jeudi 13 novembre 2014

Nói về chiến tranh - « Chiến tranh bình thường » hay « chiến tranh không bình thường » ?


LTG : Viết nhân dịp có thảo luận với dịch giả Nguyễn Việt Long – người dịch cuốn « Điệp viên Z. 21 - kẻ thù tuyệt vời của nước Mỹ » (nguyên tác : « The Spy Who Loved Us » của Thomas A. Bass) về cách dịch thuật từ « conventional war ». Ông Long dịch thuật từ này thành « chiến tranh thông thường ».  
**********

Nói về chiến tranh, không có thí dụ nào điển hình hơn Việt Nam. Việt Nam là hai tiếng nói cụ thể khi nhắc đến « chiến tranh ». Bài viết này vì thế sẽ dựa (phần nhiều) vào các trường hợp Việt Nam để nói về « chiến tranh ».

Chiến tranh là cuộc giao tranh bằng vũ khí giữa hai quốc gia. Chiến tranh mở đầu bằng một « tuyên bố chiến tranh », thông thường dưới dạng một « tối hậu thư », và kết thúc (cũng thông thường) bằng một thỏa thuận ngừng bắn được ký kết giữa hai bên. Trường hợp có bên thắng bên bại, thỏa thuận kết thúc chiến tranh là văn bản « đầu hàng ». Trường hợp Nhật và Mỹ trong Thế chiến II, Nhật ra « Tuyên bố chiến tranh » với Mỹ cùng lúc với trận Trân Châu cảng, theo kiểu « miệng nói là tay tới ». Chiến tranh hai bên kết thúc bằng « Tuyên bố đầu hàng » của Nhật hoàng. Văn bản này được ký kết giữa đại diện Nhật hoàng và đại diện các bên thắng trận trên chiến hạm Missouri của Mỹ đậu trong Vịnh Tokyo ngày 2-9-1945.

Trường hợp hai bên bất phân thắng bại, (nhưng bên nào thấy cũng oải quá), thường ký kết văn bản gọi là « đình chiến ». Hai miền Nam, Bắc Hàn, thỏa ước gọi là « đình chiến » 1953, hai bên ngưng bắn, làn ranh vĩ tuyến 38° bắc là « giới tuyến quân sự tạm thời », phân chia vùng ảnh hưởng của hai bên. Cuộc « ngưng bắn tạm thời » này dầu vậy kéo dài cho đến hôm nay. Tức là, trên lý thuyết, hai bên vẫn còn trong « tình trạng chiến tranh ».

Cuộc chiến Việt Nam, hiệp định Genève 1954 cũng « lấy hứng » từ ký ước đình chiến Cao Ly 1953, với đường ranh quân sự tạm thời (vĩ tuyến 17).

Hiệp định Paris 1973 mục đích chấm dứt chiến tranh VN, Mỹ nhìn nhận các bên tham chiến ở VN, nhìn nhận VN là một quốc gia duy nhất, độc lập, có chủ quyền.

[Sau khi ký, sự có mặt của Mỹ ở VN trở nên « bất hợp pháp ». Vì theo nguyên tắc của Hiến chương LHQ : một quốc gia không được can thiệp vào nội bộ của một quốc gia độc lập có chủ quyền. Vì vậy Hiệp định Paris 1973 là một cái cớ, một « phương tiện » để « đồng minh tháo chạy » trong « danh dự ». Sau 1973, những gì xảy ra ở VN là chuyện « nội bộ » của VN. Trên phương diện công pháp quốc tế, không quốc gia nào có thẩm quyền để can thiệp, dĩ nhiên kể cả Mỹ. (Có người vì muốn ca tụng Lê Duẩn, cho rằng ông có trí tuệ siêu phàm, đoán trước việc Mỹ sẽ không trở lại khi miền Bắc dùng toàn lực đánh miền Nam, theo lối : « có cho kẹo Mỹ cũng không dám trở lại ». Chưa thấy ai dám bàn lại về lối nói phóng đại có tổ chức này).]

Chiến tranh (dĩ nhiên giữa hai quốc gia), ngoài dạng vũ lực, còn có thể xảy ra ở nhiều dạng khác, như « chiến tranh kinh tế », « chiến tranh tuyên truyền »… mục đích làm suy yếu đối thủ.

Trong Chiến tranh VN, Mỹ « cấm vận » VN từ 1975 (miền Bắc thì bị cấm vận từ thập niên 50), một cách nói khác của « chiến tranh kinh tế », liệt VN vào loại « quốc gia thù nghịch ». Việc cấm vận, về kinh tế, chỉ được tháo gỡ sau khi hai bên bình thường ngoại giao 1995. Về quân sự đến nay vẫn chưa tháo gỡ toàn diện.

Về « chiến tranh tuyên truyền », miền Bắc thắng lớn vì đã mở được các mặt trận tuyên truyền trên khắp thế giới, nhất là ở Sài Gòn. Dân chúng Hoa Kỳ và các nước Châu Âu chống chiến tranh VN, chống Mỹ hăng hái không kém gì dân VN « toàn dân chống Mỹ ». Người ta nói CSVN thắng trận trước hết tại Paris và Washington, sau đó tại chiến trường. Ở miền Nam, phong trào nhạc « phản chiến » phát triển mạnh. Những người « cầm viết », nhà báo than van viết không đủ sống, xuống đường « ký giả ăn mày ». Ni cô, thầy chùa, cha giòng… phản đối đàn áp tôn giáo, đồng loạt đem bàn thờ ra ngoài đường biểu tình đòi tự do tín ngưỡng. Sinh viên, học sinh cũng không kém phần mạnh bạo, biểu tình, bãi khóa triền miên (mà không biết để làm gì ?). Cùng lúc với bất an xã hội, các loại ma túy (và dĩ nhiên đĩ điếm) cũng tràn lan. « Nhất đĩ, nhì sư, tam cha, tứ tướng », là bốn « giai cấp » trong « thuợng tầng kiến trúc » của miền Nam. Thời chiến mà Miền Nam « chơi ngon », tự do hơn VN hiện nay. Không sụp đổ mới là điều ngạc nhiên.

(Cũng nên mở dấu ngoặc nói về « chiến tranh tuyên truyền » hiện nay giữa nhà cầm quyền CSVN trong nước và khối dân tị nạn. Theo tôi, những người chống cộng hải ngoại sẽ thua và tiếp tục thua te tua, nếu vẫn tiếp tục xem việc phất được lá cờ vàng như là một chiến thắng. Nhà cầm quyền VN thả ông Điếu Cày, đồng thời bấm nút mở cuộc chiến « phất cờ ». Bây giờ nói về ông Điếu cày là mọi người nhao nhao nói về « cờ vàng, cờ đỏ » chứ không còn ai nói về nhân quyền, dân chủ v.v… Ông Điếu Cày có nói về dân chủ, về nhân quyền thì ổng nói ổng nghe, cờ vàng, cờ đỏ đồng bào ta hai bên cùng phất. Phải nhìn nhận, về nghệ thuật tuyên truyền thì CSVN là bậc thầy thiên hạ).

Chiến tranh nào cũng có cái tên gọi của nó. Dưới những quan điểm về ý thức hệ, về học thuật… người ta có cái nhìn khác nhau về chiến tranh. Nhưng tuyệt nhiên không có học thuyết quốc tế, quan điểm chính trị hay triết học nào gọi tên « chiến tranh » là « chiến tranh thông thường » hay « chiến tranh không thông thường ».

Chiến tranh VN được gọi dưới nhiều tên khác nhau, tùy quan điểm chính trị, quan điểm ý thức hệ cũng như hoàn cảnh pháp lý của các bên lâm chiến.

Trên quan điểm dân tộc, phía miền Bắc gọi đó là cuộc « chiến tranh giải phóng », « đánh Mỹ cứu nước ». Trên quan điểm ý thức hệ, « đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, cho Trung Quốc », miền Bắc là con cờ tiên phong của thế giới vô sản. Sau 1975, VN trở thành tên xung kích sừng sỏ của Liên Xô. Theo quan điểm của Trung Quốc, VN trở thành « Cuba của phương Đông ».

Phía miền Nam thì gọi đó là cuộc chiến bảo vệ tự do. Ngay cái mục tiêu cho thấy sự thất bại đã kết tinh từ lúc đầu. Trên phương diện « dân tộc », VN là một quốc gia duy nhất (độc lập có chủ quyền), chủ trương « bảo vệ tự do » đi ngược lại tinh thần Hiệp định Genève 1954. Trên phương diện luật lệ quốc tế, không một quốc gia nào có thể giúp bất kỳ một « quốc gia » khác vì lý do « bảo vệ tự do ». Hơn nữa miền Nam chưa phải là một « quốc gia » (hay mới chỉ là một quốc gia chưa hoàn tất – Etat partiel). Lãnh đạo miền Nam bất tài, không có viễn kiến. Sau khi lật đổ ông Diệm, họ đã để cho quân Mỹ vào VN mà không thông qua một kết ước về an ninh có hiệu lực ràng buộc. Sự ngu xuẩn lên cao độ khi ký kết Hiệp định Paris 1973 mà không có một kết ước (về an ninh hỗ tương) với Mỹ để phòng thân. Sài Gòn sụp đổ 1975 là điều phải đến, chỉ sớm hay muộn.

Phía Mỹ, vì là trụ cột của LHQ, là thành phần chủ chốt của nhiều công ước quốc tế liên quan đến chiến tranh và hòa bình, việc tham gia của Mỹ vào chiến tranh VN do đó cần phải « phù hợp » với công pháp quốc tế. Người Mỹ cố gắng xây dựng miền Nam thành một quốc gia : Nam Việt Nam (South Vietnam), để việc can dự của quân Mỹ được phù hợp với luật lệ quốc tế (trên hai phương diện jus ad bellum và jus in bello). Nhưng hành vi này trước hết đã vi phạm luật quốc tế : Hiệp định Genève xác định VN là một quốc gia duy nhất, thống nhất ba miền. Cho dầu Mỹ không ký, việc này không cấm cản được hiệp định Genève 1954 là một kết ước quốc tế, có giá trị ràng buộc. Mỹ can thiệp vào VN dưới danh nghĩa « cộng đồng tự vệ chính đáng – défense légitime collective ». Sự có mặt của quân vũ trang miền Bắc được Mỹ gọi là « gây hấn bằng vũ lực ». Cuộc chiến này được Mỹ gọi là « Chiến tranh VN ».

Trên quan điểm quốc tế, một số học giả gọi chiến tranh VN là một cuộc « chiến tranh Ý thức hệ », mang tính « quốc tế ». Phía miền Bắc được khối cộng sản yễm trợ, phía miền Nam được khối tư bản, do Hoa Kỳ đại diện chống lưng. Chiến tranh VN là thí điểm nóng của « chiến tranh lạnh ».

Cuộc chiến VN còn được quốc tế gọi dưới tên khác là « chiến tranh ủy nhiệm ». Một lãnh đạo VN có nói : « đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, cho Trung Quốc ». Cũng như ông Thiệu đã từng nói đại khái : « viện trợ tới đâu giữ tới đó ». Rõ ràng là lời nói của những tên lính đánh thuê. Trong chiến tranh, miền Bắc được phe XHCN giúp từ « a đến z », thực phẩm, thuốc men, cây súng, viên đạn, xe tăng, đại pháo, hỏa tiễn… cho đến nhân sự (như chuyên gia kỹ thuật), phần lớn từ Liên Xô, Trung Quốc. Miền Nam thì súng đạn, tiền bạc của Hoa Kỳ. Cả hai phía VN chỉ cung cấp xương và máu cho cuộc chiến. 

« Chiến tranh ủy nhiệm » cũng được nhiều học giả quốc tế ám chỉ cho cuộc chiến Việt Nam – Kampuchia năm 1978. VN được sự « ủy nhiệm » của LX, còn Khmer đỏ được « ủy nhiệm » của TQ. Kết quả cuộc so găng của hai bên (LX và TQ), bên TQ thắng. Kết quả Hội nghị Thành Đô 1990, lãnh đạo VN phải đi chầu lãnh đạo TQ, chịu mọi điều kiện của họ đặt ra (về vấn đề Kampuchia cũng như về các vấn đề biên giới, lãnh thổ, chủ quyền hải đảo, khoanh vùng tranh chấp hải phận… giữa hai nước VN và TQ) là một chứng minh.

Cuộc chiến 1979 giữa VN và TQ, phía VN gọi là « cuộc chiến chống xâm lược », phía TQ gọi là « cuộc chiến phản công tự vệ ». Các học giả quốc tế gọi là « chiến tranh biên giới », vì địa bàn xảy ra ở biên giới và mục tiêu của chiến tranh cũng để giải quyết các vấn đề biên giới.

Thời phong kiến tại Châu Âu còn có chiến tranh gọi là « chiến tranh tư – la guerre privée », xảy ra do sự tranh chấp (quyền lợi và quyền lực) giữa các lãnh chúa, hay giữa thế lực thần quyền và các lãnh chúa.

Trên quan điểm triết học, « chiến tranh » được định nghĩa qua nhiều luồn tư tưởng khác nhau.

Machiavel cho rằng chiến tranh là một « phương tiện » để chinh phục và chiếm hữu quyền lực.

J.J. Rousseau trong « Le Contrat Social » cho rằng chiến tranh là « phương tiện » để đánh đổ một quốc gia (Etat – nhà nước), con người chỉ là « công cụ » : « chiến tranh không phải là quan hệ giữa người với người mà là quan hệ giữa quốc gia với quốc gia. Trong (quan hệ này) những kẻ tham gia trở thành kẻ thù một cách bất đắc dĩ. Họ tham gia không phải với tư cách là con người, cũng không phải với tư cách là nhân dân, mà với tư cách « người lính. Họ tham gia (chiến tranh) không phải vì họ là một thành phần của tổ quốc mà để bảo vệ tổ quốc. 

Một cách sống sượng hơn, Alembert (trong Essai sur les éléments de philosophie) cho rằng « nghệ thuật chiến tranh nhằm tiêu diệt con người cũng như nghệ thuật chính trị nhằm lường gạt con người ».

Clausewitz thì cho rằng chiến tranh chỉ là chính trị nối dài bằng một phương tiện khác. Theo ông này, chiến tranh không phải là một « khoa học », cũng không phải là « nghệ thuật », nó chỉ là một « lãnh vực của sự hiện hữu xã hội ». Chiến tranh (xương máu) là phương tiện nhằm giải quyết một tranh chấp (có quyền lợi lớn lao), có thể so sánh với thuơng mãi, cũng là một hình thức tranh chấp quyền lợi.

Còn quan điểm của Hegel, chiến tranh không chỉ nhằm chinh phục và chiếm hữu quyền lực mà còn là phương tiện để giữ sự đoàn kết xã hội. Trong khi quan điểm của Mác xít, qua các lý thuyết của Lenin và Mao Trạch Đông, đưa ra các khái niệm về « chiến tranh chính đáng » và « chiến tranh không chính đáng ». Theo tư tưởng này, tất cả các cuộc chiến tranh cách mạng là chiến tranh chính đáng, chiến tranh phản động là chiến tranh không chính đáng. Tư tưởng này cho rằng chiến tranh liên tục do sự bùng nổ về phát triển kinh tế và đấu tranh giai cấp. Chiến tranh chấm dứt, khi giai cấp không còn và dĩ nhiên quốc gia cũng bị xóa. Lúc đó « nền hòa bình vĩnh cữu » sẽ đến cùng nhân loại.

Trên phương diện công pháp quốc tế, người ta cố gắng áp đặt những « luật lệ về chiến tranh » cho các phe lâm chiến, như các Công ước ký tại La Haye 1899 và 1907. Do hệ quả tàn khốc của việc sử dụng các loại vũ khí hóa và sinh học trong cuộc Đại chiến thế giới lần thứ nhất, công ước Genève 1925 được ký kết, nội dung cấm (các quốc gia thành viên công ứơc) sử dụng các loại vũ khí hơi ngạt, vi trùng hay hóa chất. Công ước Genève 1929 (và 1949) được ký kết thêm nhằm bảo vệ thuơng bệnh binh, cách đối xử với tù bình v.v…. Chiến tranh xảy ra trong khuôn khổ các công ước còn gọi là « chiến tranh qui ước – conventional war - guerre conventionnelle ».

Chiến tranh qui ước được định nghĩa như là cuộc chiến giữa hai lực lượng thù nghịch với cam kết không xâm phạm đến sinh mạng của những người không lâm chiến.  

Cuộc chiến VN không phải là « chiến tranh qui ước », ít nhất cho phía miền Bắc. Phe này sử dụng mọi phương tiện, từ chiến tranh du kích, chiến tranh tuyên truyền cho đến chiến tranh khủng bố… tất cả những gì có thể làm suy yếu định thủ là thực hiện. Vì vậy mới có câu « những gì có lợi cho cách mạng là đạo đức ». Các cuộc pháo kích bừa bãi vào trường học, gài mình xe đò, các cuộc ám sát, ném lựu đạn vào chốn đông người, hay cuộc chiến Tết Mậu thân… đều vi phạm nội dung các công ước về chiến tranh.

Không thấy ở đâu sử dụng cụm từ có ý nghĩa tương đương « chiến tranh thông thường ».

Chiến tranh thế nào là « thông thường » và thế nào là « không thông thường » ? Chiến tranh nào lại không tàn phá, không gây đổ máu, không làm tổn hao tài lực của nhân dân và đất nước ?. Chiến tranh nào lại không đáng ghê tởm ?

Có đổ máu, có tàn phá, có hao tổn… là chuyện « thông thường » hay là chuyện « không thông thường » ?

Nội hàm của chiến tranh « thông thường » (hay không thông thường) không thể xác định được. Làm thế nào để lấy một cái không xác định được nội hàm để chỉ cho một cái đã xác định được nội hàm (conventional war) ?

Người ta không thể phiên dịch ra tiếng Việt « conventional war – guerre conventionnelle » là « chiến tranh thông thường ».

Người ta dịch « conventional war – guerre conventionnelle » là « chiến tranh qui ước ».

Có thể VN chưa bao giờ làm một cuộc chiến tranh theo « qui ước ». Thật vậy, các lãnh đạo VN trong thời chiến tranh, từ ông Giáp, ông Duẩn, ông Thọ v.v… đến cuối đời cũng không dám rời một bước khỏi VN (để sang du lịch các xứ Tây phương). Bởi vì, trước luật pháp quốc tế, họ là những người vi phạm luật quốc tế về chiến tranh (như các tội đối xử tệ hại với tù nhân chiến tranh, giết chóc người vô tội – còn gọi là tội phạm chiến tranh). 

Có thể tác giả đã dịch như vậy vì ảnh hưởng quan niệm của Lenin và Mao về chiến tranh : chiến tranh chính đáng và chiến tranh không chính đáng. Từ sự « chính đáng » cho đến cái gọi là « thông thường » là rất xa. Từ lãnh vực triết học (tư tưởng Lê Nin và Mao Trạch Đông) sang đến lãnh vực công pháp quốc tế lại còn xa xôi hơn diệu vợi. 

vendredi 7 novembre 2014

Từ « thần linh pháp quyền » đến « nhà nước pháp quyền ».

1.   Pháp quyền hay pháp trị ?

Hội nghị Trung ương đảng Cộng Sản TQ kỳ tám, lần thứ tư đã được tổ chức từ ngày 20 đến ngày 23 tháng 10 năm 2014. Theo tin dẫn từ Tân hoa xã (trang tiếng Hoa), Hội nghị đã bàn luận chung quanh các mục tiêu : « ỷ pháp trị quốc », « kiến thiết trung quốc đặc sắc xã hội chủ nghĩa pháp trị », « kiến thiết xã hội chủ nghĩa pháp trị quốc gia », « hoàn thiện hiến pháp »…

Không cần biết chữ Hán ta cũng có thể hiểu mục tiêu của Hội nghị là : « dựa vào pháp luật trị nước », « xây dựng xã hội chủ nghĩa pháp trị mang màu sắc Trung quốc », « xây dựng nhà nước pháp trị xã hội chủ nghĩa », « hoàn thiện hiến pháp »…

Tức là, chủ đề trung tâm của hội nghị này nói về những điều liên quan đến luật pháp Trung Quốc, về « nhà nước pháp trị xã hội chủ nghĩa » cũng như về « hiến pháp ».

Tân hoa xã ở các trang tiếng Anh và tiếng Pháp cũng có tường thuật diễn tiến và nội dung hội nghị này. Trang tiếng Anh viết :

« The general target is to form a system serving "the socialist rule of law with Chinese characteristics" and build a country under "the socialist rule of law"… China will ensure the leadership of CPC in "the socialist rule of law with Chinese characteristics"… improve team building and to sharpen the CPC's leadership in pushing forward rule of law… To realize the rule of law, the country should be ruled in line with the Constitution…

Tân hoa xã tiếng Pháp cũng tường thuật với nội dung tương tự, theo đó thuật ngữ “rule of law” được dịch là “état de droit”.

Tức là, đối chiếu ngược lại, các thuật ngữ “rule of law” trong tiếng Anh hay “etat de droit” trong tiếng Pháp, chuyển sang Hán văn là “pháp trị”.

Nếu ta tra từ điển Anh-Trung hay Pháp-Trung, các thuật ngữ này được dịch là “pháp trị”.
Tuy vậy, báo chí VN, trong nước cũng như hải ngoại, đã không viết “pháp trị” mà viết là “pháp quyền”.

Một vài thí dụ:

Tờ Quân đội Nhân dân viết :

« Hội nghị đã thông qua Nghị quyết trong đó đề ra các đường hướng chỉ đạo quan trọng liên quan đến thúc đẩy pháp quyền ở Trung Quốc. Trong đó xác định rõ mục tiêu tổng thể của việc thúc đẩy pháp quyền là thiết lập một hệ thống “các quy tắc xã hội chủ nghĩa đặc sắc Trung Quốc” và xây dựng đất nước theo quy tắc “pháp quyền xã hội chủ nghĩa »

Theo báo này thì mục tiêu của Hội nghị là « thúc đẩy pháp quyền », thiết lập « các qui tắc xã hội chủ nghĩa đặc sắc TQ », xây dựng đất nước theo « pháp quyền xã hội chủ nghĩa ».

Không thấy báo này trích dẫn tin tức trên từ nguồn nào.

Tờ Thanh Niên thì có bài viết về chủ đề này, có tựa « Trung quốc và đường đến pháp quyền ». Bài viết có dẫn nguồn phong phú : Tân hoa xã, Hoàn cầu Thời báo, The Traits Times (Singapour), The Diplomat...

Bài báo phân tích nhiều chi tiết trong nội dung của Hội nghị. Điểm đáng chú ý, bài báo viết :

« Giới quan sát trong và ngoài Trung Quốc ghi nhận đây là lần đầu tiên một hội nghị toàn thể của Ban Chấp hành trung ương lấy pháp quyền làm chủ đề trung tâm.... “, « Nghị quyết của Hội nghị Trung ương 4 với nhiều giải pháp nữa nhằm tiến tới một nền pháp quyền »... « để thực hành pháp quyền, đất nước phải được lãnh đạo dựa theo Hiến pháp »...

Báo chí ở hải ngoại, BBC Việt ngữ có bài tường thuật tựa đề : « TQ cam kết tạo 'xã hội pháp quyền ». Bài báo viết :

« Hội nghị Trung ương IV vừa kết thúc ở Bắc Kinh đã ra thông cáo tập trung vào vấn đề "pháp trị" »... « Truyền thông Trung Quốc hoan nghênh việc Đảng Cộng sản trong hội nghị trung ương vào tuần này đã cam kết tạo dựng một xã hội pháp quyền. »

Rốt cục không biết là nói về « pháp trị » hay về « pháp quyền » ?

Trang RFI có hai bài viết. Một bài có dẫn nguồn Tân hoa xã (chắc là trang tiếng Anh) :

« Tân Hoa Xã loan báo, kể từ nay các viên chức Trung Quốc phải tuyên thệ tuân theo Hiến pháp. Hãng tin này công bố một văn kiện mang tên « Quyết định về các vấn đề chủ yếu liên quan đến các bước tiến của Nhà nước pháp quyền », được Hội nghị trung ương IV thông qua tuần trước. »


Vấn đề là, Hội nghị của đảng CS Trung quốc hoàn toàn không có chữ nào nói về « pháp quyền ».

Đã đành tự điển VN (và các học giả VN) dịch các thuật ngữ « rule of law – etat de droit » là « pháp quyền ». VN dịch như vậy là đúng hay sai, câu trả lời sẽ đề cập phần dưới. Điều đáng nói là báo chí VN khi viết tin tức chỉ tham khảo nguồn « thứ cấp », tức nguồn đã được người ta « xào nấu » rồi (ở đây là nguồn tiếng Anh), chứ không tham khảo nguồn nguyên thủy (tiếng Hoa). Vì nếu có tham khảo nguồn tiếng Hoa thì sẽ viết là « pháp trị » chứ không phải « pháp quyền ».

Điều này sẽ không ai phàn nàn nếu tiếng Việt không có liên hệ gì đến tiếng Hoa (như tiếng Thái, tiếng Khmer…). Một số lượng rất lớn chữ Việt bắt nguồn từ chữ Hán (từ Hán Việt). Hai từ « pháp trị » và « pháp quyền » đều là từ Hán Việt. Tức có nguồn gốc từ Trung Hoa. Nguyên tắc về dịch thuật không đòi hỏi người ta phải phiên dịch đúng nguyên bản theo lối « mot à mot », một chữ đối với một chữ, mà người ta chỉ yêu cầu dịch đúng nội dung.

Hai từ « pháp quyền » và « pháp trị » có nội dung (ý nghĩa) trong tiếng Hoa rất khác nhau.

« Pháp quyền » có ý nghĩa là quyền được xét xử trong lãnh thổ của mình (quản hạt quyền - juridiction).

« Pháp trị » dùng để chuyển ngữ và nghĩa « Rule of Law » trong tiếng Anh hay « Etat de Droit » trong tiếng Pháp. Đây là các từ ngữ thuộc về « khái niệm ». Không thể hiểu « pháp trị » theo nghĩa đen của từ ngữ (pháp = pháp luật ; trị = cai trị) mà phải hiểu là « một cách thức tổ chức nhà nước theo đó quyền lực nhà nước bị giới hạn bởi luật pháp ».

« Rule of Law » phải hiểu là « sự ưu việt (hay sự ưu đẳng) của pháp luật » (prééminent de droit – primauté de droit). “Etat de Droit” phải hiểu là “nhà nước xây dựng trên sự tôn trọng pháp luật” (État fondé sur le respect de la loi).

2.   Từ « thần linh pháp quyền »…

Theo TS Nguyễn Sĩ Dũng trong bài « Hiến pháp 1946 với tư tưởng pháp quyền » :

“Năm 1919, trong Bản yêu sách được Nguyễn Ái Quốc gửi đến hội nghị Vecxây, yêu sách thứ 7 là pháp quyền. Sau này, yêu sách đó được Bác thể hiện thành lời ca: “Bảy xin Hiến pháp ban hành. Trăm điều phải có thần linh pháp quyền” (Yêu cầu ca, Báo Nhân dân, ngày 30/1/77).”


“Cho đến nay, qua các tư­ liệu lịch sử có đ­ược, có thể nói, đây là lần đầu tiên trong văn học sử Việt Nam xuất hiện khái niệm “pháp quyền” và “pháp quyền” ở đây lại được nâng lên thành “thần linh” - một khái niệm linh thiêng, làm nổi bật ý nghĩa tính chất “pháp quyền”, nổi bật ý nghĩa, vai trò của pháp luật, của Hiến pháp trong đời sống xã hội.”

Như vậy từ ngữ « pháp quyền », theo các học giả trên, là của ông Hồ.

Bài vè lục bát tựa đề « Việt Nam yêu cầu ca », thực ra là bản “phóng tác” của bản yêu sách 7 điểm viết bằng tiếng Pháp « Revendications du peuple Annamite – Yêu sách của nhân dân An Nam » (mà các sử gia VN cho là của ông Hồ), viết năm 1919 nhân dịp Hội nghị các đại cường thắng trận Đệ Nhất thế chiến tổ chức tại Versaille. Bài vè có câu :

« Bảy xin Hiến pháp ban hành
Trăm điều phải có thần linh pháp quyền »

TS Nguyễn Sĩ Dũng (bài đã dẫn) nâng « pháp quyền » lên hàng « tư tưởng »:  

tư tưởng pháp quyền đã xuất hiện trong các tác phẩm của Bác Hồ. Năm 1919, trong Bản yêu sách được Nguyễn Ái Quốc gửi đến hội nghị Vecxây, yêu sách thứ 7 là pháp quyền”.

TS Nguyễn Đình Lộc nâng “pháp quyền” lên thành « khái niệm ». 

Vậy thì cái « tư tưởng » (và khái niệm về) « pháp quyền » của ông Hồ là như thế nào ?

TS Nguyễn Sĩ Dũng (không biết đã tìm đâu trong tư tưởng của ông Hồ) viết ra rằng:

 “…pháp quyền là những nguyên tắc và phương thức tổ chức quyền lực sao cho lạm quyền không thể xảy ra và quyền tự do, dân chủ của nhân dân được bảo vệ”

Còn TS Nguyễn Đình Lộc chưa chứng minh « pháp quyền » là một « Khái niệm – concept ”, thì đã viết:

“Nguyễn Ái Quốc đã tìm đ­ược cách thức bình dân, gần gũi với mọi tầng lớp nhân dân, để thể hiện một cách thật đặc sắc cái cốt lõi, tinh túy của một NNPQ: đó là tinh thần thượng tôn pháp luật mà trước hết là thượng tôn Hiến pháp. Điều này chứng tỏ, ngay từ ngày đó, tinh thần pháp quyền đã trở thành điều tâm niệm, trăn trở của t­ư duy sáng tạo Hồ Chí Minh.”

Có thật vậy hay không ?

Nguyên văn yêu sách số 7, bản tiếng Pháp :

« 7/ Remplacement du régime des décrets par les régimes des lois. » (Nguồn : Les décolonisations au XXe siècle: La fin des empires européens et japonais, Par Pierre Brocheux, Annexe 1.)

Tạm dịch ra tiếng Việt là : thay thế chế độ pháp lệnh bằng chế độ luật lệ.

Bài vè phỏng lại, thành ra « Bảy xin hiến pháp ban hành, Trăm điều phải có thần linh pháp quyền ».

“Xin” ở đây là “xin ai”, ai xin ? Hiến pháp này là hiến pháp nào?

Bản “yêu sách” gởi Hội nghị Versaille, nơi các cường quốc thắng trận đang hội họp. Dĩ nhiên là “xin” lãnh đạo các đại cường thắng trận, trong đó có Pháp quốc. Người xin dĩ nhiên là ông Hồ (để quí vị TS Nguyễn Sĩ dũng và TS Nguyễn Đình Lộc hài lòng).

VN lúc đó vẫn còn là “thuộc địa” của Pháp, được Pháp cai trị dưới “chế độ pháp lệnh” (của Bộ Thuộc địa và quan Toàn quyền), chứ không theo luật lệ (Hiến pháp) của mẫu quốc. Hiến pháp ở đây phải là hiến pháp của mẫu quốc.

Điều này sẽ rõ rệt nếu ta xét lại yêu sách thứ 2:

« 2/ Réforme de la justice indochinoise par l’octroi aux Indigènes des mêmes garanties judiciaires qu’aux Européens, et la suppression complète et définitive des Tribunaux d’exception qui sont des instruments de terrorisation et d’oppression contre la partie la plus honnête du peuple Annamite. »(Nguồn : Les décolonisations au XXe siècle: La fin des empires européens et japonais, Par Pierre Brocheux, Annexe 1.)

Tạm dịch : cải cách lại pháp lý Đông dương bằng cách ban bố cho người bản địa được bảo đảm về tư pháp (tài phán) như là người Châu Âu đồng thời bãi bỏ vĩnh viễn tất cả những loại Tòa án đặc biệt mà thực chất chỉ là những công cụ khủng bố và đàn áp thành phần những người An Nam lương thiện nhất.

Chữ « l’octroi » trong tiếng Pháp có nghĩa là « ban bố, ban phát ».

« Xin » để được « ban phát » : quyền được bình đẳng về tài phán như người Châu Âu.

« Bảy xin hiến pháp ban hành » ở đây có nghĩa là xin hiến pháp của mẫu quốc ban hành những điều « luật » để bảo đảm « quyền » của người « bản địa ».

VN lúc đó chưa lấy lại « độc lập – souveraineté » thì không thể nói « hiến pháp » trong câu này là « hiến pháp » của nước VN được.

Còn ý nghĩa của « thần linh pháp quyền » trong câu « trăm điều phải có thần linh pháp quyền » ?

Trước hết nói về ý nghĩa chữ « quyền ». Từ yêu sách thứ 2 ta có thể khẳng định rằng chữ quyền ở đây là quyền của « quyền lợi – right, droit » chứ không phải của « quyền lực – power, pouvoir ».

Tóm lại, ý nghĩa của « bảy xin hiến pháp ban hành, trăm điều phải có thần linh pháp quyền » :

Ông Hồ xin xỏ (mẫu quốc) cải cách nền pháp lý Đông dương, (ban bố hiến pháp), ra các điều luật để bảo đảm « quyền » của dân bản địa (như là người Châu Âu).

 « Pháp quyền » ở đây phải được hiểu là quyền của (dân bản địa) được (hiến pháp) bảo đảm bình đẳng (với dân Châu Âu) trước pháp luật.

Không ai phê bình lời yêu cầu của ông Hồ trên đây là tốt hay xấu. Điều muốn nói là TS Nguyền Đình Lộc và TS Nguyễn Sĩ Dũng, trong hai bài tiêu biểu dẫn trên, đã diễn giải không phù hợp với thực tế « khái niệm » và « tư tưởng » ông Hồ về « pháp quyền ».

TS Nguyễn Đình Lộc viết trong bài dẫn trên :

“Nguyễn Ái Quốc đòi ban hành Hiếp pháp. Hiến pháp cũng là luật, nhưng là Luật cơ bản của một nước tạo cơ sở pháp lý cơ bản cho toàn bộ tổ chức và hoạt động của nhà nước, và cũng không chỉ cho nhà nước mà cho cả toàn xã hội, định hình chế định cơ bản quyền con người, quyền công dân của mỗi thành viên trong xã hội.”

Nguyên văn viết là « hiếp pháp » chứ không phải « hiến pháp », nhưng ai cũng hiểu đó là “hiến” chứ không phải “hiếp”.

Ông Hồ “đòi ban hành hiến pháp”, mà hiến pháp này là  hiến pháp của nhà nước thực dân chứ đâu phải là hiến pháp của nước Việt Nam ? Xem điều 2 bản yêu sách ta thấy rõ rệt yêu cầu “cải cách pháp lý Đông dương”, cai trị dân bản địa bằng “luật” chứ không bằng pháp lệnh.

Giả sử rằng Tây thực dân “ừ” một cái, thay đổi hiến pháp, cho phép toàn dân Đông dương được quyền “ngang hàng” với dân Tây mẫu quốc. VN (và Khmer, Lào) đã trở thành một “lãnh thổ hải ngoại” của Pháp và các dân tộc Đông dương (kể cả VN) đã có quốc tịch Pháp hết rồi !

Ông Hồ đã mất từ lâu. Nhân chứng thì mất nhưng chứng tích thì còn.

TS Nguyễn Đình Lộc khẳng định:

“Như vậy, ý tưởng lập hiến của Hồ Chí Minh được thể hiện thật rõ ràng, kiên định.”

Ông Hồ không hề có ý tưởng “lập hiến” nào cả. Ông chỉ có tinh thần “Pháp Việt đề huề”, kiên định dưới ánh sáng của bản Yêu sách. Tư tưởng này thật là đậm sâu phải không ?.

3. ... Đến nhà nước pháp quyền.

3.1 Thế nào là “nhà nước pháp quyền” ?

Chữ “quyền” ở đây là lấy từ “quyền lực – pouvoir, power” hay “quyền lợi – droit, right” ? Ngoài ra chữ “quyền” còn có ý nghĩa khác về pháp lý.

TS Nguyễn Sĩ Dũng trong bài “Nguồn cội của pháp quyền” viết:

“Vấn đề cốt lõi của pháp quyền là pháp luật về quyền. Pháp luật phân định và bảo vệ các quyền: quyền của các công dân và quyền của Nhà nước, quyền của các nhánh quyền lực Nhà nước như lập pháp, hành pháp và tư pháp.”

“Quyền” theo TS Nguyễn Sĩ Dũng là “quyền lợi – droit, right”.

Trong bài dẫn trên, TS Nguyễn sĩ Dũng viết:

“Trong tiếng Pháp khái niệm Nhà nước pháp quyền còn được thể hiện rõ hơn thành "Nhà nước của quyền".”

Khoan nói đến việc “Etat de Droit” có thể dịch thành “nhà nước pháp quyền” hay không. TS Nguyễn Sĩ Dũng đã dịch chữ “droit”, trong “etat de droit”, là “quyền”. Chữ “droit” trong “Etat de Droit” không thể dịch là “quyền”.

Ông Cao Huy Thuần trong bài “Nhà nước pháp quyền” , viết “Etat de Droit” là “nhà nước pháp luật”.

Ông Cao Huy Thuần dịch như thế là dịch “mot à mot”, chứ không dịch theo ý nghĩa của khái niệm “Etat de Droit”. Dịch lối này là chỉ nói về phần “xác” chứ không diễn tả được cái “hồn” trong khái niệm. Mà phần “hồn”, tức ý nghĩa của “Etat de Droit” là gì mới là điều cần biết.

Nhưng điều này cho thấy rằng cách dịch của TS Nguyễn Sĩ Dũng là sai.

Chữ “droit” ở đây là “pháp luật” chứ không phải là “quyền”. Một thí dụ, người ta dịch “Faculté de Droit” thành “Luật khoa đại học đường”, hay “phân khoa Luật” (chứ không phải là “Quyền khoa đại học đường” hay “phân khoa Quyền”).

TS Nguyễn Sĩ Dũng cũng viết:

“Trong tiếng Anh, không có khái niệm "Nhà nước pháp quyền". Thay vào đó, các nước theo truyền thống Anh - Mỹ chỉ nói đến pháp quyền mà thôi. Hai từ "Nhà nước" thậm chí không được nhắc tới trong thuật ngữ này. Chính vì vậy, khi dịch khái niệm "Nhà nước pháp quyền" của ta sang tiếng Anh, bạn buộc lòng phải biến nó thành một thứ dài lê thê như sau: "Nhà nước bị điều chỉnh bới pháp quyền". Vấn đề cốt lõi của pháp quyền là pháp luật về quyền.”

Như thế khái niệm của TS Nguyẽn Sĩ Dũng về “nhà nước pháp quyền” hoàn toàn khác với các khái niệm “Rule of Law” hay “Etat de Droit”. Theo nghĩa nguyên thủy, các khái niệm này nói về “luật”, về sự tương quan (về cai trị) giữa nhà nước và người dân trong quốc gia như thế nào, chứ không hề nói về “quyền”.

Ý kiến của ông Cao Huy Thuần trong bài đã dẫn, đã nói về chữ “quyền” trong “pháp quyền”:

“Trong ngôn ngữ của thế giới, sau Rechtsstaat, Etat de droit, Rule of Law, Việt Nam có "Nhà nước pháp quyền". Tên gọi thật hay. Vừa "pháp", nghĩa là luật pháp; vừa "quyền", nghĩa là... quyền. Chưa biết quyền của ai, nhưng chắc chắn không phải là quyền của Nhà nước, vì Nhà nước cần gì phải đòi quyền - đòi một cái đã có.”

“Quyền nghĩa là… quyền” ! Nhưng quyền có đến (ít nhất) ba ý nghĩa khác nhau:  Quyền lợi (droit, right), quyền lực (pouvoir, power) và “quyền” của pháp luật. Quyền ở đây là “quyền” nào?

Thật tình : nghe qua thì thật là hay, nhưng rồi không biết đường đâu mà mò !

Ông Nguyễn Hưng Quốc, trong bài đăng trên VOA, viết:

Sự khác biệt giữa một chế độ dân chủ và một chế độ độc tài không phải ở những cái có mà ở những cách thức thực thi những cái có ấy. Ví dụ, liên quan đến luật pháp. Một, ở các nước dân chủ, luật pháp là tối thượng. Không có ai ở trên và/hoặc ở ngoài luật pháp. Hai, ở các nước độc tài, ngược lại, luật pháp được sử dụng như một công cụ để hợp thức hóa các hành động độc quyền và trấn áp của họ: những người hoặc nguyên cả tầng lớp lãnh đạo đều ở trên và/hoặc nằm ngoài luật pháp. Trường hợp trên được gọi là pháp quyền (rule of law); trường hợp dưới gọi là pháp trị (rule by law).

Ở đây ông Nguyễn Hưng Quốc dịch “rule of law” là pháp quyền, “rule by law là pháp trị .

Cách dịch này cũng là cách dịch “mot à mot”, chữ đối chữ, chỉ nói lên phần “xác” mà không diễn tả được phần “hồn” của khái niệm luật học “Rule of Law”.

Điều thú vị trong ba trường hợp dẫn trên là không ông nào giảng giải được ý nghĩa của chữ “Quyền” trong pháp quyền là gì ? Đồng thời ba ông không ông nào đồng ý với ông nào về cách dịch “Rule of Law”.

Điều này dễ hiểu. Các học giả VN trong nước đã lấy từ “pháp quyền” của ông Hồ chí minh sử dụng trong bản “yêu sách 7 điểm”, mục đích xin xỏ (mẫu quốc) cải cách nền pháp lý Đông dương, (ban bố hiến pháp), ra các điều luật để bảo đảm « quyền » của dân bản địa (như là người Châu Âu).

TS Nguyễn Sĩ Dũng diễn giải đúng nội dung chữ “quyền” theo tinh thần “xin xỏ” của ông Hồ trong bản yêu sách 1919. Nhưng không thể đúng với tinh thần của “Rule of Law” hay “Etat de Droit” ở các mô hình xây dựng nhà nước ở các xứ Ây, Mỹ được.

Ông Cao Huy Thuần chỉ nói “quyền là… quyền”.

Ông Nguyễn Hưng Quốc không nói “quyền” là gì mà chỉ dịch theo lối ”coup par coup”, “rule by law” thành pháp trị.

Vấn đề là nhà nước nào lại không cai trị (dân chúng) bằng pháp luật ?

Ngay từ cuốn “kinh thánh” về Luật của Anh (Rule of Law) cũng viết :

“Englishmen are ruled by the law, and by the law alone; a man may with us be punished for a breach of law, but he can be punished for nothing else. (Dicey,Introduction to the Study of the Law of the Constitution, 202)”

Tạm dịch: mọi người bị cai trị bằng pháp luật, và chỉ bằng pháp luật mà thôi. Một người có thể bị (chúng ta) trừng phạt vì hành vi vi phạm luật pháp, nhưng không thể trừng phạt hắn vì lý do bất kỳ khác.

Tức là, tự thân “Rule of Law” cũng đã hàm ý nghĩa “cai trị” bằng pháp luật rồi. Vấn đề là quan hệ giữa người cầm quyền (đại diện chức năng nhà nước) với “pháp luật” là như thế nào ?

Vì vậy muốn dịch các khái niệm “Rule of Law” hay “Etat de Droit” thế nào cho chính xác, hợp lý thì ta tìm xem những nhà làm luật các xứ đó đã hiểu các khái niệm này như thế nào ?

Thí dụ lấy từ văn bản của Nghị viện Châu âu. Ở đây sử dụng hai ngôn ngữ chính : Anh và Pháp. Nền tảng pháp luật ở đây cũng chia sẻ hai khái niệm “Rule of Law” và “Etat de Droit”.

« Rule of Law » trong tiếng Anh được đối chiếu sang tiếng Pháp là « prééminence du droit ». Nghĩa tiếng Việt là « sự ưu việt của luật pháp ». (Tuy vậy, tiếng Pháp khu vực Canada thì dịch là « primauté du droit », tức là « sự ưu đẳng của luật pháp »). Ý nghĩa của hai cách dịch như vậy là tương đương với nhau.

Nghị viện cũng nhìn nhận rằng hai khái niệm « Rule of Law » và « Etat de droit » được sử dụng trên các văn bản của các nước (trong cộng đồng) có sự tương đương với nhau.

Thuật ngữ « Etat de droit » trong tiếng Pháp, được xem là dịch từ Rechtsstaat của tiếng Đức, thì được hiểu « État fondé sur (le respect de) la loi ». Nghĩa tiếng Việt « quốc gia thiết lập trên nền tảng tôn trọng luật lệ ».

Trong bài viết trước đây tôi đã trình bày về các cách dịch các thuật ngữ trên của các bên miền Nam, miền Bắc và TQ. Bài viết ở đây.

Tại miền Nam trước 1975, thuật ngữ « pháp quyền » được dịch từ « juridiction ». Các tự điển Pháp-Hoa trong cùng thời kỳ cũng đều dịch tương tự. 

Còn « Etat de Droit » được dịch là « nhà nước pháp trị ». Trung Quốc hiện nay cũng dịch như vậy. 

Tuy nhiên, nếu xét về ý nghĩa, dĩ nhiên « Etat de droit », « Quốc gia thiết lập trên nền tảng tôn trọng luật lệ », gọi là « pháp trị » thì thiếu hẵn ý nghĩa. Nhưng chắc chắn không thể dịch là « pháp quyền ». Không hề có bóng dáng chữ « quyền » (quyền lực, quyền lợi) nào trong khái niệm này để mà dịch như vậy.

Để dễ hiểu, theo tôi, ta có thể dịch là « nhà nước trọng pháp ».

Về khái niệm « Rule of Law », tức « préeminent de droit - sự ưu việt của pháp luật ». Quốc gia xây dựng lên nền tảng này thì cũng là « quốc gia thiết lập trên nền tảng tôn trọng luật lệ ». Dịch thành « pháp quyền » như ông Nguyễn Hưng Quốc rõ là không ổn. Vì ở đây nói về luật pháp và sự cai trị mà không hề nói đền « quyền lực » hay « quyền lợi ».

Theo tôi, để dễ hiểu, cũng có thể dịch là « trọng pháp ». Nhà nước xây dựng trên nguyên tắc đó là nhà nước trọng pháp.

3.2          Vì nhu cầu hội nhập với thế giới (vào WTO), VN cần phải cải tổ hệ thống luật XHCN (luật rừng) sao cho phù hợp với luật lệ phổ cập của thế giới. Từ ngữ « pháp quyền » của ông Hồ sử dụng từ năm 1923 được Đại hội đảng VII sử dụng lại.

Vấn đề là Hội nghị này yêu cầu Quốc hội « nghiên cứu » để xây dựng « nhà nước pháp quyền ».

Từ đó, các « học giả » VN cố gắng đưa những khái niệm phổ cập của thế giới về nhà nước trọng pháp (nhà nước pháp trị) - Rule of Law của Anh, Mỹ, hay Etat de Droit của các nước Châu Âu – vào từ ngữ « pháp quyền ».

Đào sâu vào ý nghĩa thuật ngữ luật học, Etat de Droit hay Rule of Law, đều gắn liền với « souveraineté – chủ quyền, quyền lực chủ tế ». Vấn đề là « quyền chủ tể » này thuộc về ai ? (Theo Anh, Mỹ, quyền chủ tế thuộc về Quốc hội ; theo Pháp thì thuộc về toàn dân).

« Pháp quyền » là một đặc ngữ, sinh ra từ một yêu sách (của người bản địa) lên quyền lực chủ tể (mẫu quốc Pháp), xin được bình đẳng với dân Châu Âu về pháp lý.

Nhiều bài viết (như các bài đã dẫn) của các học giả VN, cố gắng xây dựng khái niệm về  “nhà nước pháp quyền”, tất cả đều không thuyết phục.

Đó là việc làm đưa hồn Trương Ba vào xác anh hàng thịt.

Sai lầm từ cái cơ bản thì không có gì tồn tại. Có hai thái độ: 1/ cãi lý đến chết, cùng lắm thì xem đó là “biệt lệ văn hóa VN”. 2/ Phải xây dựng lại từ cái cơ bản nhất.

Xem ra “biệt lệ văn hóa”, văn hóa pháp quyền cũng như văn hóa thịt chó, ai nói thì nói, xơi thì ta cứ xơi.


mardi 28 octobre 2014

Nói về nhân quyền và vũ khí sát thuơng.


Hoa Kỳ vừa gỡ đi một phần luật « cấm bán vũ khí sát thuơng » cho VN. Luật này do quốc hội Mỹ đặt ra từ 75.

(Sau 1975, hai bên có những vận động để thiết lập ngoại giao nhưng đều thất bại. Mỹ ngõ ý muốn bình thường hóa với VN nhưng VN đặt điều kiện bồi thường chiến tranh thì mới bang giao. Đến năm 1977, khi VN đồng ý bang giao « vô điều kiện » thì đã quá trễ : Hoa Kỳ đã đi tắt với Bắc Kinh để lập liên minh chống Liên Xô. Từ đó VN ngã vào vòng ảnh hưởng của Liên Xô, cùng với Liên Xô thực hiện mưu đồ thôn tính vùng Nam Á : từ Afghanistan qua Iran, Ấn Độ, nhằm khống chế eo biển Malacca. Cuối thập niên 70, khi Liên Xô mở mặt trận Afghanistan thì Việt Nam mở cuộc chiến Kampuchia. Các nước trong vùng, kể cả Mỹ và Trung Quốc, lo ngại thuyết Domino được chứng nghiệm : chính quyền các nước Thái Lan, Mã Lai, Miến Điện, Nam Dương… cho đến Ấn Độ, Iran… lần lượt sụp đổ, hay liên kết với Liên Xô. Trước dư luận quốc tế, cuộc chiến Kampuchia là cuộc chiến ủy nhiệm của hai thế lực XHCN đối nghịch : Liên Xô và Trung quốc (được sự chống lưng của Mỹ). VN bị xem là một tên « xung kích sừng sỏ » được sự ủy nhiệm của cộng sản quốc tế do Liên Xô cầm đầu. VN bị Hoa Kỳ cấm vận và bị thế giới cô lập từ đó, cho đến đầu thập niên 90, khi mà khối cộng sản Đông Âu bị phân rã và Liên Xô đang trên đường sụp đổ.)

Việc tháo gỡ lệnh cấm bán vũ khí sát thuơng hôm nay cho VN có phần tương tự với trường hợp Đài Loan năm 1979. Cả hai bên đều cần vũ khí sát thuơng của Mỹ để tự vệ trước sự gây hấn của Trung Quốc.

Trường hợp Đài Loan, sau khi bị đồng minh Hoa Kỳ bỏ rơi tại Liên Hiệp Quốc năm 1971, trong chừng mực Đài Loan bị cô lập toàn diện. Trong buổi họp Đại hội đồng LHQ 25-10-1971, do việc HK bỏ phiếu trắng, Đài Loan đã bị trục xuất và chính quyền Bắc Kinh, được nhận vào ghế Hội đồng Bảo An LHQ. Điều này gây phẫn nộ và đau đớn cho chính quyền Tưởng Giới Thạch (cho là bị đồng minh đâm sau lưng). Tiếp theo sự sụp đổ của chính quyền Sài Gòn 1975, số phận chính quyền Quốc dân đảng ở Đài Loan mong manh như trứng để đầu cối đá. Mặc dầu HK còn bị ràng buộc bởi Hiệp định An ninh hỗ tương, ký từ 1954, nhưng trên danh nghĩa pháp lý, lục địa có thể đem quân « giải phóng » đảo quốc này bất kỳ lúc nào. Dân chúng đảo quốc, cũng như kiều dân Hoa sống ở HK, lo ngại. Họ thành lập nhưng tổ chức quyền lực tại HK nhằm vận động chính trị.

Điều tệ hại đến vài năm sau đó. Ngày 1-1-1979 hai bên HK và TQ tuyên bố bình thường hóa bang giao. Hiệp ước An ninh giữa HK và Đài loan trở thành « caduc – không còn hiệu lực ». Hoa Kỳ mặc nhiên nhìn nhận « vấn đề Đài Loan » thuộc về « nội bộ » của Trung Quốc. Điều này cũng tương tự tình trạng VNCH sau khi Hiệp định Paris 1973 được ký kết. Hoa kỳ « Việt Nam hóa chiến tranh », nhìn nhận VN là một quốc gia thống nhất, độc lập có chủ quyền. Cuộc chiến VN chỉ là một cuộc nội chiến. Chiến tranh của VN trở thành « chuyện riêng » của VN, cũng như vấn đề Đài Loan là chuyện riêng của TQ. Hoa Kỳ (và các nước trên thế giới) không còn lý do để can thiệp vào. Đây là một nguyên tắc cơ bản của Hiến chương LHQ : một quốc gia không được quyền can thiệp vào nội bộ một quốc gia khác.

Trước đe dọa bị « thống nhất » bằng vũ lực, Đài Loan mong muốn được mua « vũ khí sát thuơng » của Hoa Kỳ để « tự vệ ». Dân chúng ở đảo quốc, cũng như kiều dân Hoa ở HK đã sẵn sàng. Họ làm « lobby », tức vận động chính trị hết mức lên các chính trị gia ở quốc hội Mỹ.

Trường hợp Việt Nam, sau khi Trung Quốc đặt giàn khoan 981 trên thềm lục địa của VN vào tháng 5-2014, VN lâm vào thế « tiến thoái lưỡng nan » : đánh thì không xong, mà hòa cũng không ổn. VN không có đủ sức mạnh quốc phòng chống lại TQ để bảo vệ quyền lợi của mình. Trong khi việc « hòa » là đồng nghĩa với việc từ bỏ chủ quyền của VN tại các đảo Hoàng Sa đồng thời quyền chủ quyền trên thềm lục địa và hải phận của mình.

(Phía TQ chỉ rút giàn khoan, với lý do « tránh bão », nhưng thực ra là để hạn chế hệ quả một sai lầm chiến lược. Đáng tiếc là VN đã không khai thác được điều này. Bởi vì, trên quan điểm thuần túy chiến lược, phía Trung Quốc, khi đặt giàn khoan 981, đã tính toán sai. Trong quan hệ ngoại giao, sự do dự của VN về việc lựa chọn đồng minh chiến lược - Trung Quốc hay Mỹ - sẽ sớm được quyết định. Trung Quốc sẽ mất một đồng minh (đúng ra là đàn em) tin cậy đồng thời tạo ra một quốc gia thù địch quan trọng ở trước cửa ngõ. Trong khi việc tranh chấp lãnh thổ với Trung Quốc, về chủ quyền quần đảo Hoàng Sa, đã đông lạnh từ tháng giêng năm 1974 cho đến nay, thì được hâm nóng lại. Hoàng Sa và vùng biển chung quanh, từ lâu đã được TQ xem là chủ quyền thuộc về TQ bất khả tranh nghị. Qua dịp này, chủ quyền Hoàng Sa và vùng biển chung quanh có thể được quốc tế nhìn nhận là vùng lãnh thổ có tranh chấp. Điều này dĩ nhiên có lợi cho VN.) 

Điều trở ngại cho cả hai bên, Đài Loan (năm 1979) và Việt Nam hôm nay : Đài Loan (năm 1979) cũng như Hà Nội là những chế độ độc tài. Trường hợp VN hôm nay còn tệ hại hơn, nơi đây một trong vài chế độ độc tài cộng sản trên thế giới còn sót lại. Nhân quyền thường xuyên bị chà đạp. Ý kiến của nhiều chính trị gia HK, khi mà VN chưa cải thiện về nhân quyền, chưa dân chủ hóa chế độ, thì các quan hệ với Hoa Kỳ sẽ còn gặp nhiều khó khăn.

Trường hợp Đài Loan, chính quyền Quốc dân đảng nhượng bộ đòi hỏi của thành phần « đảng ngoại » (tức người ngoài đảng), đồng ý một lịch trình dân chủ hóa chế độ. Hoa Kỳ đáp ứng bằng cách cho thông qua luật « Taiwan Relations Act » ngày 10-4-1979. Dầu vậy luật này cũng là « tác phẩm » của kiều dân Đài Loan sống tại Hoa Kỳ, qua các cuộc vận động chính trị ráo riết từ nhiều năm trước. « Lobby » của kiều dân Hoa tại Mỹ rất mạnh. Nhờ vận động hành lang chính trị, thuợng viện HK mới sớm thông qua dự luật « Taiwan Relations Act », theo đó HK chủ trương việc giải quyết « vấn đề Đài Loan » bằng phương tiện hòa bình (HK tôn trọng ý nguyện, tức sự lựa chọn chính trị  của dân Đài Loan), đồng thời cho phép chính quyền Dân Quốc được mua các loại vũ khí của HK để tự vệ.

Quá trình dân chủ hóa Đài Loan bắt đầu từ thập niên 80, được sự giúp đỡ quan trọng (làm chất xúc tác) của các học giả thuộc trường đại học Harvard (như Samuel P. Huntington). Những người này đã tổ chức (trong khuôn viên đại học Harvard) những cuộc « hội thảo », tiếp xúc giữa những người ngoài đảng (đảng ngoại, tức không phải là đảng viên Quốc Dân đảng) với các nhân vật lãnh đạo Dân Quốc. Quá trình dân chủ hóa kết thúc vào những năm đầu thiên niên kỷ thứ 3.

Nhờ các vũ khí tối tân mua từ Hoa Kỳ, Đài Loan hiện nay mặc dầu bị cô lập (hầu như) toàn diện, họ vẫn không sợ viễn ảnh bị lục địa « thống nhất » bằng vũ lực.

Trường hợp Việt Nam, chính quyền Obama vừa tháo gỡ một phần lệnh cấm bán vũ khí sát thuơng, đổi lại, VN phóng thích một vài tù nhân lương tâm. VN vẫn hoàn toàn im lặng về « hồ sơ nhân quyền » trước dư luận quốc tế, trong khi việc « dân chủ hóa » chế độ chỉ là điều trong mơ.

Hoa Kỳ bán vũ khí sát thuơng (hạn chế) cho VN do vậy đến từ một cấp bách về chiến lược (bao vây TQ) chứ không do một động lực nào khác.

Người ta không thể trách được Hoa Kỳ. Lực lượng người Việt sinh sống tại Hoa Kỳ rất là đông đảo, không kém kiều dân Hoa ngày trước. Nếu kiều dân Hoa ngày xưa một lòng ủng hộ Đài Loan, thì hôm nay kiều dân Việt phần lớn chống lại chế độ độc tài toàn trị của Hà Nội. Những người Việt này có lý do chính đáng, vì phần lớn họ là nạn nhân trực tiếp của chính sách trả thù ác độc, cũng như sự cai trị hà khắc của nhà cầm quyền Hà Nội.

(Nếu không có một chính sách hòa giải dân tộc đứng đắn, những hận thù này sẽ còn tồn tại mãi, sẽ luôn chống lại phía cộng sản cầm quyền. Phía thiệt hại dĩ nhiên là đất nước và dân tộc VN. Đó là ta chưa nói đến những tác hại của các thành phần dân tộc thiểu số Khmer Krom và các dân tộc ở Tây nguyên, Tây bắc. Chính quyền suy yếu, hay đất nước kém phát triển, khuynh hướng ly khai sẽ phát triển. Việc giữ toàn vẹn lãnh thổ trở thành khó khăn. Mà giải quyết các mâu thuẩn này hiệu quả không phải do đàn áp, mà cũng phải là một chính sách hòa giải dân tộc đúng đắn).

Trong khi các « lực lượng dân chủ » của VN thì tản mác, không có những trí thức lớn như trường hợp Đài Loan (năm 1979). Từ khi những trí thức lớn và có uy tín như ông Trần Xuân Bách bị khai trừ năm 1990, thì đảng VN ngày càng rập khuôn theo kiểu mẫu của Trung Quốc. (Ông Trần Xuân Bách là nạn nhân của cánh cực đoan duy ý chí trong đảng, là những người có gốc miền Trung. Phe miền Trung do thua kém miền Nam và miền Bắc về kinh tế, do đó thiên về hướng bảo thủ nhằm giữ lấy quyền. Vô hình chung, thái độ này đã « đóng đinh » VN trên cây thánh giá XHCN từ năm 1990. Nếu không thì VN đã theo mô hình dân chủ tự do từ đó, với những người CS tiến bộ như Võ Văn Kiệt, Nguyễn Cơ Thạch, Trần Xuân Bách…).

Giả sử bây giờ Mỹ muốn giúp dân chủ VN thì cũng không biết giúp ai ? Có đảng phái, tổ chức dân chủ nào có trọng lượng hiện nay để mà Mỹ giúp ?

Việc Mỹ bán (giới hạn) vũ khí sát thuơng cho VN dầu vậy cũng để dành một cơ hội để phe dân chủ VN và những người tiến bộ trong đảng CSVN nắm bắt. Nội tình đảng CSVN phân chia ra sao, Hoa Kỳ nắm vững. Họ không hề xem VN là một nước đáng tin cậy. Bởi vì lực lượng đảng viên theo TQ vẫn chiếm đa số trong đảng.

Biến cố dàn khoan 981 trên thềm lục địa của VN đã khơi dậy lòng yêu nước nơi mọi người Việt, bất kể quá khứ cũng như lập trường chính trị. Lẽ ra, từ điểm tựa này, nếu có một « chất xúc tác » hữu hiệu, thì rất có thể lực lượng người Việt tại Hoa Kỳ có thể vận động hành lang để chính giới nước này thông qua một luật tương tự « Taiwan Relations Act ». HK sẽ ủng hộ VN, bán vũ khí để VN « tự vệ » và tranh chấp Biển Đông phải được giải quyết bằng (các phương tiện) hòa bình.

(Ta không nên đánh giá thấp tiềm năng kinh tế của lớp người Việt hải ngoại. Lớp người này gởi về VN hàng năm trên 10 tỉ đô la. Số tiền này VN có thể mua bất kỳ loại vũ khí tối tân nào của Hoa Kỳ.)
Biến cố giàn khoan 981 cũng đã tạo ra cho VN nhiều cơ hội để đạt được mục đích của mình, phía chính quyền cũng như phe dân chủ. Đáng tiếc là cơ hội đã đi qua. Phía TQ đã thấy được sai lầm của họ và đang cố gắng sửa chữa. Ngoại giao con thoi, qua lại giữa các viên chức VN và TQ gần đây cho thấy hai bên dường như đã « quên » quá khứ. Mọi việc đi vào « nề nếp » như trước. Lãnh đạo CSVN đã bỏ qua một dịp may bằng vàng để giải quyết tranh chấp Hoàng Sa (và Trường Sa) với TQ bằng phương pháp hòa bình, rất thông dụng là Tòa quốc tế. VN cũng bỏ mất dịp may để đưa vùng biển Hoàng Sa trở lại thành vùng VN có tranh chấp với TQ.

Còn phe dân chủ VN thì sao ? Bất lực vì không thể lấy hứng từ « cách mạng dù » của sinh viên học sinh Hồng Kông. Vì giáo dục của VN chỉ có khả năng đào tạo ra « con cừu » chứ không có khả năng đào tạo thành ra con người tự chủ, hữu dụng. Các cuộc cách mạng màu, cách mạng hoa hòe cũng qua đi mà dân chủ VN chỉ « ngóng », không lấy « hứng » được điều gì ! Xã hội VN nó vậy thì phải bó tay thôi.

Chỉ còn con đường của trí thức Đài Loan đã đi. Việc này tôi đã nói đi nói lại nhiều lần trong quá khứ. Trí thức VN nên học tập trí thức « đảng ngoại » của Đài Loan vào thập niên 70, 80, sinh hoạt dưới sự bảo vệ của pháp luật hiện hành, trưởng thành lên từ đó. Bối cảnh VN hôm nay khá giống với Đài Loan thập nên 80. Đài Loan cần Mỹ, cũng như VN cần Mỹ. Mỹ thỏa mãn ý nguyện của Quốc dân đảng với điều kiện dân chủ hoá chế độ. Dân chủ VN cũng có đến bằng con đường tương tự. Vấn đề là dân chủ VN chưa xây dựng được lực lượng.


Phải bắt đầu ở điểm bắt đầu thì mới có thể đi hết con đường.