mardi 12 avril 2016

Về chuyến (dự trù) viếng thăm VN của Obama...

Ông Phó thủ tướng kiêm bộ trưởng bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh mới trả lời phỏng vấn báo chí về chuyến công du Việt Nam của tổng thống Mỹ Obama dự trù vào cuối tháng 5. Nghe lời ông thì có vẻ chuyến thăm của Obama đã chắc ăn như "đinh đóng cột".

Theo tôi, nếu Obama là một người biết tuân thủ nguyên tắc, chắc chắn ông sẽ hủy bỏ chuyến công du VN vào cuối tháng 5 tới.

Những bằng chứng vừa qua về đàn áp, chà đạp nhân quyền, bắt bớ, tuyên án những người khác chính kiến với những bản ản nặng nề... cho thấy nhà nước VN không hề tôn trọng những giá trị cơ bản nhứt về quyền con người đã được hiến chương LHQ qui định. Quan niệm về nhân quyền giữa chính phủ Mỹ và VN hiện hữu những mâu thuẩn lớn. Nhà nước VN vẫn còn giữ khoảng cách rất dài giữa sự hứa hẹn, hay cam kết qua các công ước quốc tế đã ký, với sự thi hành trên thực tế.

Các việc "đấu tố" những ứng cử viên QH vừa qua là bằng chứng về các việc chà đạp quyền công dân. Những vụ "tiếp xúc cử tri", lẽ ra phải do phía ứng cử viên tổ chức và triệu tập cử tri nhằm trình bày quan điểm và chương trình hành động của mình, thì lại do "dư luận viên" phường khóm đứng ra tổ chức. Theo nội dung các clips video đã được các ứng cử viên nạn nhân công bố trên mạng, thì cuộc "tiếp xúc cử tri" thực sự là một cuộc "đấu tố" thời cộng sản bán khai, hay là hành vi "ném đá" phạm nhân ở thời tiền sử. Các ứng cử viên bị dư luận viên đột lốt cử tri mạt sát, xúc phạm nhân phẩm, danh dự cá nhân. Dĩ nhiên đây là các hành vi phạm pháp nhưng nhà nước CSVN vẫn sử dụng thường xuyên như là một vũ khí nhằm bảo vệ chế độ.

Sai lầm lớn lao của TT Obama là đã tiếp đón TBT Nguyễn Phú Trọng vào tháng 5 năm ngoái cũng như việc nhìn nhận thể chế chính trị của VN. Obama đã vô tình bảo kê cho các hành động vô nhân của đảng CSVN trên chính người dân của mình.

Đây là những lý do quan trọng mà TT Obama phải cân nhắc lại.

Lý do khác, chính phủ vừa được thành lập ở VN, nói là "chính phủ lâm thời", mà thực ra là một chính phủ được lập nên bằng các việc vi phạm hiến pháp. Trên nguyên tắc luật học, đây là một chính phủ không "chính danh".

Nguyên tắc nền tảng của "Etat de droit - nhà nước pháp trị" (mà Việt Nam dịch là nhà nước pháp quyền) thì "luật có giá trị cao nhứt và tuyệt đối".

Đơn giản bởi vì "luật" thể hiện ý chí của dân tộc.

Vấn đề là người ta áp dụng "luật" như thế nào ?

Cách thông thường, người ta "dựa vào luật" mà hành sử. Công dân trong một nước phải tôn trọng luật pháp.

Thí dụ, về luật đi đường, người ta không thể vượt đèn đỏ, đi ngược chiều hay chạy quá tốc độ... Các hành vi này bị xem là vi phạm pháp luật.

Hiến pháp VN, điều 4 qui định đảng CSVN là "lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội". Điều này thể hiện trên thực tế (từ khi VNDCCH lập quốc đến nay), tất cả nhân sự trong bộ máy nhà nước VN đều là đảng viên đảng CSVN. Mọi quyền lực của quốc gia tập trung vào tay đảng.

Nhưng không phải vì vậy mà "một hay vài lãnh đạo" nào đó nhân danh "đảng" muốn làm gì thì làm. Bởi vì, ngay ở điều 4 cũng đã qui định "các tổ chức đảng và đảng viên phải hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật".

Đảng là một "tổ chức chính trị". Ý chí của đảng là ý chí của toàn thể đảng viên, toàn thể nhân sự TƯ, hay ý chí của nhân sự BCT ?

Ý chí của đảng, nếu có, thành lập chính phủ mới, chỉ là ý chí của một vài nhân sự trong đảng mà thôi.
Vấn đề là những người này phải "hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật".

Hiến pháp, các điều 74 và 88 qui định Quốc hội có quyền "miễn nhiệm" chủ tịch nước và thủ tướng.
Nhưng các điều luật này sẽ được áp dụng trong các trường hợp nào ?

Thí dụ trên, về luật giao thông. Người ta chỉ áp dụng luật khi có dấu hiệu (vì còn phải chứng minh) phạm luật.

Nguyên tắc cơ bản về luật, một điều luật chỉ được áp dụng khi luật này bị vi phạm, hay đã hội đủ những điều kiện để thi hành điều luật.

Quốc hội đã "miễn nhiệm" Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, sau đó là Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, rõ ràng là không  lý do. Quí ông này chưa hề "từ nhiệm" cũng như không hề vi phạm một điều gì để quốc hội có thể ra biện pháp "miễn nhiệm".

Áp dụng luật khi điều luật này không (hay chưa) hội đủ điều kiện để thi hành là vi hiến.

Obama có thể nào công du sang Việt Nam để bắt tay với một ông tướng Công an, tiếm danh chủ tịch nước, trong lúc bàn tay ông này vẫn còn đang nắm một cái còng ?

  

lundi 4 avril 2016

Nói về "Sài gòn Hòn ngọc Viễn đông".

Sài Gòn đã từng được mệnh danh là "Hòn ngọc Viễn Đông", "từng là số một của khu vực", đúng như lời của ông Đinh La Thăng vừa nhắc trên báo chí. Mơ ước của ông Đinh La Thăng, xây dựng lại để Sài Gòn trở thành "Hòn Ngọc Viễn Đông", là một ước mơ đẹp, chắc chắn sẽ được sự đồng tình và chia sẻ từ nhiều thành phần dân tộc. Vấn đề là xây dựng lại với mô hình nào ?

Sài Gòn, thành phố được quân viễn chinh Pháp xây dựng trên vùng đầm lầy, từ những năm 1860. Đô đốc Bonard dự kiến một thành phố "quan trọng", bao gồm Chợ Lớn, cho một dân số 500.000 người. Mô hình thành phố là một Paris thu nhỏ, (vì vậy Sài gòn ban đầu mệnh danh là Petit Paris - Paris thu nhỏ), như mong muốn của những thủy sư đô đốc Pháp, những người đầu tiên tham gia cuộc viễn chinh phân xẻ Trung Hoa. Những công trình đầu tiên xây dựng ở Sài Gòn được hiện do thợ thầy ở Hồng Kông, là những người được mời về, vì có kinh nghiệm về xây dựng trên vùng đầm lầy.

http://belleindochine.free.fr/images/Plan/favreZ2Saigon1881.JPG

sài gòn 1881

Xem hình: họa đồ Sài Gòn 1881, đúng với danh xưng Paris thu nhỏ, "Petit Paris", dưới nét bút của thuyền trưởng Favre. Nếu có dịp sang Paris, mọi người sẽ thấy Sài Gòn xưa không khác một góc phố nào đó của Paris, như trên bức họa hình.

http://gallica.bnf.fr/ark:/12148/btv1b8442413s

Xem hình: Bản đồ Sài Gòn 1878, Nguồn Gallica, Thư Viện Quốc gia Pháp.

Việc Pháp chiếm các tỉnh Nam Kỳ (Cochinchine) chỉ là chuyện "tình cờ của lịch sử". VN ban đầu không phải là trọng tâm của sự bành trướng của đế quốc Pháp. Sau Đà Nẵng bị đánh phá, các tỉnh Nam Kỳ bị Pháp chiếm đóng. Mục đích của các thủy sư đô đốc Pháp lúc đó là xây dựng một hậu trạm để dưỡng quân, tạm thời chớ không tính chuyện lâu dài, vì mục đích của Pháp (và các đế quốc cùng thời) là phân xẻ đế quốc Trung Hoa (Chiến tranh Nha phiến lần hai 1856-1860).

Chỉ đến năm 1878, ở Pháp, tư tưởng quốc gia hợp lưu với luồng tư tưởng gọi là thực dân chủ nghĩa "colonialisme", trở thành chủ nghĩa đế quốc. Chính trị ở Paris bắt đầu xem việc chiếm thuộc địa như là "bổn phận khai hóa - devoir de civilisation". Từ đó, Bắc Kỳ (Tonkin), Trung Kỳ (An nam) cũng như Lào trở thành xứ bảo hộ của Pháp.

Đối thủ lợi lại của Pháp trong khu vực, về quân sự cũng như kinh tế chiến lược, dĩ nhiên là Anh Quốc.

Pháp có mặt ở Châu Á, trên danh nghĩa đế quốc thuộc địa, sau Anh (Tây Ban Nha, Hòa Lan, Bồ Đào Nha...) ít ra hàng 1/2 thế kỷ.

Anh Quốc, đồng thời với việc kiểm soát toàn cõi Ấn độ, cũng đã thiết lập nền thuộc địa vững chắc tại đảo Penang (Mã Lai, năm 1795), tại Singapour (1819) và eo biển Malacca từ năm 1824. Các nơi này tạo cho Anh hậu phương vững chắc để mở các cuộc viễn chinh sang Trung Hoa. Pháp quốc vì vậy là kẻ đến sau, nhưng lực lượng hải quân của Pháp không ngừng phát triển, đến năm 1893 thì có dấu hiệu vượt qua hải quân Anh Quốc.

Sự có mặt hai đế quốc, tại Pháp ở Đông Dương, và Anh ở Ấn Độ, Mã Lai, Miến Điện, Thái Lan... sẽ tạo ra những cơ hội đụng chạm nguy hiểm. Nhưng bắt đầu từ 1894, ỹ vào lực lượng hải quân, Pháp ra mặt chống Anh Quốc nhân tranh chấp Thái Lan.

Rốt cục Anh nhượng bộ Pháp để hai nước cùng quản lý Thái Lan, theo nguyên tắc condominium. Hai đế quốc xem Thái Lan như một quốc gia "trái độn", lằn ranh phân định ảnh hưởng. Nhờ ở điều này mà Thái Lan, trên danh nghĩa là thuộc địa của cả hai cường quốc Anh và Pháp, lại thoát cảnh lệ thuộc (như Việt Nam).

Nhưng ở phương diện cạnh tranh về hình ảnh trên trường quốc tế, hai đế quốc Anh và Pháp luôn có dịp là phô trương.

Sài Gòn (Hải Phòng và Hà Nội) được Pháp dốc sức xây dựng để cạnh tranh với Singapour và Hồng Kông của Anh.

Danh xưng "Hòn ngọc Viễn đông" xuất hiện để chỉ cho Sài Gòn, thủ đô Đông Dương về kinh tế (và ăn chơi), cạnh tranh với "hòn ngọc viễn đông" của Anh là Singapour.

Trong khi Hà nội được xây dựng để trở thành một "thủ đô văn hóa" của Đông Dương. Tất cả các trung tâm văn hóa của ba xứ Đông Dương đều tụ tập ở đây. Còn Hải Phòng, nỗ lực của Pháp để cạnh tranh với Hồng Kông cũng rất lớn lao. Điển hình là công trình xây dựng đường xe lửa Hải Phòng - Vân Nam, với cây cầu nổi tiếng thời đó là cầu Long Biên (trước đó có tên là Paul Doumer, viên thống sứ chủ trương phát triển kinh tế các xứ thuộc địa).

Ý chí của Anh, xây dựng các thuộc địa để tìm lợi nhuận gián tiếp qua các quan chức địa phương. Còn Pháp, ngược lại, trực tiếp cai trị để tìm lợi nhuận kinh tế.

Singapour được Anh xây dựng như là một hải cảng hàng đầu Châu Á (có giá trị đến bây giờ). Sài gòn không phải là hải cảng mà chỉ là một thành phố xây dựng trên bờ sông, sâu trong đất liền.

Có người viết bài trên BBC, so sánh hơn thua giữa Sài Gòn và Singapour. Bài viết mở đầu :

"Việc ngợi ca "hòn ngọc Viễn Đông số một" và "Singapore mơ thành Sài Gòn" chỉ là suy nghĩ của những người Việt Nam Cộng hòa hoài cổ và dí dỏm sau 1975."

Dĩ nhiên danh xưng "Hòn ngọc Viễn Đông" không hề đến từ suy nghĩ của những người VNCH hoài cổ, mà đó là một sự thật lịch sử, là mục tiêu xây dựng thuộc địa của đế quốc Pháp. Việc này có thành hiện thực hay không, đọc lại sử sách của Anh, hay của các nước chung quanh ta có thể kiểm chứng.

"Hòn ngọc Viễn đông" cũng là lời tán dương trên đầu môi chót lưỡi của những chính trị gia, những nhà "sành điệu ăn chơi" sống trong thời kỳ đó.

Sài gòn, "Hòn ngọc Viễn đông", là chốn "phồn hoa đô hội", nơi nhà giàu khoe tiền của. Thời đó, tài phiệt quốc tế trong khu vực, nếu không đi Paris mua sắm, thì người ta qua Sài Gòn. Không ai đi Vọng Các hay Singapour. Chơi bời, cờ bạc, hút sách... cũng vậy, không ai đi qua các thuộc địa của Anh. Sài Gòn là nơi những "đại gia" các nước đến đốt tiền.

Lời phê bình của Phạm Quỳnh, dẫn trong bài viết, cho rằng hải cảng Singapour lớn hơn rất nhiều Sài Gòn và Hải Phòng. Điều này không làm giảm đi cái lấp lánh của "Hòn ngọc Viễn đông" tên gọi Sài Gòn. Đơn giản vì Sài gòn không phải là hải cảng.

Việc lựa chọn Sài Gòn (thay vì Đà Nẵng), với vị trí ở sâu trong đất liền, là do quyết định của thủy sư đô đốc Page, một quyết định thuần túy quân sự, với hai mục đích: một là phòng thủ và hai là nhằm mở rộng lãnh thổ cho đến Campuchia, Lào; sau đó mở đường sông Cửu Long sang Tàu. Vì lý do phòng thủ mà dự án "vòng đai Sài Gòn" được thiết lập, với vòng đai là một con kinh bề ngang 20m, sâu 6m, nối sông Sài Gòn qua kinh Thị Nghè. Dự án này sau đó bãi bỏ.

Cũng trong bài viết này dẫn lời phê bình của cụ Trần Trọng Kim, cho rằng Băng Cốc lớn hơn Hà Nội năm bảy lần. Thì cũng đúng thôi. Hà Nội không phải là Sài Gòn.

Từ khi nhà Nguyễn thiên đô về Huế, Hà Nội trở thành cái bóng của lịch sử. Cho đến cuối thế kỷ 19, tại Bắc Kỳ, tinh thần hoài Lê vẫn còn rất mạnh. Loạn lạc thường xuyên nổi lên. Nguyên nhân vì sĩ phu Bắc Hà không chấp nhận việc dời đô. Thăng Long là thủ đô ngàn năm thì không thể hạ xuống dưới Huế và Sài Gòn được.

Riêng câu "50 năm trước, ông Lý Quang Diệu nhìn về Sài Gòn và mơ ước Singapore sẽ được như Sài Gòn" mà bài viết có nhắc, thì chỉ mới xuất hiện sau này. Người ta cho rằng ông Lý Quang Diệu có nói vậy. Vấn đề là không ai ghi rõ ông này nói câu đó ở đâu? lúc nào?

Điều chắc chắn là không có người VNCH hoài cổ nào "sáng tác" ra được một lời như vậy.

Nếu so sánh "bề thế", Sài gòn hay Singapour lớn, như ý kiến của bài viết trên BBC, thì việc so sánh cũng không ổn. Singapour là một đảo nhỏ, không có đất để mở rộng thành phố. Vì vậy làm sao so sánh được với Sài Gòn ? Mà độ lớn nhỏ của một thành phố đâu có nói lên được điều gì ? Quan trọng là hạ tầng cơ sở của thành phố đã được xây dựng ra sao.

Một cách đơn giản để so sánh Sài Gòn với Singapour (và Bang Kok), là so sánh các bản đồ của các thành phố này (cùng thời kỳ).

Việc làm này hết sức dễ dàng vì hiện nay các tập bản đồ Indochine, Thái Lan, Singapour... có thể tham khảo tự do trên các trang web.
Bản đồ Sài Gòn, Băng Cốc và Singapour cùng năm 1928. Ta thấy, trên bản đồ, mức độ qui mô của Sài Gòn vượt xa Băng Cốc (và dĩ nhiên Singapour).

Hình:

sài gòn 1928

singapour 1928

bangkok 1928

Điều nên biết, các nước được xếp vào vùng Viễn Đông gồm có các nước : Việt, Miên Lào (là ba nước Đông dương thuộc Pháp), Mã Lai, Singapour, Thái Lan, Indonésie, Phi, Đại Hàn, Trung Quốc và Nhật. Nước nào cũng có "Hòn ngọc Viễn đông" của nước đó, do tự phong hay do "quốc tế" đặt tên.

Sự cạnh tranh của hai đế quốc Anh và Pháp, thực ra là Pháp cạnh tranh với Anh (do ganh tị) vì vậy, vô hình chung, Việt Nam hưởng lợi. Từ những năm 1895 Pháp đã tập trung vào việc xây dựng hạ tầng cơ sở ở thuộc địa nhằm phát triển kinh tế, với tham vọng qua mặt Anh quốc tại Singapour và Hồng Kông.

Bản đồ năm 1921 cho thấy hệ thống đường xá (đường lộ và đường sắt) huyết mạch cơ bản ở các xứ Đông Dương đã được xây dựng. Hệ thống cơ sở hạ tầng này vẫn còn được sử dụng đến hôm nay.

bản đo routes coloniales 1921

Bản đồ đường xá, cầu cống năm 1921.

Nếu so sánh về hạ tầng cơ sở, cùng thời, Sài Gòn bỏ xa Băng cốc và Singapour. Dầu vậy, Singapour có tầm quan trọng lớn về chiến lược, kiểm soát hầu hết các hải đạo thông thương Âu-Á. Singapour cũng là một hải cảng lớn nhứt vùng, Sài Gòn không thể so sánh (vì không phải là hải cảng).

Nếu so sánh Sài Gòn với các thành phố (ở các nước Viễn Đông) sau 1945, thì sự khác biệt lại càng sâu sắc.

Singapour, Kuala Lumpur, trong thời kỳ Thế chiến II Nhật chiếm, sau đó chịu sự oanh tạc, bỏ bom của quân Đồng minh, bị tàn phá nhiều nơi. Ngoại trừ Sài Gòn (và Hồng Kông). Vì vậy ta không thể so sánh.

Bài viết đã dẫn trên BBC cũng đưa ra các số liệu về kinh tế, cho rằng GDP Mã Lai thường lớn gấp đôi đến gấp 3 lần Việt Nam. Nguyên văn dẫn lại như sau:

"Theo các hồ sơ lưu trữ cũng như các nghiên cứu kinh tế Châu Á suốt thế kỷ 20, GDP Việt Nam đều có vị trí rất thấp. Ví dụ, theo thống kê của hai giáo sư kinh tế học Jean-Pascal Bassino và Pierre van der Eng, từ 1913 đến 1970 kinh tế Việt Nam (cả miền bắc và miền nam) hầu như luôn thấp hơn Malaya (tiền thân của Malaysia với Singapore là thủ đô kinh tế), Philippines, Thái Lan (không có số liệu trước 1950).

Tùy thời điểm, GDP Malaya thường gấp đôi đến gấp 3 lần Việt Nam, thì lẽ nào thủ phủ kinh tế của nó chỉ là một làng chài nhỏ và mơ được như Sài Gòn!"

Cái sai thứ nhứt (của đoạn dẫn trên), là Singapour chưa bao giờ là "thủ đô kinh tế" của Mã Lai hết cả.

Thuở ban đầu, Singapour là một lãnh thổ thuộc bang Johor, sau đó trở thành thuộc địa của Anh (1819). Khi độc lập, bang Johor gia nhập Liên Bang (gồm cả Singapour), nhưng sau đó Singapour bị đuổi ra khỏi Liên bang Mã Lai (1965).

Cái sai thứ hai là tài liệu thống kê của Jean-Pascal Bassino và Pierre van der Eng không hề ghi GDP của VN thấp hơn Mã Lai đến hai, ba lần.

Bảng thống kê dưới đây, tác giả cho rằng của hai giáo sư kinh tế vừa ghi.

truongthaidu

Tác giả dựa vào đó để kết luận rằng GDP của VN thấp hơn GDP Mã Lai đến hai, ba lần. Vấn đề là tác giả đã sai lầm trong việc diễn giải số liệu toán học. Trên bảng ghi rõ: Logarithme của Y (chớ không phải Y, biểu diễn GDP).

Thứ ba, kiểm chứng lại tài liệu đã dẫn của tác giả: không thấy ghi những dữ liệu mà tác giả đã trình bày trong bài viết.

Trong khi số liệu từ tác giả Anngus Maddison trong "Etudes du Centre de Développement L'économie mondiale une perspective millénaire", OCDE 2001, trang 159.

Bảng A3-c, GDP đầu người, tính bằng đô la quốc tế 1990:

1913 : VN 754; Mã Lai 899; Singapour 1279; TQ 552; Phi 1066; Thái Lan 835.

1950: VN 658; Mã Lai 1559; Singapour 2219; TQ 439; Phi 1070; Thái Lan 817.

Dầu vậy số liệu GDP đầu người không nói lên được điều gì.

Dưới thời thực dân, người dân VN, ở miền Trung và miền Bắc, một cổ hai tròng. Một tròng của thực dân và một tròng của quan lại. Miền Nam thì một tròng của thực dân và một tròng của địa chủ. Vì vậy GDP đầu người rất chênh lệnh, tương tự VN hiện nay. Những người có chức quyền thì tiền xài không hết, trong khi những người dân khác thì "lần không ra".

GDP ở Sài Gòn tính bằng trung bình của người (giàu có đốt tiền theo kiểu Hắc, Bạch nhị công tử) hay người nông dân ?

Vì vậy, kết luận của tác giả bài viết trên BBC hết sức sai lầm và phiếm diện. Sai lầm vì không nắm vững lịch sử bành trướng thuộc địa của các đế quốc Anh và Pháp. Sai lầm vì diễn giải sai những dữ kiện toán học đồng thời dữ kiện đưa ra không đúng với tư liệu nguồn. Sai lầm khác là so sánh những thứ không thể so sánh.

Trở lại ý kiến của ông Đinh La Thăng, làm thế nào để Sài Gòn lấy lại hình ảnh của "Hòn ngọc Viễn đông" ngày xưa ?

Theo tôi, có nhiều mô hình để nghiên cứu. Thứ nhứt mô hình Kuala Lumpur, với Tiến sĩ Mahathir. Mô hình này tách Kuala Lumpur thành một "tiểu bang tự trị", có thẩm quyền như các tiểu bang khác. Kuala Lumpur trở thành trái tim kinh tế của Mã Lai, với nhiều cơ sở công kỹ nghệ tiên tiến về dầu hỏa, điện tử, cơ khí...

Thứ hai, mô hình Singapour với Lý Quang Diệu. Điều này sách vở VN có nhiều người đề cập.

Thứ ba mô hình "đặc khu kinh tế" của Đặng Tiểu Bình.

Ta thấy các mô hình này đều thành công, vì nó phù hợp với tình hình địa lý, chính trị, nhân văn của các nước.

Việt Nam hoàn toàn khác. VN có nhiều tiềm năng để qua mặt các "đặc khu kinh tế" theo kiểu Đặng Tiểu Bình hay mô hình Kuala Lumpur của TS Mahathir. Nhưng VN không có cái gì để so sánh với Singapour.

Vấn đề là chế độ chính trị. Chưa thấy mô hình chế độ XHCN nào kinh tế phát triển bền vững. Đó là chưa nói đến các hệ quả của nền công an trị. Việc này đã tạo sự thù hận, đào hố sâu ngăn cách giữa những thành phần dân tộc. Dĩ nhiên, về lâu dài, đó là yếu tố cản trở mọi phát triển cũng như đe dọa sự ổn định trong xã hội.

dimanche 27 mars 2016

Viết gì nhân ngày sinh nhựt "6 bó" 27-3 ?

Hôm qua có người viết chúc mừng sinh nhựt, gọi tôi là "cây bút thâm niên". Nghĩ cũng vui. Tử vi của mình chắc có sao "phong cáo" giữ mạng, nên "khi không" được mang nhiều "chức danh", theo kiểu trên trời rớt xuống. "Cây bút thâm niên" là cái "danh" mới được tặng, mặc dầu tôi chưa bao giờ (được hãnh diện) cộng tác với tờ báo nào.

Tương tự, tôi có bằng tiến sĩ bao giờ đâu mà cũng có nhiều người gọi tôi là "Tiến Sĩ". Lại có người gọi tôi là "học giả", là "nhà nghiên cứu" nọ kia. Lâu lâu còn có người gọi mình là "giáo sư". Nhiều khi đọc (hay nghe) tới chỗ này trong bụng cũng thấy hơi "sượng" một chút (sượng chớ không phải sướng nghe bà con). Gò má thấy hơi nóng, chắc là máu mắc cở đang chảy rần rần trong đó.

Tiến sĩ, giáo sư, học giả, nhà nghiên cứu... đâu phải là cái bánh, cục kẹo mà gọi dễ dàng như vậy ?

Thì nhân ngày sinh nhựt 6 bó mình thử mổ xẻ hiện tượng "phong cáo" này cho vui (nhấn mạnh: "phong cáo" chớ không phải "phong thần" nghe bà con. Mặc dầu cầm viết lăn lóc tới 6 bó thì "võ lâm phong thần bảng" sắp ghi danh rồi!).

Nguyên nhân do đâu ?

Do "hên", theo lối "chó ngáp nhằm ruồi" ?

Mới đây nhứt, bài tôi viết ngày 28-7-2015 về tranh chấp biên giới giữa Campuchia và VN.
Đúng là "chó ngáp nhằm ruồi", báo chí đang tải một tấm hình trong đó các học giả, chính trị gia... Campuchia đang hội thảo về vấn đề VN lấn đất. Hên là một chi tiết trong tấm hình đó đã quá quen thuộc với mình. Chỉ nhìn lên đó tôi biết được khu vực tranh chấp là ở đâu, trên tấm bản đồ nào, ai lấn đất của ai, diện tích tranh chấp là bao nhiêu cây số vuông...

Bài viết còn ở đây.

Rõ ràng là sự hiểu biết của mình ở đây, là nhờ "hên", nhờ "trúng tủ", chớ không phải vì mình là "nhà nghiên cứu" hay "học giả" cái khỉ khô gì !  

Cũng vậy, một thí dụ khác để chứng minh cái "hên" bẩm sinh.

Khi đọc bài viết của hai vị học giả gạo cội của VN, một là GS Tạ Văn Tài, nghe nói là giáo sư luật ở trường đại học nào đó ở bên Mỹ. Hai là ông Tiến sĩ Vũ Quang Việt, nghe nói là chuyên gia nghiên cứu ở một cơ quan thuộc LHQ. Bài viết hai vị học giả giải thích nội dung Công ước của LHQ về Kế tục Quốc gia. Đây là một vấn đề chuyên môn về luật quốc tế.

Bài viết của tôi ở đây.

Rõ ràng là nhờ "hên", kiểu "chó ngáp nhằm ruồi", kiến thức trên trời rớt xuống, nên tôi thấy ngay cái sai của hai vị học giả và phản biện lại.

Thí dụ khác. Có lẽ tôi là người duy nhứt đặt cược "ngựa về ngược", từ tháng 5 năm ngoái, rằng ông Trọng sẽ ngồi lại vị trí TBT.

Rốt cục, nhờ "hên", ngựa tôi (tuy già) nhưng (còn gân) về trước.

Sau vụ này tôi có ra "tuyên bố" rằng sau này về hưu tôi sẽ mở văn phòng bói toán. Văn phòng lấy tên "Lốc cốc tiên sinh", bói không trúng không lấy tiền.

Mà không phải tôi chỉ "hên" có bấy nhiêu. 

Nhớ lại những năm 90 của thế kỷ trước... trong nước ồn ào vọng ra hải ngoại: "CSVN bán đất nhượng biển" cho Tàu.

Thời đó, nhiều giáo sư, học giả, nhà nghiên cứu... trong và ngoài nước, đua nhau lên tiếng về vấn đề lãnh thổ, biên giới, biển đảo... Nhiều bài viết về ải Nam Quan, về thác Bản Giốc, về Hoàng Sa, Trường Sa... được xuất hiện trên báo chí. Với những bằng chứng rành rành, lấy từ kho tư liệu (vĩ đại) của Việt Nam: Phương đình Địa dư chí, Đại Việt sử ký toàn thư, Kiến văn tiểu lục...

Vấn đề là không có bài viết nào xác định được cột mốc ở Nam Quan được cắm ở đâu? Thác Bản Giốc nằm ở đâu (trên vùng biên giới).

Cũng nhờ "hên", khi vào văn khố của Pháp để lục lọi, tôi tìm ra trúng phóc tài liệu về biên giới VN và TQ theo các công ước Pháp Thanh 1887-1895.

Nhờ cái hên "chó ngáp nhằm ruồi", dữ liệu từ trên trời rớt xuống, tôi mới "giải mã" được vị trí thực sự của cột mốc phân giới vùng Nam Quan là ở đâu, thác Bản Giốc nằm ở đâu.

Dĩ nhiên, trong nước có người nắm vững việc này, như những người phụ trách việc phân định biên giới. Nhưng không phải "chuyên gia" nói là "thánh phán", là đúng.

Bài viết ở đây tôi phản biện các ý kiến của Tiến sĩ Trần Công Trục.

Về vấn đề biên giới, Giải Âm Sơn và Lão Sơn, một nhóm "nhà nghiên cứu" gồm nhiều tiến sĩ, giáo sư v.v... đã công bố trước công chúng một "công trình nghiên cứu đồ sộ". Công trình này nghiên cứu bằng "dụng cụ" "Terra Go" (mà không ghi nguồn), trên những tấm bản đồ có sẵn. Vấn đề là "công trình" này có nhiều điểm sai "cố ý". Điển hình ở khu vực Lão Sơn và Giải Âm Sơn.

Bài viết của tôi ở đây (nhằm thiết lập lại sự thật chớ không nhằm phản biện).

ở đây.

Tài liệu của tôi (từ văn khố Pháp, trên trời rớt xuống), thấy làm sao tôi trình bày y như vậy.

Còn về chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa, nhiều "học giả" VN đã sử dụng "công pháp quốc tế", giải thích "luật", nhưng mục đích sao cho lãnh đạo hài lòng, dân chúng nghe sướng tai, chớ không nhằm thiết lập một hồ sơ pháp lý.

Vì "hên" bẩm sinh, "luật quốc tế" từng cuốn chạy một hơi vồ đầu, nên tôi thấy những lý lẽ của các học giả VN là "có vấn đề". Một bài viết tiêu biểu của tôi phản biện các ý kiến của học giả VN.

Và đặc biệt, nhờ "hên", tôi cũng tìm ra được phương pháp hóa giải các văn kiện của VNDCCH nhìn nhận chủ quyền của TQ tại HS và TS, như bài viết ở đây.

Nếu nói ra hết những cái "hên", "chó ngáp nhằm ruồi" mà tôi có được, có lẽ phải viết rất dài.

Túm lại, gọi tôi là "cây viết thâm niên" thì cũng đúng thôi. Vấn đề là tôi không có cộng tác với báo chí nào hết cả. Trong nước thì khỏi nói, mà hải ngoại cũng vậy.

Người ta thích đăng những bài mà tác giả phải là "giáo sư", "tiến sĩ", học giả... tệ lắm thì cũng "thạc sĩ" nọ kia... Tôi thì trơ cùi bắp, không có gì cả.

Vấn đề là tôi có khả năng sửa lưng giáo sư, tiến sĩ, chuyên gia... ngay ở lãnh vực chuyên môn của họ.
Thí dụ về vấn đề biên giới. Tôi cho rằng kiến thức của tôi không hơn được những nhà chuyên môn, những người đã từng phụ trách vấn đề phân định biên giới trong nước. Nhưng để đạt được "tầm cỡ" của họ tôi phải nỗ lực gấp hai, ba lần.

Các chuyên gia trong nước, hồ sơ biên giới thế nào đã có sẵn, họ chỉ mở ra và đọc.

Còn tôi, hồ sơ biên giới thì "từ văn khố Pháp trên trời rớt xuống", mặc dầu do "chó ngáp nhằm ruồi", nhưng tài liệu lộn xộn, hàng đống. Vì vậy, do "hên", nên tôi phải đọc, phải sắp đặt lại.

Vấn đề Biển Đông cũng vậy. Chỉ là "tay ngang" nhưng tôi phản biện, vạch ra từng cái sai (cơ bản) của các chuyên gia Biển Đông, của luật sư, tiến sĩ, giáo sư...

Nhưng báo chí ít khi đăng các bài viết của tôi lắm.

Báo chí hải ngoại, cũng như trong nước, họ làm là có mục đích.

Trong nước thì khỏi nói. Ở hải ngoại, nếu không vì động lực thương mãi, thì phía sau mỗi tờ báo là một tổ chức chính trị. Vì vậy, báo chí này chỉ đăng tải bài của "gà nhà".

Tôi viết, đến nay tuổi đã 6 bó, chỉ vì một mục đích thiết lập "sự thật" và một cứu cánh "một đất nước Việt Nam tốt đẹp". Tôi không cần báo chí đăng bài của tôi. Tôi cám ơn internet, cám ơn facebook, blogger... đã cho tôi phương tiện để bà con đọc bài viết của tôi.

Tôi cám ơn mọi người đọc bài viết của tôi.

Tôi trân trọng cám ơn những người chúc mừng sinh nhựt của tôi.


Gọi tôi là thế này, thế kia, tôi rất cám ơn, nhưng thật tình không dám nhận. Tôi là một người Việt Nam bình thường, kiến thức trung bình với có lối suy nghĩ hết sức bình thường. Tôi viết như "máu chảy về tim", như con chim hót chào mừng buổi sáng.   

samedi 5 mars 2016

Thoát Trung: thử hóa giải lời nguyền địa lý.

Thế nào là "thoát Trung" ? Nếu là để thoát khỏi "ảnh hưởng" của Trung Quốc thì, theo tôi, không hẳn chỉ là các vấn đề thuộc về văn hóa, kinh tế hay "lời nguyền địa lý" như nhiều học giả VN đã và đang bàn luận.

Thử lấy thí dụ Nhật Bản, Đài Loan và Đại Hàn. Văn hóa (nếu không nói là văn minh) của ba nước này, trên nhiều mặt của xã hội hiện nay vẫn thể hiện sâu đậm màu sắc của văn hóa Khổng giáo. Về chữ viết đã đành. Thử xem một vài phim tình cảm xã hội của Đại Hàn, Đài Loan hay Nhật sản xuất. Ta thấy sao mà quen thuộc quá. Nếu bỏ qua những đường nét, khung cảnh hiện đại của những thành phố tiên tiến trong một quốc gia phát triển, thì ta tưởng đó là phim xã hội VN. Khung cảnh trong gia đình của một người Đài Loan, Đại Hàn, thậm chí Nhật, đều giống nhau, như Việt Nam (nhứt là VNCH trước kia). Đó là mô hình của một xã hội ảnh hưởng văn hóa Khổng Mạnh. Dĩ nhiên là văn hóa này đã giảm thiểu nồng độ cực đoan, đến từ việc du nhập văn hóa bao dung và tự do của Tây phương. Ta không còn thấy cảnh thân phận người phụ nữ bị bó rọ trong "tam tòng, tứ đức", cũng không thấy người đàn ông với những tín điều cứng nhắc "tam cương, ngũ thường"... 

Câu hỏi đặt ra, nếp sống gia đình  ở Nhật, ở Đài Loan, ở Hàn quốc, có tốt hơn nếp sống gia đình ở VN hay TQ hiện nay, ảnh hưởng chủ thuyết duy vật của Mác Lê Nin hay không ?  

Câu hỏi tiếp theo, là các nước Nhật, Hàn quốc, Đài Loan... về phương diện địa lý, cũng có "lời nguyền" về "địa chính trị" không khác lắm với Việt Nam. Vậy sao họ "cách biệt", nếu không nói là "thoát và vượt Trung" hàng thế hệ về tiến bộ văn hóa, khoa học kỹ thuật ?

Còn về vấn đề kinh tế, liên thuộc kinh tế giữa Trung Quốc với các nước Nhật, Hàn, và Đài Loan hết sức là gắn bó keo son. TQ đã, đang và sẽ mãi là đối tác quan trọng hàng đầu của ba nước này. TQ nhờ tư bản và kỹ thuật các nước này đầu tư nên mà kế hoạch "hiện đại hóa" thành công. Các nước này nhờ TQ mà kinh tế tăng trưởng đều đặng. Vậy họ có cần "thoát" lẫn nhau không ?

Các nước trên, về phương diện chữ viết, cũng như VN trước thời Pháp thuộc, đến hôm nay cũng vẫn giữ nguyên tắc cơ bản chữ Hán. Nhưng VN, có lẽ vì muốn "khác người", nhứt là phải khác (và vượt trội) VNCH, do đó có khuynh hướng xóa bỏ các từ Việt gốc Hán. Một số kinh nghiệm sau 1975 với các ngôn từ ngây ngô, như từ "xưởng đẻ" để thay thế cho "nhà hộ sinh". Bệnh viện Từ Dũ ở Sài Gòn có lúc đổi tên là như vậy. Lại còn các từ như "máy bay lên thẳng", "lính thủy đánh bộ", "giặc lái"...
Việc sử dụng từ gốc Hán không có gì phải mặc cảm. Người Nhật, người Hàn... xem ra còn lệ thuộc vào chữ Hán còn hơn VN. Bên Châu Âu cũng vậy, chữ viết các xứ này đều bắt nguồn từ Latin, Grec... Những từ khoa học các nước  Âu Mỹ hầu hết đều có gốc Latin hay Grec. Các nước này đâu thấy ai lên tiếng than phiền là lệ thuộc, tỏ ý muốn "thoát Trung" hay "thoát Grec (hay Latin)" đâu ?

Lệ thuộc hay không là do mình. Ta thấy một lượng lớn từ ngữ chuyên môn (học thuật hay khoa học) Hán Việt bắt nguồn từ Nhật, do các học giả Nhật phát minh ra. Chỉ số chất lượng về đời sống, về văn hóa, về kinh tế... trên mỗi con người của Nhật, Hàn, Đài Loan hơn xa Trung quốc. Trong khi thành quả các tiến bộ về văn hóa, khoa học, kỹ thuật... Trung Quốc cũng bị các nước Nhật, Hàn... đã bỏ xa hàng vài thập niên. Như thế, ta thấy việc ảnh hưởng văn hóa Hán (chữ viết) không hề ảnh hưởng lên việc phát triển quốc gia.

Về kinh tế cũng vậy, sự liên thuộc về kinh tế giữa hai nước Nhật, Hàn và Đài loan với Trung Quốc không chừng còn quan trọng hơn quan hệ giữa TQ với Hoa Kỳ và UE cộng lại. Trong các quan hệ này, ta dùng từ "liên thuộc" chứ không phải "lệ thuộc". Nếu chỉ tính từ thập niên 80, TQ luôn nhập siêu từ Hàn quốc và Nhật. TQ cần các mặt hàng có tính khoa học kỹ thuật cao của hai nước này để phát triển đất nước. Trong khi Nhật và Đại Hàn cũng cần đến TQ để phát triển kinh tế. Cho dầu Nhật và TQ có những mâu thuẫn sâu sắc về chủ quyền quần đảo Senkaku (Điếu Ngư), nhưng TQ chưa hề dám đe dọa dùng vũ khí kinh tế đối với Nhật.

Như vậy, dựa trên hai yếu tố văn hóa và kinh tế để "thoát Trung", (như các học giả VN đã và đang hô hào) rõ ràng Nhật và Đại Hàn đang có khuynh hướng ngược lại : "nhập Trung" thay vì "thoát Trung".
Nhưng quan hệ kinh tế hai bên Việt-Trung, số kim ngạch trao đổi hai bên cán cân luôn thặng dư về phía TQ. Việc thâm thủng này ngày mỗi tăng. Điều quan trọng là quan hệ kinh tế giữa VN và TQ, trong chừng mực, là quan hệ "thực dân – thuộc địa về kinh tế". Nếu đọc lại các bản tuyên bố chung của hai bên được công bố gần đây, ta thấy VN đã nhượng cho TQ quá nhiều đặc quyền, đến đỗi các việc này có thể đe dọa nền độc lập của quốc gia. Không nói quá, mọi huyết mạch của kinh tế VN hiện nay đều do TQ kiểm soát.

Điều này đến từ các quyết định chính trị chứ không phải là những lựa chọn bắt buộc. Tức là VN vẫn có thể thoát khỏi tình trạng lệ thuộc kinh tế nếu lãnh đạo có can đảm về chính trị.

Vì vậy, theo tôi, thoát Trung hay không là một vấn đề  "chiến lược" chứ không hẵn là kinh tế hay văn hóa.

Một lý do thường thấy nhiều người VN nại ra, ngại khi quay lưng lại với Trung quốc, là vấn đề "địa chiến lược", nước xa không cứu được lửa gần.

Ta thấy các nước như Nhật, Đại Hàn, Thái Lan, Phi… (nếu không nói Đài Loan) đều ở kế "vách" với TQ, nhưng họ đâu sợ TQ. Các nước này, phần lớn, là các nước dân chủ, thịnh vượng.

Để xóa bỏ nỗi ám ảnh (chính đáng) "nước xa không cứu được lửa gần" của một số người VN hiện nay, ta cần nhắc lại một số điều cơ bản của các lý thuyết về địa chiến lược (mà lãnh đạo TQ bị ảnh hưởng).

Theo tôi, lý thuyết "Địa Chiến lược – Không gian sinh tồn" của Friedrich Ratzel (xuất bản năm 1902) có ảnh hưởng sâu sắc lên các lớp lãnh đạo (then chốt) của TQ, làm thay đổi bộ mặt của nước này, đó là : Tưởng Giới Thạch, Mao Trạch Đông và Đặng Tiểu Bình.

Bảy định luật của thuyết này là :

1. Không gian (sinh tồn) của một dân tộc được mở rộng đồng thời với văn minh của dân tộc đó. Một dân tộc có nền văn minh tiến bộ sẽ đồng hóa các dân tộc kém văn minh hơn.

2. Lãnh thổ quốc gia sẽ phát triển theo tỉ lệ thuận với sức mạnh kinh tế và đội ngũ thương buôn của quốc gia cũng như chủ thuyết phát triển quốc gia. Việc bành trướng vì thế chỉ tùy thuộc vào ý chí và phương tiện.

3. Việc bành trướng của cường quốc được thực hiện qua phương cách "hấp thụ và tiêu hóa" các nước nhỏ.

4. Đường biên giới quốc gia không xác định (biên giới linh động - frontière vivante). Biên giới xác định chỉ có giá trị tạm thời, chỉ để đánh dấu giữa hai giai đoạn bành trướng.

5. Trong quá trình bành trướng, lãnh thổ (bây giờ là biển) là mục tiêu chiếm hữu.

6. Các quốc gia yếu kém ở kế cận là mục tiêu bành trướng. Sự bành trướng của cường quốc không thể tiến triển nếu quốc gia lân bang cũng là cường quốc.

7. Hiện tượng bành trướng có khuynh hướng lan rộng do việc tranh dành lãnh thổ của các quốc gia.

Bảy định luật của Ratzel đã hoàn toàn chứng nghiệm cho dân tộc Hán từ lập quốc đến ngày hôm nay.

Định luật 1 : Nền văn minh Hán Tộc đã đồng hóa tất cả các dân tộc khác, kể các các dân tộc dũng mãnh đã chiếm hữu và trị vì Trung Quốc. Lúc đầu lập quốc, dân tộc Hán chỉ có một vùng đất nhỏ, nhưng sau đó bành trướng ra, đồng hóa các dân tộc chung quanh. Văn hóa các dân tộc Mãn Châu, Mông Cổ, Liêu, Kim… đã không còn dấu vết ở Trung Quốc.

Định luật 2 : Hiện đang thích ứng cho tình trạng TQ hiện nay. Sự vượt trội về kinh tế, cho phép nước này hiện đại hóa quân đội. Những hành vi khẳng định chủ quyền của TQ ở biển Đông, hay lên tiếng tranh chấp với Nhật ở quần đảo Senkaku, cho thấy ý chí của nước này.

Định luật 3 : Định luật này cùng với định luật 1 đã được dân tộc Hán áp dụng từ thời mới lập quốc và còn đang tiếp tục cho đến hôm nay. Dân tộc Hán luôn bành trướng và tiêu diệt (hay Hán hóa) tất cả các dân tộc khác. Hiện nay việc đồng hóa đang được thực hiện ráo riết tại Tây Tạng.

Định luật 5 cho thấy vẫn chưa lỗi thời, TQ đặt ra mục tiêu chinh phục Biển Đông (Hoàng Sa và Trường Sa) đồng thời dành lại quần đảo Điếu Ngư (Senkaku). Nhưng định luật này cần cập nhật thêm, vì chủ đích của việc chinh phục là vùng biển, qua hai mặt: chiếm hữu và xây dựng các đảo nhỏ ở HS và TS thành một "bức trường thành" nhằm mục đích phòng vệ lục địa, sau đó là tài nguyên.

Định luật 6 phản ảnh rõ rệt thái độ bành trướng của Trung Quốc ngày hôm nay : VN và Phi, hai nước yếu, nằm trong tầm nhắm của TQ. Trung Quốc không bao giờ muốn thấy một Việt Nam giàu mạnh. Một nước Việt Nam giàu, mạnh sẽ ngăn cản sức bành trướng của Trung Quốc. TQ đã sử dụng nhuần nhuyễn "quyền lực mềm" để kiểm soát VN, qua các mặt: ý thức hệ chính trị, văn hóa và kinh tế. Ta thấy trên thực tế, đảng CSVN là một bộ phận của đảng CSTQ. Về văn hóa, phim ảnh, sách vở... của TQ thống lĩnh trên các chương trình truyền hình VN. Người VN thuộc sử TQ hơn cả người TQ. Còn về kinh tế, hàng hóa TQ tràn ngập thị trường. Hàng hóa TQ len lõi nhập lậu vào VN, khiến nền công kỹ nghệ tư nhân VN chết đứng. Ngoài ra, các công trình xây dựng ở VN hiện nay hầu hết đều do nhà thầu TQ phụ trách. Nhìn thành quả đường xe điện ở Hà Nội, với đường rầy uống lượn nhấp nhô như "rồng", ta thấy ngay sự buông thả, vô trách nhiệm của lãnh đạo VN. Đó cũng là cách áp dụng uyển chuyển của lý thuyết "không gian sinh tồn", biến VN thành một chư hầu kinh tế.

Từ định luật 6, ta thấy cuộc chiến giữa TQ và Nhật chắn chắn sẽ xảy ra. TQ không thể trở thành đại cường nếu có nước Nhật mạnh ở kế bên (và ngược lại).

Định luật 7 cho thấy có nhiều điều cần điều chỉnh lại. Đất đai không còn là mục tiêu tranh chấp mà là việc tranh dành vùng biển, tranh dành thị trường, vùng ảnh hưởng. Ngoài ra là những xung đột giữa các nền văn minh (Thiên chúa - Hồi giáo) như hiện nay (theo thuyết của Samuel P. Huntington).

Theo tôi, quan trọng nhất trong các định luật trên là định luật 6. "Thoát Trung" là  thoát lệ thuộc chính trị, thoát u mê ý thức hệ, thoát mù quáng tình đồng chí anh em, thoát cám dỗ "4 tốt 16 chữ vàng"...  

Thoát ra được hay không là do lãnh đạo VN có bản lĩnh chính trị, lòng yêu nước, tính can đảm và ý chí dám hy sinh (quyền lợi bản thân và đảng phái) hay không.

Ta thấy định luật 6 chứng nghiệm cho các nước Nam Mỹ. Do gần với nước Mỹ, vì lý do "sinh tồn" của nước Mỹ, các nước này phải là là những nước nghèo (hay chỉ mới phát triển). (Ngoại trừ Canada, vì có cùng văn hóa và lý tưởng với Mỹ).

Trong khi những nước Nhật, Đại Hàn, Đài loan... là những nước kế cận TQ, mà TQ là địch thủ tiềm tàng của Mỹ, do đó bằng mọi cách Mỹ phải giúp các nước này để họ luôn giàu và mạnh hơn TQ (để không ngả về TQ). Điều này cũng đúng cho các nước Tây Âu trong thời chiến tranh lạnh, để các nước này có khả năng chống lại Liên Xô.

Vì thế, ở kế cận TQ không hẳn là điều xấu. Cũng như ở kế cận nước Mỹ chưa chắc là điều tốt. Nếu Nhật, Đại Hàn, Đài Loan... do nhờ ở kế cận TQ mà được Mỹ giúp phát triển đất nước giàu có, hùng mạnh, thì VN cũng có thể trở nên giàu và mạnh như vậy.

Thoát Trung do đó là vấn đề thuộc phạm vi lựa chọn: lựa chọn đồng minh, lựa chọn "ý thức hệ chính trị". Đó cũng là tầm nhìn "chiến lược" của lãnh đạo, chứ không phải là văn hóa hay kinh tế.


dimanche 28 février 2016

Việt Nam có thể kiện Trung Quốc về cái gì ?

Vấn đề quân sự hóa Biển Đông đã không còn là những lời răn đe suông. TQ từ khoảng hai năm nay đã đẩy mạnh những hoạt động ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Tại đảo Phú Lâm (thuộc Hoàng Sa), TQ đã đặt các giàn ra đa, các ụ phòng không cũng như đưa các loại phi cơ chiến đấu. Tại Trường Sa, TQ đã ráo riết mở rộng các đảo nhân tạo trên các bãi cạn (Chữ Thập, Gạc Ma, Vành Khăn, Châu Viên, Su Bi, Ga Ven...), gấp rút xây dựng trên các bãi Chữ Thập, Su Bi... những phi đạo (dài trên 3000 mét). Những gì TQ đã và đang làm ở đảo Phú Lâm (Hoàng Sa) chắc chắn sẽ được thực hành cho các đảo nhân tạo  ở Trường Sa.

Ta có thể khẳng định rằng TQ đã và đang "quân sự hóa Biển Đông", bất chấp những phản đối của các đại cường Hoa Kỳ, Nhật, Ấn Độ, Úc... hay các nước có liên hệ trong khu vực.

Nhìn động thái củng cố quốc phòng của các nước "lớn" có quan hệ đến khu vực, như Mỹ, Nhật, Ấn, Úc... để đối trọng với việc "quân sự hóa Biển Đông" của TQ, ta thấy khả năng giải quyết tranh chấp Biển Đông bằng một giải pháp hòa bình trở thành viễn ảnh xa xôi.

Lập trường của TQ, từ khoảng 100 năm nay, đã trở thành nguyên tắc đối ngoại, là không chấp nhận việc giải quyết tranh chấp bằng một trọng tài quốc tế. Tình hình kinh tế đình trệ hiện thời của TQ, cũng như những rối loạn nội bộ do những khủng hoảng xã hội bắt nguồn từ việc suy thoái, đã khiến lãnh đạo Bắc Kinh cứng rắn trong lập trường, không chỉ ở Biển Đông, mà còn đối với Đài loan. 
Những người này cố gắng biến cuộc khủng hoảng xã hội thành một phong trào dân tộc chủ nghĩa.
Tức là lãnh đạo Bắc Kinh, ngay từ thời điểm hiện tại, chủ trương giải quyết mọi tranh chấp bằng chiến tranh chớ không bằng các nguyên tắc hòa bình theo Hiến chương LHQ.

Đối với Đài Loan (và Hồng Kông), Bắc Kinh sẽ vịn vào "luật chống ly khai" và nguyên tắc "một nước Trung Hoa" để răn đe các khuynh hướng ly khai, như của tân tổng thống Đài Loan Thái Anh Văn hay các phong trào sinh viên ở Hồng Kông.

Đối với Biển Đông, TQ tuần tự "khẳng định chủ quyền" của họ ở HS và TS. Bước đầu TQ sẽ thực hiện những công trình ở những vùng mà không ai có thể phản đối họ được, vì lý do mập mờ về pháp lý. Đó là tường hợp quân sự hóa đảo Phú Lâm, mở rộng các đảo (như Quang Hòa) ở Hoàng Sa. Hoặc mở rộng các bãi cạn ở TS trở thành các đảo nhân tạo, sau đó xây dựng trên các đảo đó những phi trường, bến cảng, ụ phòng không, đài ra đa... cuối cùng "quân sự hóa" để chúng trở thành các căn cứ hải-không quân.

Các hành vi cho tàu bè hay phi cơ tiếp cận các đảo này của hải quân Hoa Kỳ sẽ không làm cản trở các hoạt động của TQ. Hành vi của TQ là khẳng định chủ quyền, còn của Hoa Kỳ là giữ quyền "tự do hàng hải". Nếu hai bên nhượng bộ và thỏa mãn yêu sách của nhau, hai bên sẽ không xảy ra xung đột.
Thời gian tới, sau khi các công trình xây dựng đảo và việc "quân sự hóa" hoàn tất, TQ sẽ mở các hoạt động ở các khu vực khác, có thể gây tranh chấp, như xây dựng và mở rộng các đảo như Tri Tôn, bãi cạn Hoàng Nham... cuối cùng "quân sự hóa" các địa điểm này.

Người ta hình dung trong tương lai ngắn, TQ sẽ mở vùng nhận dạng phòng không (ADIZ) trên Biển Đông, giới hạn phía nam ở khoảng vĩ tuyến 8°30' bắc.

Trong bối cảnh như vậy nhiều người VN lên tiếng thúc hối nhà nước CSVN "kiện TQ ra trước một Tòa án quốc tế".

Câu hỏi đặt ra là VN có thể kiện TQ về cái gì? ở Tòa án nào?

Muốn kiện một đối tượng, điều cần thiết là xác định được đối tượng đã "phạm luật" ở điều gì ?

Những động thái của TQ ở khu vực Hoàng Sa, như vụ đặt giàn khoan 981 trên thềm lục địa của VN vào tháng 5 năm 2014, hay việc quân sự hóa đảo Phú Lâm, cho bồi đắp, mở rộng đảo Quang Hòa... đều có thể là những "lý cớ" để nhà nước VN đơn phương đi kiện TQ trước một Tòa án quốc tế.

Thực tế cho thấy nhà nước CSVN đã không làm điều gì hữu hiệu để ngăn chặn các hành vi của TQ.

Nhà nước CSVN không làm các việc này vì họ có lý do của họ.

Ngay cả việc hải quân Hoa Kỳ thực hiện công tác bảo vệ quyền tự do hàng hải qui định theo luật quốc tế, VN còn không dám lên tiếng công khai ủng hộ, huống chi đến việc hưởng ứng.

Hành vi của hải quân VN tháp tùng cùng hải quân Hoa Kỳ tuần tiễu (như trong khu vực biển Hoàng Sa) là cơ hội để VN khẳng định chủ quyền của mình tại HS, cũng như khẳng định quyền lợi hợp pháp của VN trong vùng biển này.

Bởi vì từ lâu nhà nước VNDCCH đã nhìn nhận Hoàng Sa thuộc chủ quyền của TQ. Đồng thời nhà nước này cũng nhìn nhận khu vực biển (mà hải quân Hoa Kỳ tuần hành) là thuộc về Trung Quốc.

Sự "bất lực" của nhà nước CHXHCNVN hiện nay là "hệ quả" của sự "liên tục quốc gia": nhà nước CHXHCNVN là nhà nước "tiếp nối" nhà nước VNDCCH.

Tức là nhà nước CSVN hôm nay phải tôn trọng và thi hành những hứa hẹn về lãnh thổ, hải phận của nhà nước tiền nhiệm VNDCCH.

Nếu áp lực của người dân có hiệu quả, nhà nước CSVN vác đơn đi kiện TQ. Thì với thực tế pháp lý như vậy, kiện là để thua. CHXHCNVN không có tư cách pháp nhân để đứng ra kiện Trung Quốc.

Giả sử VN làm đơn kiện TQ ở Hoàng Sa. Vấn đề là Trung Quốc chiếm Hoàng Sa trên tay của VNCH chứ không phải trên tay CHXHCNVN.

Nhà nước CSVN hôm nay vẫn còn xem thực thể VNCH là "ngụy". Vụ TT Nguyễn Tấn Dũng bị hạ bệ vì lý do có con gái lấy chồng "con lính ngụy" cho thấy chính sách kỳ thị lý lịch của lãnh đạo CSVN.

Gọi VNCH là "ngụy", tức là "không thật", thì làm sao có thể kế thừa di sản ở một thực thể "không thật"?

Lý do khác, lúc TQ chiếm Hoàng Sa, nhà nước VNDCCH không lên tiếng phản đối, cũng không ký tên vào bản tuyên bố lên án TQ của VNCH.

Theo tập quán quốc tế, ở những tình huống bắt buộc quốc gia phải lên tiếng để bày tỏ lập trường, nếu quốc gia này im lặng thì sự im lặng này có nghĩa là sự đồng thuận. Thì bây giờ nhà nước 
CHXHCNVN lấy lý do gì để phản đối, chưa nói tới việc đi kiện?

Hay là đi kiện về việc chồng lấn vùng biển do có quan điểm khác nhau về Luật Biển?

Thí dụ TQ chủ trương các đảo HS (như đảo Tri Tôn) có hiệu lực của "đảo", còn VN chủ trương các đảo này là "đá", thì phán quyết của Tòa cách nào cũng đem lại thiệt hại cho VN.

Thứ nhứt là VN nhìn nhận HS thuộc chủ quyền của TQ.

Thứ hai, về hiệu lực các đảo HS, phán quyết của Tòa nhiều hay ít gì thì VN cũng mất biển.

Trong khi vùng biển HS (trên lý thuyết) là của VN.

Còn ở Trường Sa, VN có thể kiện về cái gì ?

Ở đây cũng vậy, với tình hình hiện tại, kiện là để được thua.

VN cũng không thể bắt chước Phi đi kiện TQ về việc mâu thuẩn về cách diễn giải luật biển.

Bởi vì, bề ngoài, hình thức kiện là đường chữ U, nhưng bề trong lại là chủ quyền các đảo.

Làm điều này VN cũng nhìn nhận các đảo TQ thuộc chủ quyền của TQ.  

Tức là, việc kêu gọi mọi người ký tên làm áp lực buộc nhà nước VN đi kiện TQ là "phiêu lưu", là bất định. Nếu không nói là để thua.

Trở ngại trong vấn đề kiện tụng là việc kế thừa di sản VNCH.

Nước CHXHCNVN hiện nay không có chính danh ở HS và TS. Họ vẫn xem VNCH là ngụy, vẫn chủ trương lãnh đạo phải là "người bắc kỳ, biết lý luận"...

Thay vì kêu gọi mọi người ký tên để yêu sách nhà nước kiện TQ, hợp lý là kêu gọi nhà nước CSVN thực thi chính sách hòa giải dân tộc, mục đích là kế thừa VNCH.

Xong việc này rồi thì mới có (một chút) hy vọng về kiện tụng.

Như trên đã nói, viễn tượng TQ sẽ giải quyết tranh chấp bằng vũ lực. Trong bất kỳ cuộc chiến tranh hiện đại, lý do gây chiến tranh là điều cực kỳ trọng yếu.

Kiện TQ đôi khi không phải để thắng, (vì TQ không chấp nhận giải quyết tranh chấp bằng một trọng tài), mà kiện để VN có được "quyền tự vệ chính đáng".

Trong chiến tranh hiện đại, bên nào dành được quyền "tự vệ chính đáng" thì bên đó sẽ thắng.


dimanche 21 février 2016

Nói về ông Dũng và hội nghị thượng đỉnh Sunnylands.


Hội nghị thượng đỉnh ASEAN-Hoa Kỳ tổ chức vừa qua (15,16-2-2016) tại Sunnylands, California, báo chí (lẫn học giả) trong nước ca ngợi hết lời VN thắng lớn, mặc dầu bản Tuyên bố chung không có một lời nhắc đến TQ. Còn ông Nguyễn Tấn Dũng thì đặc biệt được tán dương vì đã yêu cầu Mỹ "có tiếng nói mạnh mẽ và hành động thiết thực hơn ở Biển Đông". Vấn đề là VN thắng cái gì và yêu cầu của ông Dũng, Mỹ có thể nói (hay làm) được cái gì?

Về chuyến đi của ông Dũng, một người bị "trợt đài" quyền lực trong Đại hội 12, đáng lẽ không còn tư cách để được đảng CSVN ủy nhiệm đi tham dự Hội nghị Sunnylands. Có người nói rằng ông Dũng được đi là do vận động của cả hai phía, Việt Nam và Hoa Kỳ. Nếu đọc nội dung Tuyên bố chung được công bố (khoản 17), theo tôi, ông Dũng được đi là do áp lực của Hoa Kỳ chớ không do áp lực của phe thân ông Dũng trong đảng.

Bởi vì Hội nghị Sunnylands là hội nghị "cấp cao", ở cấp "lãnh đạo nhà nước hay chính phủ". Ban đầu Phạm Bình Minh được đảng ủy nhiệm cầm đầu phái đoàn đi tham dự. Nhưng ông này chỉ là "bộ trưởng bộ ngoại giao", không phải là người đứng đầu nhà nước (hay chính phủ). Ông Dũng ở thời điểm này tuy rớt đài quyền lực, nhưng danh nghĩa vẫn còn ở cương vị thủ tướng (cho đến hết tháng 5-2016). Dĩ nhiên phía Hoa Kỳ không thể chấp nhận ông Minh, do nghi thức ngoại giao, buộc VN phải cho ông Dũng đi tham dự.

Lời lẽ của ông Dũng phát biểu trong hội nghị, hay trong buổi gặp mặt Obama, cũng như nội dung bài viết của ông này được đưa lên báo chí, cho thấy việc thiếu chuẩn bị của ông Dũng.

Trong nước, hiện tượng "nhổ cỏ tận gốc" của phe Bắc kỳ do ông Trọng cầm đầu đang có khuynh hướng trỗi lên. Cứ địa Phú Quốc mà con trai ông Dũng là lãnh chúa, hiện đang bị "chiếu tướng". Các bài báo, phóng sự... có tầm ảnh hưởng xuyên quốc gia như việc phá hoại môi trường, hay việc cẩu thả ở cách thức nuôi thú làm hàng loạt cả ngàn con thú (hiếm) chết...

Rõ ràng phe Bắc kỳ của ông Trọng muốn lấy lại miếng bánh đang ở trong miệng của con trai ông Dũng.

Trong khi phe thân ông Dũng (nếu còn lại một nhóm nào đó gọi là thân ông Dũng) thì không thấy lên tiếng (hay có phản ứng đáp trả).

Vì vậy khi nói rằng ông Dũng được tham dự Hội nghị thượng đỉnh ASEAN-Hoa kỳ ở Sunnylands là do áp lực của phe thân Dũng trong nước là không có cơ sở.

Về nội dung Tuyên bố chung, nhà báo (và học giả) VN tán dương rằng VN "thắng lớn".

Vấn đề là Tuyên bố không đề cập một dòng về TQ.

Khoản 8 của Tuyên bố nói "mập mờ" về việc "cam kết duy trì hòa bình an ninh và ổn định trong khu vực... phi quân sự hóa và tự kềm chế trong các hoạt động".

Vấn đề là TQ đã quân sự hóa đảo Phú Lâm (Hoàng Sa), đã xây dựng các đảo nhân tạo ở Trường Sa, tương lai gần sẽ củng cố các đảo nhân tạo này như các căn cứ quân sự (hải và không quân). Các việc này đã làm thay đổi hiện trạng và đe dọa an ninh khu vực.

Báo chí nước ngoài cảnh báo rằng, một tình huống như chiếc MH 317 của hàng không Mã Lai có thể sẽ xảy ra trên vùng trời Hoàng Sa.

Về câu chữ, việc "tự kềm chế" không có ý nghĩa cụ thể, giải thích sao cũng được. Lại còn không nói đến đối tượng là ai (phải phi quân sự hóa và tự kềm chế?)

Vì vậy người ta hiểu rằng nội dung tuyên bố là cam kết giữa HK và các nước ASEAN hơn là có mục tiêu (hay ám chỉ) Trung Quốc.

Ngược lại, theo tôi, Tuyên bố Sunnylands phần nhiều là ám chỉ cho Việt Nam.

Thật vậy, mặc dầu trước khi Hội nghị khai mạc, báo chí Mỹ đã lên tiếng rằng Obama đón tiếp 8 tên độc tài. Phê bình này thái quá vì dầu sao các nước Mã Lai, Phi, Indonesia, Miến Điện... đã là các nước dân chủ. Mặc dầu không thể so sánh vởi Mỹ hay các nước Châu Âu, nhưng thực chất chế độ các nước này có nền tảng dân chủ. Nhưng phê bình lại đúng cho trường hợp VN.

VN hiện nay là con "chiên ghẻ" trong bầy chiên ASEAN.

Khoản 4 của Tuyên bố hiển nhiên dành cho VN.

"4. Chúng tôi cam kết đảm bảo cơ hội cho tất cả người dân chúng ta, thông qua tăng cường dân chủ, quản trị tốt và tuân thủ các quy định của pháp luật, thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền và quyền tự do cơ bản, khuyến khích tinh thần khoan dung, ôn hòa, và bảo vệ môi trường;"

Các nước ASEAN, ngoài Việt Nam (Brunei và Lào), đều ít nhiều tôn trọng khoản 4.

Về dân chủ, VN là nước độc tài tệ hại nhứt, vì là nền độc tài cộng sản công an trị. Người dân VN không có một cơ hội nào, vì pháp luật không bảo đảm  sự công bằng về quyền (tức mọi người bình đẳng trước pháp luật).

Đường vào đồn công an là đường ngắn nhứt để vào nhà thương hay nghĩa địa.

Còn về nhân quyền và các quyền tự do cơ bản ? VN luôn đứng đầu sổ trong các bản thống kê của thế giới về chà đạp, vi phạm nhân quyền. Còn tự do, mỗi người VN đều ở trong tù, khác biệt là tù nhỏ hay tù lớn.

Khoan dung ? cuộc chiến đã qua gần 1/2 thế kỷ, đến nay việc phân biệt bắc-nam, phân biệt hồ sơ lý lịch vẫn còn tồn tại trong các cách đối xử ở cấp lãnh đạo cao nhứt.

Cho đến các bản nhạc (vốn vô tội) viết trước 75 đến nay vẫn còn cấm hát. Một cậu nhỏ mặc quần áo "giống như" quần áo lính VNCH cũng bị kết án ở tù. Huống chi đến các việc khác liên quan đến chế độ cũ...

Còn về môi trường, trong khu vực chỉ có VN là nước mà môi trường bị tàn phá hơn hết. Cái gì bán được là CSVN bán hết, từ rừng gỗ cho đến hầm mỏ, bất kể việc khai thác có tác hại cho môi trường đến mức nào.

Vấn đề đặt ra là VN có tôn trọng và thực thi Tuyên bố này hay không ?

Đây là một tuyên bố về "ý định" hay một tuyên bố mang tính bó buộc pháp lý ?

Người ta sẽ xem xét thái độ của nhà nước CSVN đối với những người tự ứng cử quốc hội vào tháng 5 tới để kết luận.

Những nhà tranh đấu trong nước từ nay cảm thấy yên tâm khi dấn thân ra ứng cử.

Nếu đây là một "tuyên bố" có giá trị pháp lý ràng buộc thì dĩ nhiên nó có giá trị cao hơn là hiến pháp của VN.

Người đã đặt số 4 cho khoản này là có thâm ý ám chỉ điều 4 của HP VN.

Khoản 2 và 3 bản Tuyên bố dĩ nhiên cũng ám chỉ VN. Nhưng hai khoản này chỉ là "ghi nhận" mà không phải là "cam kết". Dầu vậy cũng nên nhắc tới, nếu có dịp.

Về yêu cầu của ông Dũng, Mỹ cần có "có tiếng nói mạnh mẽ và hành động thiết thực hơn ở Biển Đông", cũng không có giá trị thực sự.

Những gì Mỹ có thể nói (ở Biển Đông) Mỹ đã nói. Và Mỹ cũng đã làm những gì có thể làm.

Nguyên tắc cơ bản tạo thành nền tảng của luật lệ quốc tế (và nguyên tắc bang giao quốc tế) là "bình đẳng về chủ quyền giữa các nước".

Hoa Kỳ không thể cho tàu hải quân làm hơn các việc mà luật quốc tế cho phép.

Ông Dũng muốn Mỹ can thiệp để TQ ngưng làm thay đổi hiện trạng cũng như ngưng việc quân sự hóa Biển Đông.

Mỹ chỉ có thể làm các việc này khi (các nước) chứng minh được các hành vi của TQ là sai luật.

Mỹ lên tiếng cảnh cáo TQ phải tôn trọng phán quyết của Tòa Trọng tài trong vụ kiện Phi-TQ. Đây là việc làm "tối đa" mà Mỹ có thể làm để giúp đồng minh Phi của họ.

VN là gì để Mỹ phải giúp ? Và TQ làm gì sai luật (với VN) để Mỹ có thể can thiệp ?

Câu trả lời là không là gì cả (và không có gì cả).

Trước luật quốc tế, các hành vi của TQ là phù hợp, ngoại trừ khi VN thuyết phục được dư luận thế giới ủng hộ chủ quyền của mình ở HS và TS.

Nhà nước CSVN hiện nay chỉ có thể thuyết phục được dân chúng và các học giả (dễ dạy) của mình chớ không thuyết phục được ai.

Trong khi HS và TS hiển nhiên là của VN. Lịch sử chủ quyền của VN, từ thời các chúa Nguyễn cho tới thời bảo hộ Pháp, sang đến VNCH thì được chứng minh. Sự liên tục chủ quyền của VN chỉ bị gián đoạn sau khi CSVN nắm quyền cả nước.

Tức là VN hiện nay vẫn có thể thuyết phục được Mỹ (và dư luận quốc tế) ủng hộ VN nếu vấn đề kế thừa VNCH được thể hiện. Điều này đã nói nhiều lần, không nhắc lại.

Tức là Mỹ chỉ có thể can thiệp sâu xa hơn trong vấn đề HS và TS, như trường hợp Mỹ ủng hộ vụ Phi kiện TQ, nếu vấn đề kế thừa VNCH được CSVN nghiêm túc thực hiện.

Về nội dung bài viết của ông Dũng, rõ ràng đã nói lên việc thiếu chuẩn bị của ông này. Tức là ông Dũng đi tham dự Hội nghị Sunnylands là do áp lực của Mỹ chớ không phải áp lực của phe thân ông này trong nội bộ đảng.

Bài viết có điều gì đáng chú ý?

Theo tôi chỉ có hai điểm. Thứ nhứt là "hoàn thiện hệ thống pháp luật đến đào tạo nguồn nhân lực" để VN có thể "tự vệ" khi gia nhập TPP.

Điều này tôi đã khuyến cáo, sau khi đọc tin "rò rỉ" của wikileaks về nội dung hiệp định TPP. Ý kiến của tôi như sau:

"Về phạm vi pháp quyền (juridiction – quyền xét xử, quyền tài phán), trước đây xí nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ (do cán bộ lãnh đạo thiếu khả năng) thì "trời mưa có đất chịu", theo luật rừng XHCN, người dân nai lưng trả nợ. Bây giờ, xí nghiệp nhà nước làm ăn "cà chớn" (thí dụ vi phạm các điều khoản về sở hữu trí tuệ, về "hàng nhái", về vệ sinh an toàn thực phẩm…) việc phân xử sẽ do một "tòa án của TPP", tức là tòa án "tư nhân" đảm trách. Tức là "chủ quyền" của quốc gia bị mất vào tay tập đoàn tư nhân. Trong lâu dài, nếu VN vẫn không kịp đào tạo những chuyên gia luật học, chủ quyền quốc gia sẽ chuyển sang các tập đoàn luật gia quốc tế."

Điều thứ hai là "hoàn thiện nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân và thượng tôn luật pháp".
Điều này tôi cũng đã khuyến cáo từ lâu "nhà nước pháp trị" và việc "thượng tôn pháp luật".

Khi ông Dũng nói "hoàn thiện nhà nước pháp quyền", tức là "nhà nước" này có vấn đề. Và khi nói "thượng tôn pháp luật" là nói đến "nhà nước pháp trị".

Tức là, những điều quan trọng trong bài viết của ông Dũng đều lấy từ ý kiến của tôi.

Không phải nói điều này là chê trách ông Dũng, nhưng khen ngợi ông Dũng là người biết nghe lời phải.

Vấn đề là sự việc quá trễ để làm thay đổi hiện trạng.

Lúc còn tại chức, quyền lực trong tay, nịnh thần chung quanh tung hô lên tận mây. Ông Dũng đâu có ngó ngàng gì tới những ý kiến đúng đắn, có lợi cho đất nước.

Hồ sơ Biển Đông, nếu ông nghe tôi thì vấn đề (Biển Đông) VN đã không bị lâm vào thế tiến thoái lưỡng nan. (Mà số phận của ông cũng không đến đỗi). Ông chỉ nghe gian thần và kẻ nịnh.

Như là thói quen, các lãnh đạo VN chỉ "nói hay, nói đúng" khi không còn nắm quyền lực.

Mà tương lai ông Dũng thì bất định. Ra nước ngoài thì ông Hà Vũ, Điếu Cày, bà Phong Tần có thể kiện ông vì những hành vi bức hại (thể xác và tinh thần). Kiện nhà nước thì khó nhưng kiện ông Dũng thì dễ.

Trong nước thì con cái ông thì đang bị phe Bắc Kỳ tìm cách bứng gốc.

Âu đó cũng là do "tầm nhìn" mà thôi.

Ca ngợi ông Dũng quá, hay đánh giá cao thực lực của ông Dũng còn mạnh trong đảng là không đúng. 

Ở đời người ta phù thịnh chớ không ai phù suy. Ông Dũng qui tụ được quần hùng là nhờ miếng mồi "quyền lợi và quyền lực", thì bây giờ cũng vì "quyền lợi và quyền lực" mà những người này trở áo với ông.


Bài học cho các lãnh tụ tương lai: hãy nghe lời đúng chớ đừng bao giờ nghe lời nịnh bợ. 

vendredi 19 février 2016

Sai lầm của VN ở cuộc chiến 1979.

Binh thư ngày xưa của Tàu, lãnh đạo tài ba là thắng địch không cần chiến tranh. Quan niệm thế giới bây giờ cũng không khác: lãnh đạo giỏi là làm sao đạt kết quả mà chiến tranh không xảy ra.

Khi chiến tranh xảy ra, kể cả phía chiến thắng, phía sau vòng nguyệt quế là tang tóc và sự đổ vỡ.

Lãnh đạo CSVN, trong một thời gian (tương đối ngắn so với thời gian lập quốc của Việt Nam), đã liên tục mở ra bốn cuộc chiến tranh: đánh Pháp (1945-1954), đánh Mỹ (1954-1975), đánh Campuchia (1977-1988) và cuối cùng là đánh Trung Cộng (tháng 2-1979, trên lý thuyết là quân TQ rút về vào tháng 3 năm 1979 nhưng trên vùng biên giới chiến cuộc vẫn tiếp tục cho đến cuối thập niên 80).

Phía CSVN hãnh diện đã chiến thắng ở 4 cuộc chiến đó. Nhưng hệ quả của nó đất nước tan hoang, dân tình đồ thán. Hơn 4 triệu người chết.

Mỗi năm đảng CSVN làm lễ linh đình mừng chiến thắng đánh Pháp, đánh Mỹ, tán dương tài lãnh đạo của đảng.

Nhưng những người đã đổ máu cũng cho chiến thắng, là các cuộc chiến biên giới Việt-Trung, Campuchia thì bị lãng quên. Những người lính chết trận 1979 hay chết ở chiến trường Campuchia không hề được lãnh đạo CSVN nhắc đến. Mặc dầu xương máu của họ đã chồng chất dưới bệ ghế ngồi của những người từ tổng bí thư, thủ tướng, bộ trưởng... cho tới tỉnh ủy, huyện ủy, công an các cấp...

Lịch sử hiện đại của VN đã bỏ quên đến hai cuộc chiến này.

Một góc tư thế kỷ dứt tiếng súng, hệ quả chiến tranh đã làm cho đất nước bị tàn phá, con người VN bị tật nguyền, từ thể xác đến tinh thần.

Ngoài ra còn di sản của lịch sử: Những người lính chết trận bị lãng quên.

Nguyên nhân nào đã đưa đến cuộc chiến 1979 ?

Tổng hợp một số dữ kiện về cuộc chiến, không phải để trả lời, mà để đặt một câu hỏi cho lịch sử.

1/ Nguyên nhân cuộc chiến biên giới tháng hai năm 1979.

Cuộc chiến biên giới hai nước Việt-Trung bắt đầu từ 17 tháng 2 năm 1979. Cuộc chiến được giới hạn ở không gian và thời gian, do Đặng Tiểu Bình làm "kiến trúc sư". Đặng Tiểu Bình tuyên bố trước quốc tế, vài ngày trước khi đem quân vượt biên giới, nhằm "dạy cho VN một bài học". Họ Đặng tự đặt giới hạn không quá một tháng và chiến trường là các tỉnh của VN trên vùng biên giới. (Cuộc chiến vì vậy còn gọi là cuộc chiến biên giới 1979).

Nếu hiểu đơn thuần như vậy thì nguyên nhân cuộc chiến là Đặng Tiểu Bình.

Nhưng vấn đề không đơn giản như vậy. Tiên trách kỷ, hậu trách nhân.

Nếu xét lại cho kỹ, chính những sai lầm chồng chất của lãnh đạo VN trong thời kỳ mà thế giới quay lưng với VN và Đặng Tiểu Bình có lý do để đánh Việt Nam.

Để có một cái nhìn khách quan, thử đặt Obama (hay một lãnh đạo của nước Tây phương nào đó) vào vị trí Đặng Tiểu Bình. Đặt các vấn đề như sau :

VN ra chính sách tập trung người Hoa, từ nam ra bắc, tịch thu toàn bộ gia sản của những người này, sau đó bắt họ "hồi tịch" (trong đó nhiều người sinh ra và lớn lên ở VN từ nhiều đời, không biết nói tiếng Hoa), buộc họ rời khỏi VN với hai bàn tay trắng. Trên cương vị lãnh đạo, Obama sẽ làm gì ?

Theo các tài liệu của CIA vừa bạch hóa gần đây, VN đã có hành vi lấn đất của TQ (chứ không phải ngược lại), diện tích khoảng 60 km². Nếu dữ kiện này là thật, Obama sẽ phải làm gì để bảo toàn lãnh thổ của TQ ?

Lãnh đạo VN từ năm 1958 đã nhìn nhận hai quần đảo HS và TS là của TQ, trước là để đền ơn các viện trợ của TQ cho cuộc chiến chống Pháp, sau là trả nợ các viện trợ cho cuộc chiến chống Mỹ. Bây giờ VN dựa vào Liên Xô, một thế lực thù nghịch khác của TQ, để chống lại TQ rồi tuyên bố ngược lại HS và TS là của VN. Thái độ của Obama sẽ ra sao ?

Chắc chắn Obama (hay ai đó) sẽ làm không khác Đặng Tiểu Bình.

Vấn đề "nạn kiều" là lý do quan trọng để họ Đặng hạ quyết tâm "dạy VN một bài học".

Hãy thử làm tương tự với một người Mỹ, xem thái độ của lãnh đạo và dân nước này ra sao ? Thế giới văn minh không ai làm theo lối "man rợ" như lãnh đạo CSVN đã làm. Theo công pháp quốc tế, một quốc gia có quyền can thiệp vào nội bộ quốc gia khác để bảo vệ kiều dân của mình (nếu những người này bị bức hại).

Về vấn đề lãnh thổ, Bị Vong Lục của VN công bố năm 1979 tố cáo TQ chiếm đất của VN. Các chi tiết trong đó một số không thể kiểm chứng, một vài điểm thì đúng nhưng cũng có vài điểm sai. Nhiều tài liệu (như của CIA) cho thấy phía VN chiếm đất của TQ. Nguyên nhân phía VN không chấp nhận công ước Pháp-Thanh về biên giới 1885-1897. Nếu việc VN lấn đất có thật, thì chính VN đã tạo ra lý do để TQ đánh VN. Thử suy nghĩ, nếu nhà nước Mể không tôn trọng hiệp ước nhượng đất đã ký với HK trước đây, cho quân qua chiếm đất của California hay Dallas, Obama có "phản công tự vệ" không ?

TQ gọi việc đánh VN là cuộc chiến tự vệ (phản công tự vệ chiến).

Về công hàm 1958 của Phạm Văn Đồng, phía VN có phản bác thế nào thì cũng không thể phủ nhận hiệu quả của nó trước dư luận quốc tế (nhứt là hiệu quả ràng buộc trước luật quốc tế).

Đặng Tiểu Bình là nhân vật chính trong cuộc đánh chiếm HS năm 1974. TQ đánh với danh nghĩa "giải phóng lãnh thổ bị kẻ địch chiếm đóng". TQ có thể nhân danh tương tự để đánh TS bất kỳ lúc nào mà họ thấy nắm chắc phần thắng.

Trong khi đó, cuộc chiến Việt-Campuchia 1978 đáng lẽ cũng đã không xảy ra. Lãnh đạo CSVN đã ra tuyên bố "tôn trọng đường biên giới hiện trạng của Campuchia" với Sihanouk để ông này cho mở đường mòn Hồ Chí Minh trên đất Miên. Mà "đường biên giới hiện trạng" theo Sihanouk (có đệ trình lên LHQ) bao gồm các đảo trong vịnh Thái Lan và biên giới theo bộ bản đồ Indochine 1/100.000 trước 1958.

Theo tài liệu khác (của Nayan Chanda trong Brother Enemy), một lãnh đạo MTGPMN cũng hứa hẹn trả đảo Phú Quốc và Thổ Chu lại cho Campuchia để được Sihanouk cho đặt bản doanh MT trên đất Miên. Sihanouk bị Lonnol lật đổ, nhưng sau đó Campuchia về tay Khmer đỏ. Dầu vậy lời hứa của lãnh đạo CSVN vẫn còn. VN không giữ lời, do đó Khmer đỏ mới đánh phá và giết chóc, tạo ra cuộc chiến Việt-Miên 1978.

Nguyên nhân cuộc chiến Việt-Campuchia 1978 là do Khmer đỏ hay do lãnh đạo CSVN ?

VN can thiệp sâu vào nội bộ Campuchia cũng là một lý do để TQ đánh VN. VN can thiệp vào Campuchia, dưới mắt của quan sát viên thế giới, là hành vi "xâm lăng". Điều này đi ngược lại các nguyên tắc của thế giới là phải tôn trọng độc lập, chủ quyền của các quốc gia khác.

Là người VN, dĩ nhiên ai cũng phẫn nộ trước sự bạo tàn của quân lính TQ. Để chống lại sự xâm lăng của TQ, vài hàng chục ngàn thanh niên VN đã đổ máu, chưa tính tới vài chục ngàn nạn nhân vô tội khác, là người dân sinh sống ở các tỉnh trên biên giới.

Nhưng suy nghĩ sâu xa, cuộc chiến này có thể tránh được, nếu lãnh đạo CSVN đã không có những hành động và tính toán sai lầm. Chính lãnh đạo CSVN sai lầm đã tạo lý do chính đáng để họ Đặng đánh VN.

Điều tệ nhứt, những người lãnh đạo CSVN hiện nay đã thấy sai lầm này. Thay vì tìm ra những chính sách hòa giải để hàn gắn các vết thuơng quá khứ, thì họ chọn phương cách quay lưng lại với lịch sử. Họ đã lãng quên vong linh của hàng chục vạn người đã chết vì những sai lầm của họ.

2/ Việt Nam có bị bất ngờ trước cuộc chiến 1979?

Một số ý kiến cho rằng "Việt Nam hoàn toàn bị bất ngờ trước cuộc chiến", "VN không chuẩn bị trước", là hoàn toàn không đúng.

Trên thực tế chứng minh, ở mặt trận Lạng Sơn, phía VN đã đào sẵn hơn 60 cây số chiến hào phòng thủ cùng với khoảng 2.000 cứ điểm chiến đấu.

Nếu không "chuẩn bị trước" việc TQ xâm lăng thì làm sao có các cơ sở phòng thủ này ?

Vài tuần trước khi chiến sự xảy ra, phía VN đã tố cáo trước Hội đồng Bảo an LHQ phía Trung Quốc tập trung quân tại biên giới. Nếu không "biết trước" thì làm sao có việc tố cáo ?

Diễn biến cuộc chiến, tài liệu từ hai phía, cho thấy khi quân TQ vượt qua biên giới là tức khắc bị sa lầy, mặc dầu với quân số đông hơn gấp 8 lần, với hàng ngàn xe tăng yểm trợ. Các cứ điểm phòng thủ biên giới của VN cho thấy rất hữu hiệu.

Việc này chỉ có thể giải thích là phía VN đã được chuẩn bị chu đáo, gài quân sẵn để "tiếp đón" đoàn quân của TQ.

Trong cuộc chiến, vũ khí phía VN vượt trội, quân đội huấn luyện tinh thục, tinh thần chiến đấu của dân quân không kém gì quân đội chính qui.

Theo các tài liệu đã công bố, trước khi đánh VN, Đặng Tiểu Bình có thông báo trước cho HK. Thái độ của HK là không ủng hộ nhưng lại cung cấp tin tức tình báo cho TQ. Theo các không ảnh của tình báo HK, phía LX không tăng thêm quân đóng ở vùng biên giới, ngoài 50 sư đoàn (thiếu trang bị) đã đóng trước.

Đặng Tiểu Bình quả quyết đánh VN là do thái độ mập mờ, nếu không là ưng thuận ngầm của HK.

Về phía LX, có thể Kremlin không chuẩn bị cho cuộc chiến VN, hoặc đánh giá thấp lực lượng của quân TQ. Nhưng cũng có thể đây là âm mưu của LX và VN, gài TQ để cho đế quốc này một bài học. Khi chiến sự bắt đầu, thái độ của LX cho thấy nước này có thể làm nhiều việc ngoài dự liệu của TQ để cứu VN, nếu thấy VN thất thế.

Về thời điểm mở cuộc chiến, tháng hai, trên vùng biên giới là mùa khô.

VN cũng đã chuẩn bị cho tình huống tệ nhứt, là mất Hà Nội. Bộ đầu não của VN đã bí mật chuyển về Nha Trang trước đó khá lâu. Tại sao Nha Trang ? là ở kế Cam Ranh, quân cảng dành cho hải quân LX sử dụng. Nha Trang, lúc đó là nơi được phòng thủ chu đáo nhứt về cả ba mặt : trên không, trên bộ và mặt biển.

Như vậy, VN đã chuẩn bị chu đáo cho cuộc chiến biên giới 1979.

3/ Kết luận: Sai lầm của CSVN là đi với nước này chống lại nước kia.

VN không chỉ đi với LX chống TQ mà còn chống cả thế giới. VN bị cô lập cho đến đầu thập niên 90. Tình thế bắt buộc, VN phải sang qui phục TQ.

Sau khi thắng quân Thanh năm Kỷ dậu 1789, vua Quang Trung sai sứ sang Tàu cầu hòa. Thái độ của vua Quang Trung được người đời sau cho là khôn ngoan. Cầu hòa với kẻ địch với tư thế kẻ chiến thắng. Việc này đã đem lại cho VN hòa bình lâu dài với đế quốc láng giềng.

Sau 1975, với sự huênh hoang háo thắng, CSVN từ chối thiết lập bang giao với Mỹ. Hệ quả Mỹ cấm vận VN cho đến đầu thập niên 90. Lúc VN làm hòa với Hoa Kỳ thì VN ở thế yếu.

Sau 1979 VN không tìm cách hòa hoãn với TQ, chờ cho đến lúc thế giới XHCN sụp đổ khắp nơi mới bắt đầu làm hòa. Làm hòa với TQ ở thế yếu. Hội nghị Thành Đô, nói theo Nguyễn Cơ Thạch, đã đưa VN vào làm chư hầu cho TQ.  

Lãnh đạo VN đã không học các bài học lịch sử. Lúc cần có một đồng minh để hợp sức bảo vệ mình thì chủ trương "không đi với nước này để chống nước kia". Điều này có thể đúng ở thời kỳ 1979, mà CSVN không thực hiện, để xảy ra chiến tranh, gây thù hận cho đến bây giờ.

Khi cần thì lại áp dụng nó một cách máy móc.

Những động thái của TQ, như cho giàn khoan 981 đặt trên thềm lục địa của VN, cho xây dựng đảo nhân tạo các bãi đá (chiếm được của VN), mở phi trường, củng cố công sự chiến đấu ở các nơi đây, các việc quân sự hóa các đảo thuộc HS... cho thấy sắp tới TQ sẽ mở vùng "ADIZ - nhận diện phòng không" ở Biển Đông. Đến lúc đó VN không chỉ an ninh bị đe dọa, mà lãnh thổ bị mất mà hải phận cũng không được bảo toàn.


VN không đi với nước này chống nước kia, nhưng đâu ai có thể cấm VN liên minh với một cường quốc để bảo vệ an ninh và quyền lợi của mình ?