ngày 25 tháng 4 năm 1886 do ông Cogordan thương lượng nhưng kết quả không đúng như mong đợi của Pháp. Ðể sửa chữa, một công ước bổ túc cho công ước thương mãi « Convention additionnelle de Commerce » được ông Constans thương lượng cùng lúc với công ước về biên giới và cùng ký ngày 26 tháng 6 năm 1887.

Công ước về thuơng mãi được ký ngày 25 tháng 4 năm 1886 nhưng bị đánh giá bất lợi cho Pháp. Bởi vì, nguyên văn công ước là tất cả những gì mà Trung Hoa đòi hỏi trước đó đã được ghi lại trong bản tường trình của Cogordan. Trong khi đó những gì mà Pháp đòi hỏi đều không được.

Việc chinh phục Bắc Kỳ, từ thời Françis Garnier (1874) đến Henri Rivière (1883) cho đến chiến tranh Pháp-Trung 1884-1885 chỉ có mục tiêu là xây dựng địa bàn và mở đường thông thương với các tỉnh phía Nam Trung Hoa để buôn bán. Hiệp ước thương mại của Cogordan thực tế mở cửa cho Trung Hoa vào Việt Nam nhưng đóng mọi cửa để Pháp không thể vào Hoa Nam. Ðây là một thất bại lớn vì tất cả máu xương của lính viễn chinh cũng như tiền bạc của dân Pháp đều xem như bỏ.

Ðể sửa chữa, ông Constans được cử làm bộ trưởng sang Thiên Tân để ký kết công ước phân định biên giới nhưng kèm theo một phụ ước về thương mãi.

Bản tường trình của dân biểu Dureau de Vaulcomte, liên quan đến việc nghiên cứu công ước thương mãi 25 tháng 4 năm 1886 và phụ ước 26 tháng 6 năm 1887, có đề cập đến : « Et ainsi la question de frontière se trouva liée à la question commerciale - Và vì thế vấn đề biên giới được gắn liền với vần đề thương mãi ». « Le gouvernement a pensé que les concessions faites à la Chine, en ce qui concerne les territoires, peuvent être compensées par les avantages qui résultent de la Convention commerciale additionnelle au Traité du 25 Avril 1886 - Chính phủ đã nghĩ rằng những nhượng bộ đất đai cho Trung Hoa có thể được đền bồi bằng những ưu đãi (về kinh tế) do Công Ước thương mãi bổ sung Hiệp Ước 25 tháng 4 năm 1886. »

Như thế, rõ ràng, chính nhà nước Pháp đã chủ trương nhượng đất của Việt Nam để có được những ưu đãi về thương mãi với Trung Hoa !

Trên quan điểm công pháp quốc tế, chiếu theo phần « dol », tức sự lường gạt trong các hiệp ước, công ước phân định biên giới 1887 có thể không có hiệu lực.

4. Đường biên giới lịch sử theo sử liệu của Việt Nam và Trung Quốc :

Theo Ðại Thanh Nhứt Thống Chí[8] (DTNTC) 大清一統志, dẫn từ địa chí thời Minh, biên giới khu vực này được xác định bằng ngọn núi Phân Mao, như sau :

Phục Ba tướng quân Mã Viện đã dựng dưới chân ngọn Phân Mao một trụ đồng vào năm 43 trước TC để đánh dấu biên giới hai nước Việt-Trung. Từ chân ngọn núi này, vào năm 74, quân Hán vượt biên giới, qua châu Tiên Yên, vào chiếm Việt Nam[9].

Sử sách của VN, tập Đại Nam Nhứt Thống Chí và Lịch triều Hiến Chương Loại Chí (phần Dư Địa Chí) của Phan Huy Chú, dẫn từ sách Dư Địa Kỳ Thắng của Trung Hoa cũng viết tương tự :

Ranh giới Nam và Bắc thuộc vùng biên giới trấn An Quảng xưa có núi Phân Mao[10].

Như thế biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc đã được xác định bằng ngọn núi Phân Mao. Núi này chính xác ở đâu ?

Theo Ðại Thanh Nhứt Thống Chí :

Phân Mao Lĩnh 分茅嶺 ở động Cổ Sâm, về phía Tây huyện đường Khâm Châu, cách 300 lý và ở trên đường biên giới với Việt Nam…

Bộ địa chí thời Minh, Gia Khánh Trùng Tu Nhứt Thống Chí, cũng mô tả biên giới hai bên trong khu vực với nội dung tương tự. Theo Dư Ðịa Chí của Nguyễn Trãi : núi Phân Mao ở về phía tây lộ Hải Đông, cách khoảng 300 dặm. Nơi đây có kim tiêu, quen gọi là cột đồng Mã Viện.

Tương truyền trên đỉnh núi Phân Mao có thứ cỏ tranh, do ảnh hưởng của khí hậu và địa thế, ngọn cỏ tranh ngả theo hai hướng Bắc và Nam cho nên mới có tên gọi là núi Phân Mao, nghĩa là núi có thứ cỏ chia ra làm hai hướng.

Đại Việt Sử Ký Toàn thư cũng ghi : Cột đồng Đông Hán do Mã Viện dựng ở động Cổ Lâu thuộc Châu Khâm.[11]

Như thế, sử liệu Trung Quốc và Việt Nam cùng thống nhứt ở hai điểm : 1/ biên giới hai nước là núi Phân Mao, nơi có trụ đồng Mã Viện. 2/ vị trí của núi Phân Mao : núi Phân Mao thuộc động Cổ Sâm, huyện Khâm Châu. Khâm Châu hiện nay trên bản đồ ghi là Quizhou, cách Móng Cái khoảng 120km về hướng đông bắc.

Ðại Thanh Nhứt Thống Chí mô tả địa lý Khâm Châu như sau :

Huyện Khâm Châu 嶔州, thuộc phủ Liêm Châu 廉州俯. Biên giới Việt Nam cách huyện đường 300 dặm theo hướng Tây và cách 240 dặm theo hướng Tây Nam. Dân chúng sống ở Liêm Châu gồm có dân tộc Dao 搖 và dân tộc Choang (Tchoang)[12].

Theo bản đồ các nhà truyền giáo Jésuites, tọa độ Khâm Châu : vĩ độ 21° 54’ và kinh độ 106° 07’ 45’’, cách phủ Liêm Châu 180 dặm về phía Tây thiên Bắc.[13]

Huyện Khâm Châu có các rặng núi ở kế cận (hay ở trên vùng) biên giới Việt-Trung :

Rặng La Phù Sơn 羅桴山, cách huyện Khâm Châu 65 đến 95 dặm theo hướng tây bắc. Rặng núi Thập Vạn Sơn 十萬山, cách huyện Khâm Châu 200 dặm về phía tây bắc. Rặng núi này là ranh giới giữa huyện Khâm Châu với châu Thiên Tư. Châu Thiên Tư cách dải núi nầy 80 dặm. Có đến cả trăm con suối bắt nguồn từ Thập Vạn Sơn (là phần nối dài của rặng Ba Dương Lĩnh 筢羊嶺). Dải núi Ba Dương Lĩnh giáp châu Tư Lăng 陵州 ở phía Tây, dải núi này có tới hơn 400 đỉnh, cao thấp chập chùng. Sông Ná Lãng (Ná Lãng Giang 那浪江), cũng như sông Minh Giang 明江 thì cùng bắt nguồn tại đây[14].

Dải núi Vương Quang Sơn 王光山, cách huyện đường Khâm Châu 170 dặm về hướng tây bắc, chắn ngang rặng Thập Vạn Sơn[15]

Ngọn Mặc Mạt Sơn 墨抹山 cách Khâm Châu 100 dặm về hướng Tây Nam. Sông Phụng Hoàng bắt nguồn tại đây[16].

Để xác định « vùng biên giới » giữa hai nước, điều cần thiết là xác định lại vị trí các dảy, hay các ngọn núi đã dẫn từ các tài liệu trên.

Ngoài ra, xưa nay, biên giới hai bên Việt-Trung luôn được xác định bằng các cửa ải và những con sông. Theo Đại Thanh Nhứt Thống chí, Huyện Khâm Châu có các của ải :

Ải Ná Tô 那蘇隘 (hay Na Tô Ải), ở phía Tây Nam huyện Khâm Châu.

Ải Nhẫm Quân 稔均隘 , cách ải Ná Tô 70 dặm về hướng Ðông Nam.

Ải Ná Long 那隆隘 (hay Na Long Ải), cách ải Ná Tô trên 10 dặm về phía Ðông.

Cả ba ải này đều thông thương sang Việt Nam[17].

Huyện Khâm Châu có các con sông, suối ở kế cận hay ở trên đường biên giới :

Sông Thiếp Lãng (Thiếp Lãng Giang 貼朗江), cách Khâm Châu 240 dặm, chảy theo đường biên giới Việt Nam[18]. Theo Ðại Thanh Hội Ðiển Ðồ (DTHHD), quyển 122, tờ thứ 26, sông nầy bắt nguồn từ những ngọn núi về phía Tây Bắc huyện Khâm Châu.

Kết luận lại, hồ sơ của ông Dillon đã viết đúng : biên giới VN và TQ, theo địa chí Trung Hoa, thì ở Long Môn.

5. Biên giới khu vực theo công ước 1887

Biên bản phân định biên giới ngày 29 tháng 3 năm 1887 nguyên văn tiếng Pháp, tạm dịch sang tiếng Việt như sau :
« Ủy ban phân định biên giới công nhận rằng từ Trúc Sơn 竹山, thuộc Trung Hoa, đường biên giới theo dòng sông, hướng Ðông sang Tây, cho đến Móng Cái – Ðông Hưng 東興. Ðường trung tuyến của dòng sông được dùng làm ranh giới và chia các khu vực La Phù Ðộng 羅浮峒, Ðông Hưng 東興 v.v.. thuộc Trung-Hoa với các khu vực Ngũ Sĩ 伍仕, Móng Cái v.v… thuộc An Nam.

Từ Móng Cái – Ðông Hưng đến Bắc Thị 北市 – Gia Long 加隆: đường biên giới khá quanh co, có hướng chung Bắc đến Bắc Tây Bắc và theo trung tuyến của dòng sông, phân chia những vùng Na Chi 那芝, Ka Long v.v... thuộc về Trung Hoa những vùng Thác Lãnh 托嶺, Nam Lý 南里, Bắc Thị v.v... thuộc An Nam.

Từ Bắc Thị - Gia Long đường biên giới theo trung tuyến sông Gia Long, là một phụ lưu tây ngạn của sông Bắc Thị 北市江, có độ dài khoảng chừng 30 lí (mỗi lí là 561 thước), và khi vượt ra ngoài 30 lí đường biên giới rời sông, theo đường thẳng trực tiếp để đến điểm cách Ðộng Trung 峝中村 3 lí về hướng Bắc, tức điểm được đánh dấu A (甲) trên bản đồ số 1. Ðường biên giới chia cho Trung Hoa các vùng Lãnh Hòa 嶺懷, Phi Lao 披勞, Bản Hưng 板興 v.v… và một ngọn núi mang tên Phân Mao Lĩnh 分茅嶺, núi này ở phía Ðông Nam của Bản Hưng 板興 và dựa lên đường biên giới. Các vùng Ná Dương 那陽, Ðộng Trung 峝中 và những nơi khác thì thuộc về An Nam.

Từ điểm A, đường biên giới đi về hướng ải Bắc Cương 北崗隘 (Bắc Cương Ải), núi Phái Thiên 派遷山 (Phái Thiên Sơn), cách làng Bình Liêu 平寮村 của An Nam khoảng 30 lí theo đường thẳng. Ðường biên giới chia các cửa biên giới Ná Quang 那光卡 (Ná Quang Ca), Bản Thôn 板吞卡 (Bản Thôn Ca) v.v... cho Trung Hoa và các vùng Na Dương 那陽, xã Trình Tường 呈祥社 v.v… cho An-Nam. »

Trong công ước 1887 phía người Hoa chấp nhận đường biên giới đi qua núi Phân Mao[19]. Nhưng đến khi ra phân giới trên thực địa, phía người Hoa lập mưu, chỉ vào một trái núi ở Động Trung, tạo dựng đền thờ Mã Viện giả, cho rằng đó là núi Phân Mao. Đường biên giới bị dời xuống phía nam đến 40km. Ông Chiniac De Labastide, chủ tịch ủy ban phân giới 1890-1892 đề nghị Toàn Quyền Pháp ký lại công ước nhưng không thành công. Việt Nam bị mất đất rất nhiều ở vùng này (khoảng 4.000km²).



[1] Xem giới thiệu của dịch giả.
[2] Hồ sơ phân định biên giới 1886-1894, CAOM mã số Indo, GGI, số thùng carton : 65353, 65354, 65355, 65356, 65357, 65358, 65359, 65360.
[3] Theo thống kê năm 1891 của Cao Ủy Bắc Kỳ, Hải Ninh gồm có hai châu Hà Cối, Tiên Yên. Châu Hà Côi gồm có các tổng Ninh Hải, Vạn Ninh, Hà Môn, Bát Trang. Châu Tiên Yên có các tổng Hà Thanh, Đôn Đạt, Kiến Duyên, Hậu Cơ, Bắc Lăng. Vạn Xuân là tên một làng thuộc tổng Vạn Ninh (gồm có các làng Vạn Xuân, Xuân Lạng, Xuân Ninh, Ninh Dương, Vạn Ninh, Đoan Tĩnh, Phục Thiên và Hòa Lạc. Hòa Lạc là tên nguyên thủy của Móng Cái).
[4] Điều đáng tiếc là bộ địa chí Đồng Khánh vừa xuất bản lại không ghi các chi tiết này. Thậm chí Hòa Lạc (tức Móng Cái) bị tập sử này ghi là « xiêu tán », tương tự nhiều địa danh khác ! Có thể các năm đó phố Hòa Lạc chỉ có dân Hoa sinh sống (tương tự Kỳ Lừa, Lạng Sơn) nhưng không thể ghi sơ suất như thế được. Xiêu tán là không còn nữa. Xem ra tài liệu do người Pháp sưu tập về biên giới còn đầy đủ hơn bất kỳ bộ địa chí nào của Việt Nam.
[5] Xem thêm bài viết của cùng tác giả : http://nhantuantruong.blogspot.fr/2013/11/viet-nam-co-mat-at-mat-bien-qua-hai.html
[6] Xem thêm bài viết của cùng tác giả https://www.facebook.com/notes/nh%C3%A2n-tu%E1%BA%A5n-tr%C6%B0%C6%A1ng/t%C3%ACm-hi%E1%BB%83u-nguy%C3%AAn-nh%C3%A2n-m%E1%BA%A5t-%C4%91%E1%BA%A5t-t%E1%BB%A5-long-v%C3%A0o-tay-trung-qu%E1%BB%91c-qua-c%C3%A1c-hi%E1%BB%87p-%C4%91%E1%BB%8Bnh-ph%C3%A1p-t/351606381546377
[7] Xem thêm bài viết của cùng tác giả http://nhantuantruong.blogspot.fr/2013/02/bien-gioi-viet-trung-vung-quang-ong-hai.html
[8] Bản dịch của ông Devéria, Ðại Thanh Nhứt Thống Chí 大清一統志 (500 quyển, in năm 1764 theo lệnh của vua Càn-Long), trong quyển La Frontière Sino-Annamite – Description géopraphique et ethnographique (d’après les documents officiels traduits pour la première fois), do l’Ecole des Langues Orientales Vivantes xuất bản, Paris năm 1886.
[9] ÐTNTC, tờ 8 và tờ 15, sdd.
[10] Sử Liệu về Biên Giới Ta Và Tàu Từ Ðời Nhà Lý Cho Tới Ðầu Thời Pháp Thuộc. Tác giả Hà Mai Phương và Chu Thu Hằng. NXB Mai Hiên, PO BOX 1061 Campell, CA, 95009, không đề năm xuất bản.
[11] Hà Mai Phương và Lưu Chu Thanh Tao, trong bài « Từ cửa Nam Quan đến ải Chi Lăng, Châu Ôn và núi Phân Mao ».
[12] DTNTC. Sdd.
[13] Devéria. La Frontière Sino-Annamite – Description géopraphiquêt ethnographique (d’après les documents officiels traduits pour la première fois), do l’Ecole des Langues Orientales Vivantes xuất bản, Paris năm 1886.
[14] ÐTNTC, sdd, quyển 364, tờ 3.
[15] ÐTNTC, sdd, q 364, tờ 5.
[16] Idem.
[17] ÐTNTC, sđd, q 348, tờ thứ 10.
[18] ÐTNTC, sđd, q 348, tờ thứ 9.
[19] Đường biên giới lý ra phải qua núi Phân Mao, nhưng vì phía người Hoa lập mưu, tạo dựng một trái núi Phân Mao giả (và đền thờ Mã Viện giả), đường biên giới bị dời xuống phía nam đến 40km. Ông Chiniac De Labastide, chủ tịch ủy ban phân giới 1890-1892 đề nghị Toàn Quyền Pháp ký lại công ước nhưng không thành công. Việt Nam bị mất đất rất nhiều ở vùng này.